Thông kê diễn đàn
» Thành viên: 176,918,   » Thành viên mưới nhất: admin,   » Chủ đề: 46,693,   » Bài viết: 420,659,  
Thống kê đầy đủ

  Chào Mào Vàng (Black-crested Bulbul)
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 12:46 PM - Diễn đàn: Thảo luận chung - Trả lời (28)

Chào Mào Vàng
Tên Tiếng Anh : Black-crested Bulbul
Danh Pháp Khoa Học : Pycnonotus melanicterus
là một Loài chim thuộc họ Chào Mào (bulbul) chim thuộc bộ Sẻ (Passeriformes). Chúng được tìm thấy ở miền nam châu Á từ Ấn Độ và đông Sri Lanka tới Indonesia.
Chim Chào Mào Vàng thường sống trong những khu rừng có nhiều bụi cây thấp rậm. Chúng làm tổ trong những bụi rậm , đẻ từ 2 đến 4 trứng. Thức ăn của chúng là trái cây và côn trùng
Loài này dài khoảng 19 cm, bao gồm cả đuôi ( đuôi tương đối dài). Lông màu ô liu và bụng màu vàng. lông trên đầu màu đen (gồm cả mào). Chim non thuờng nhạt màu hơn chim trưởng thành.
Chúng có những nét riêng biệt như mắt màu trắng xanh ( loài này có nhiều ở vùng rừng các tỉnh Tây Nguyên có khi gọi là Chào Mào Mắt Cuờm),tuy đã được coi là phân loài của Chào Mào mào đen (Black-crested Bulbul), nhưng ngày càng được coi là loài riêng biệt như: Chào Mào Họng Đỏ (Ruby-throated Bulbul) ở Sumatra và Java hầu như đều có cổ họng màu đỏ và đôi mắt hơi đỏ, Chào Mào Họng Lửa (Flame-throated Bulbul ) ở Ấn Độ hầu như có họng màu cam đỏ và đôi mắt màu trắng, Chào Mào mũ đen (Black-capped Bulbul) ở Sri Lanka hầu như có cổ họng màu vàng và đôi mắt nâu, và Chào Mào Bornean (Bornean Bulbul) ở Borneo có họng màu vàng và đôi mắt nâu. Tất cả các loài nói trên được coi là loài riêng biệt, loài Chào Mào Vàng tìm thấy từ miền đông Ấn Độ, Việt Nam tới phía nam bán đảo Malaysia đều có cổ họng và mắt màu trắng.

Chào Mào Họng Lửa (Flame-throated Bulbul )


[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/74/Pycnonotus_gularis_%28Karnataka%29.jpg"][Hình ảnh: Pycnonotus_gularis_%28Karnataka%29.jpg][/URL]

Mào mũ đen (Black-capped Bulbul)
[URL="http://www.slendemics.com/easl/birds/photo/Pycnonotus-melanicterus----Black-capped-Bulbul.jpg"][Hình ảnh: Pycnonotus-melanicterus----Black-capped-Bulbul.jpg][/URL]

Chào Mào Họng Đỏ (Ruby-throated Bulbul)
[URL="http://www.indiabirds.com/images/gallery_birds/Ruby-throated-Bulbul.jpg"][Hình ảnh: Ruby-throated-Bulbul.jpg][/URL]

Chào Mào Bornean (Bornean Bulbul)
[URL="http://farm4.static.flickr.com/3078/2597191961_8968d23525.jpg"][Hình ảnh: 2597191961_8968d23525.jpg][/URL]

In mục này

  KHƯỚU ĐẦU ĐEN MÁ XÁM (Garrulax yersini)
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 12:45 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Khướu - Trả lời (7)

KHƯỚU ĐẦU ĐEN MÁ XÁM
Tên Tiếng Anh : Collared laughingthrush
Danh Pháp Khoa Học : Garrulax yersini

Khướu Đầu Đen Má Xám (Garrulax yersini) là một loài chim trong họ Khướu (Timaliidae). Là loài chỉ có ở Việt Nam.

Họ Họa mi (danh pháp khoa học: Timaliidae) là một họ lớn của phần lớn các loài chim dạng sẻ ở Cựu thế giới. Chúng đa dạng về kích thước và màu sắc, nhưng có đặc trưng chung là bộ lông mềm và xốp như bông. Đây là các loài chim của khu vực nhiệt đới, với sự đa dạng lớn nhất ở Đông Nam Á. Loài wrentit châu Mỹ là loài kỳ bí trong thời gian gần đây đã được đặt trong họ Họa mi nhưng có lẽ nó không thuộc về họ này. Họ Họa mi là một trong hai nhóm không có quan hệ họ hàng gần chứa các loài chim mà tên gọi chung đa phần là khướu hay (họa) mi, nhóm còn lại là khướu Australasia trong họ Pomatostomidae (còn gọi là giả-khướu)

môi trường sống tự nhiên của Khướu Đầu Đen Má Xám là cận nhiệt đới hay nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm . Đây là loài đang bị đe dọa bởi mất môi trường sống

Chim trưởng thành đầu đen, tai và má có màu xám bạc. Cổ, ngực và cánh hung vàng, trừ lông bao cánh nhỏ và góc cánh tạo thành một vệt màu đen. Đuôi nâu hung vàng. Vai, lưng, bụng rên và dưới đuôi xám xanh thẫm

Đây là loài chim đặc hữu của Việt Nam , chỉ phân bổ ở Lâm Đồng và Đăk Lăk (VQG Chư Yang Sin)

[Hình ảnh: collaredlaughingthrush.jpg]

[Hình ảnh: collared_laughingthrush_hdm.jpg]

[Hình ảnh: collared_laughingthrush1990_cr.jpg]

In mục này

  Chim Ngũ Sắc (Silver-eared Mesia)
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 12:37 PM - Diễn đàn: Finch - Chim Cảnh Nhỏ - Trả lời (12)

Chim Ngũ Sắc
Tên Tiếng Anh : Silver-eared Mesia ( Kim Oanh Má Bạc )
Danh Pháp Khoa Học : Leiothrix argentauris
[Hình ảnh: 800px-Mesia3.jpg]

Loài này thuộc họ Khướu (Timaliidae), Bộ Sẽ (Passeriformes). Được tìm thấy ở Bangladesh, Bhutan, Cambodia, China, India, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, Thailand, và Viêtnam.

Chúng thường sống trong những khu rừng có nhiều bụi, lùm cây rậm. Làm tổ trong những bụi cây đẻ từ 3 đến 4 trứng. Loài này chì được tìm thấy trên độ cao từ 500 đến 2000 m. Ở Việt Nam hầu hết các vùng rừng núi Cao Nguyên đều có mặt loài chim này

Độ dài trung bình từ 16 đến 18 cm, nặng khoảng 14 đến 16g. Thức ăn chủ yếu là côn trùng và trái cây.Chúng có bộ lông gồm năm màu ( ngũ Sắc ) phối hợp rất đẹp.
[Hình ảnh: silvereared_mesia5amaleashss.jpg]
Phần lông phủ trên gốc lông đuôi có màu đỏ
[Hình ảnh: silvereared_mesia14afemaleashss.jpg]
Phần lông phủ trên gốc lông đuôi có màu vàng.

In mục này

  Các loại chim cảnh phổ biến và độc đáo
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:33 PM - Diễn đàn: Kiến Thức Chung Về Chim Rừng. - Trả lời (9)

Nguồn Sưu tầm trên Internet

Từ năm 1988 đến nay, Tổ chức Bảo tồn chim quốc tế đã tiến hành nhiều đợt khảo sát thực địa trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Kết quả đáng kể nhất của các đợt khảo sát này là phát hiện của J.C.Eames và các đồng nghiệp về ba loài chim mới cho khoa học là khướu vằn đầu đen (Actinodura sodangorum), khướu Ngọc Linh (Garrula ngoclinhhensis) và khướu Kon Ka Kinh (Garrulax konkakinhensis).

Việt Nam là một trong các nước có khu hệ chim giàu có nhất ở lục địa Đông Nam Á. Tổng số loài chim ghi nhận được ở Việt Nam dao động từ 828 đến 888 loài, trong đó một số loài đã từng được ghi nhận trước đây nay đã tuyệt chủng và một số loài mới lại được phát hiện bổ sung thêm.

Các nhà nghiên cứu về chim đã phát hiện tại Việt Nam có 72 loài chim hiện đang bị đe dọa, gần bị đe dọa tuyệt chủng ở mức độ toàn cầu, trong đó có 51 loài đã được khẳng định thường xuyên có phân bố với số lượng đáng kể ở ít nhất ở một vùng chim quan trọng của Việt Nam, số còn lại có hiện diện nhưng chưa xác định được có thường xuyên hay không.

Điều này chứng tỏ mặc dù công tác nghiên cứu về chim ở Việt Nam đã tiến hành được hơn một thế kỷ (từ 1870) với bốn giai đoạn nghiên cứu tổng thể lớn về chim, thu được nhiều kết quả, nhưng vẫn còn nhiều điều chưa biết hết cần được khám phá ở các khu hệ chim của Việt Nam.

Việt Nam đã xác định 63 vùng chim quan trọng với tổng diện tích gần 1.700.000 ha, tương đương với 5% diện tích tự nhiên của cả nước. Các vùng chim quan trọng ở Việt Nam có diện tích từ 2 đến hơn 100.000 ha mỗi vùng, nằm ở 37 trong số 61 tỉnh thành của Việt Nam. Bốn tỉnh có số vùng chim quan trọng nhiều nhất là Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai và Quảng Bình chiếm đến 19 vùng chim quan trọng và được chọn là vùng ưu tiên cho các hoạt động bảo tồn.

Trong số này,41 vùng chim quan trọng có hệ sinh thái rừng trên cạn, 8 vùng chim có hệ sinh thái nước ngọt, 14 vùng có đại diện hệ sinh thái biển và các sinh cảnh tự nhiên bao gồm bãi bùn, rừng ngập mặn và trảng cỏ biển. Tất cả các kiểu sinh cảnh rừng chính ở Việt Nam đều được đại diện đầy đủ trong các vùng chim quan trọng này bao gồm rừng thường xanh đất thấp, rừng thường xanh núi cao, rừng bán thường xanh, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi và rừng lá kim. Ngoài ra, các vùng chim quan trọng này còn có mẫu chuẩn cho kiểu rừng ven sông ít bị tác động nhất ở Việt Nam như dọc sông Kôn ở vùng chim Kon Cha Răng và dọc sông Srepôk ở vùng chim quan trọng Yôk Đôn.

Mỗi kiểu sinh cảnh rừng chính đều có những loài chim đặc trưng cho nó. Ví dụ: Kiểu sinh cảnh rừng thường xanh đất thấp với những loài chim đặc trưng như niệc nâu (Anorrhinus tickelli), Phướn đất (Carprococcyx), Khách đuôi cờ Temnurus emnurus. Kiểu rừng thường xanh trên núi đặc trưng bởi sự có mặt của loài đỗ quyên (Rhododendron sp), Rừng thường xanh trên núi đá vôi có khướu đá mun (Stachyris herbeti), khướu đá hoa (Napothera crispifrons), khướu đá đuôi ngắn (N.brevicaudata).

Toàn bộ các vùng chim quan trọng của Việt Nam được Tổ chức Bảo vệ chim quốc tế xác định nằm trong vùng điểm nóng Indo-Burma, và mới đây, Tổ chức Bảo vệ chim quốc tế và Viện Sinh thái và tài nguyên Sinh vật đã phát hành cuốn sách hướng dẫn các vùng chim quan trọng ở Việt Nam nhằm trình bày số liệu về các khu vực có tầm quan trọng quốc tế với công tác bảo tồn các loài chim và tính đa dạnh sinh học của các nhóm sinh vật khác, xác định những ưu tiên cụ thể cho hoạt động bảo tồn và khuyến khích các cơ quan của chính phủ, các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ hướng tới chúng.

Cuốn sách nêu khái quát hiện trạng môi trường sinh thái, sự hiện diện của các loài chim đặc hữu, loài chim quý hiếm của Việt nam và thế giới, thông báo các cấp độ bị đe doạ của những loài chim ở Việt Nam. Số lượng các loài chim bị đe doạ ở Việt Nam là lớn. Việt Nam có hơn 70 loài chim cần được quan tâm bảo tồn ở mức độ toàn cầu, trong đó có 3 loài bị đe doạ ở mức tối nguy cấp là Choắt lớn mỏ vàng (Tringaguttifer), Cò thìa mặt đen (Platalea minor) và Khướu đầu đen má xám (Garrulax yersini), 12 loài ở mức nguy cấp. Có 83 loài và phân loài cần được quan tâm bảo tồn ở mức quốc gia được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Sách đỏ Việt nam đã đưa vào một số loài phân bố rộng hoặc phổ biến ở các nước khác trên thế giới nhưng đang bị đe doạ ở Việt nam như Cốc đế (Phalacrorax carbo), Ác là (Pica pica).

Tổ chức Bảo vệ các loài chim quốc tế cũng vạch ra những mối đe doạ đối với các giá trị đa dạng sinh học. Đó là việc khai thác quá mức và những hành động gây mất sinh cảnh./.

http://www.vnagency.com.vn



[Hình ảnh: 20887352_images1903976_CHIM_XL.jpg]
Chích núi đá vôi (tên khoa học Phylloscopus calciatilis ), mới phát hiện vùng núi đá vôi Việt Nam và Lào. Ảnh: Ulf Johansson.


[Hình ảnh: barwing.jpg]


Violet Cuckoo - Chrysococcyx xanthorhynchus (Viet Nam)
[Hình ảnh: 3163826114_9bc5aba46b.jpg]

Black-browed Barbet - Megalaima oorti (Viet Nam)

[Hình ảnh: Black-browed%20Barbet.jpg]

In mục này

  Một loài khướu mới được phát hiện tại vùng tây nguyên việt nam
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:31 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Khướu - Trả lời (8)

Thêm một loài Khướu mới cho khoa học vừa được mô tả từ mẫu vật thu được ở vùng Tây Nguyên đã đưa số các loài chim mới được mô tả ở tây Nguyên lên 3 loài. Bản mô tả mẫu chuẩn của loài mới nhất này đã được đăng trong Tập san Chuyên đề của Câu lạc bộ Điểu học Anh quốc. Loài chim mới này được đặt tên là khướu Kon Ka Kinh Garrulax konkakinhensis được phát hiện tại vùng núi Kon Ka Kinh tỉnh Gia Lai năm 2002 trong một đợt khảo sát thu thập thông tin để xây dựng dự án đầu tư cho khu bảo tồn thiên nhiên này.
Tên khoa học của loài được đặt theo tên núi Kon Ka Kinh nhằm lôi kéo sự quan tâm chú ý đến yêu cầu bảo tồn vùng có tầm quan trọng quốc tế này.

Loài chim mới này có vẻ bên ngoài rất gần với loài Khướu cằm hung Garrulax rufogularis phân bố rộng ở vùng Himalaya và đã được phát hiện ở vùng Tây bắc Việt Nam. Khướu Kon Ka Kinh có 4 đặc điểm về bộ lông mà không có ở bất cứ miêu tả của chủng nào của loài Garrulax rufogularis. Tại Kon Ka Kinh. Khướu Kon Ka Kinh phân bố chủ yếu ở tầng thấp của rừng thường xanh trên núi tại đai độ cao khoảng 1.600m đến 1.700m so với mặt biển và rất có thể chúng cũng có phân bố tại những vùng khác ở Tây Nguyên có cùng kiểu sinh cảnh và độ cao. Những luận điểm với loài đối chứng rất gần gũi với loài mới này là Garrulax rufogularis đã được đưa ra bằng chứng cụ thể và những điểm mà loài này đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế để xác nhận một loài mới. Mức độ khác biệt của loài mới này đã vượt ra ngoài khuôn khổ những khác biệt đã thấy trong loài Garrulax rufogularis và do sự giống nhau về bộ lông của loài mới này với hai loài có quan hệ gần gũi khác, tình trạng loài sẽ phải được coi là bậc phân loại thích hợp.

Một cách đặt vấn đề khác là xác định loài mới này là một phân loài của Garrulax rufogularis sẽ làm cả hai bổ sung thêm một thứ nữa vào một loài vốn đã bao gồm rất nhiều dạng (và như vậy, ngay bản thân loài này cũng cần có sự phân chia nhỏ hơn về phân loại) và sẽ phải lờ đi những điểm tương đồng về bộ lông của loài mới này so với các loài đã nói đến ở trên.
Những tranh luận điểm giống như vậy cũng đã cung cấp lý luận để xác định tình trạng loài cho một loài cũng mới được mô tả gần đây là Khướu Ngọc Linh Garrulax ngoclinhensis.
(theo Birdlife Việt Nam)

[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/celt2a.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: celt2a.jpg][/URL]
khướu Kon Ka Kinh (Garrulax konkakinhensis)
Khướu Kon Ka Kinh (danh pháp khoa học: Garrulax konkakinhensis) là một loài chim trong họ Timaliidae. Nó được tìm thấy tại khu vực núi Kon Ka Kinh, tỉnh Kon Tum, Việt Nam nhưng cũng có thể có tại Lào. Môi trường sống tự nhiên của nó là miền núi cao nhiệt đới hay cận nhiệt đới ẩm ướt. Nó bị đe dọa do mất môi trường sống


[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/rufouschinned_lauhgingthrush2aps_copy1.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: rufouschinned_lauhgingthrush2aps_copy1.jpg][/URL]
Rufous-chinned Laughingthrush (Garrulax rufogularis occidentalis) - Adult


Khướu Ngọc Linh
[URL="http://www.birdlife.info/wbdbweb/images/speciespicture/30058.gif"][Hình ảnh: 30058.gif][/URL]
Khướu Ngọc Linh (danh pháp khoa học: Garrulax ngoclinhensis) là một loài chim trong họ Họa mi (Timaliidae). Nó là loài đặc hữu của khu vực cao nguyên Kon Tum của Việt Nam (núi Ngọc Linh và khu vực cận kề), nhưng có thể có tại khu vực Attapu và Xekong ở Lào.

Môi trường sinh sống tự nhiên của nó là các khu vực miền núi nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm ướt. Nó bị đe dọa do mất môi trường sống. Quần thể hiện tại theo IUCN ước tính chỉ khoảng 1.000-2.499 con.


12 loài chim đặc hữu, chỉ có ở Việt Nam
1.Gà so Trung bộ (Annam partridge Arborophila merlini), tìm thấy tại vườn quốc gia Bạch Mã.
2.Gà lôi lam mào trắng (Edwards’ pheasant Lophura edwardsi), Quảng Trị.
3.Khướu ngực hung (Orange-breasted laughingthrush Garrulax annamensis), cao nguyên Đà Lạt.
4.Khướu đầu đen má xám (Collared laughingthrush Garrulax yersini), cao nguyên Đà Lạt.
5. Khướu Ngọc Linh (Golden-winged laughingthrush Garrulax ngoclinhensis), cao nguyên Kontum.
6. Khướu Kon Ka Kinh hoặc khướu tai hung (Chestnut-eared laughingthrush Garrulax Konkakinhensis), đặt tên theo vườn quốc gia Kon Ka Kinh, nơi tìm ra nó, ở cao nguyên Kontum.
7. Khướu đuôi cụt (White-throated Wren Babbler Rimator pasquieri), Sa Pa.
8. Khướu đuôi dài (Pale-throated Wren Babbler Spelaeornis kinneari), Sa Pa.
9.Khướu hông đỏ (Vietnamese Cutia Cutia legallen), cao nguyên Đà Lạt.
10. Lách tách đầu đốm (Black-crowned Fulvetta Alcippe klossi), cao nguyên Đà Lạt
11.Mi Langbian, còn gọi là mi núi Bà (Grey-crowned Crocias Crocias Langbianis), cao nguyên Đà Lạt.
12. Sẻ thông họng vàng (Vietnamese Greenfinch Carduelis monguilloti), cao nguyên Đà Lạt.

( RICHARD CRAIK cung cấp)


Nguồn Sưu tầm trên Internet

In mục này

  Họ Cu cu
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:29 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Cu Gáy - Trả lời (1)

Nguồn Sưu tầm trên Internet

Họ Cu cu (danh pháp khoa học: Cuculidae) là một họ chim cận sẻ thuộc về bộ Cu cu (Cuculiformes). Bộ Cu cu này, ngoài họ Cu cu còn chứa các họ khác như họ Turaco (Musophagidae), mà đôi khi được coi là bộ riêng rẽ, gọi là Musophagiformes). Một số nhà động vật học và sinh thái học còn gộp cả gà móng (Opisthocomus hoazin), một loài chim kỳ bí ở Nam Mỹ vào trong bộ Cuculiformes, nhưng việc phân loại như vậy còn gây nhiều tranh cãi.


Họ Cu cu, bên cạnh những loài có tên gọi là cu cu hay chèo chẹo, bắt cô trói cột, còn chứa các loài có tên gọi là gà lôi đuôi dài (chi Geococcyx), tu hú (chi Eudynamys), phướn (chi Phaenicophaeus), coua (chi Coua), bìm bịp (chi Centropus) và ani (chi Crotophaga). Các loài bìm bịp và ani đôi khi được tách ra thành các họ riêng biệt, với danh pháp tương ứng là Centropodidae và Crotophagidae.

Trong quá khứ, cụm từ đỗ quyên, vay mượn từ tiếng Trung 杜鹃, được dùng để chỉ các loài chim dạng cu cu, nhưng sau này nghĩa của nó bị thay đổi và hiện nay được dùng như là từ đồng nghĩa để chỉ các loài cuốc (Amaurornis spp., Porzana spp.) trong họ Gà nước (Rallidae). Tình trạng tương tự diễn ra đối với cụm từ đỗ vũ (杜宇).

Hình thái

Các loài trong họ Cu cu là chim với kích thước khác nhau, từ nhỏ như ở tìm vịt trán trắng (Chrysococcyx minutillus), chỉ nặng 17 g và dài 15 cm (6 inch), tới lớn như cu cu mỏ cong (Scythrops novaehollandiae), cân nặng 630 g (1,4 pao) và dài 63 cm (25 inch), với thân hình mảnh dẻ, đuôi dài và chân khỏe. Chân của chúng dạng bốn ngón với hai ngón giữa hướng về phía trước và hai ngón ngoài hướng về phía sau (zygodactyly). Phần lớn các loài sống trong rừng, nhưng một số loài ưa thích các khu vực thoáng vùng nông thôn. Phần lớn ăn sâu bọ, với dạng sâu bướm nhiều lông mà phần lớn các loài chim khác thường né tránh, lại là món đặc biệt của chúng.

Các chi trong họ này khác nhau ở số lượng lông cánh chính như dưới đây.

* Phaenicophaeus, Coccyzus, Piaya - 9
* Cuculus - 9 hay 10
* Pachycoccyx, Clamator levaillantii, Centropus - 10
* Microdynamis, Eudynamys,Clamator glandarius - 11
* Một vài loài bìm bịp - 12
* Scythrops novaehollandiae - 13

Sinh sản
Con chim chích nhỏ bé này đang nuôi con non (nhưng to lớn hơn) của cu cu thường, loài cu cu được biết đến nhiều nhất.

Khoảng 56 loài chim dạng cu cu của Cựu thế giới và 3 loài Tân thế giới là chim đẻ trứng nhờ, chúng đẻ trứng trong tổ của các loài chim khác. Ví dụ tốt nhất là cu cu Á-Âu. Trứng của chúng nở sớm hơn của chim chủ và chim non của chúng cũng lớn nhanh hơn chim non của chim chủ; trong phần lớn các trường hợp con chim non này sẽ đẩy trứng hay chim non của chim chủ ra khỏi tổ. Con chim non này không có thời gian để học hành vi này, vì thế nó phải là bản năng được di truyền. Chim mẹ vẫn nuôi chim non nếu đây là con của nó, cái mỏ há của chim non đóng vai trò của tín hiệu kích thích để chim chủ cho nó ăn.

Chim mẹ của các dạng chim cu cu ký sinh (thuộc phân họ Cuculinae) chuyên biệt hóa và đẻ trứng gần giống với trứng của chim chủ mà nó lựa chọn. Điều này dường như được hỗ trợ bằng chọn lọc tự nhiên, do một số loài chim có khả năng phân biệt trứng của cu cu với trứng của chúng, làm cho những trứng ít giống với trứng của chúng sẽ bị hất ra ngoài tổ. Chim cu cu ký sinh được nhóm thành các ngành, với mỗi ngành chuyên biệt hóa trên một loại chim chủ cụ thể. Có một số chứng cứ cho thấy các ngành này là khác biệt đối với nhau về mặt di truyền.

Phần lớn các loài khác trong họ Cu cu, chẳng hạn như các loài phướn, phướn đất, coua, bìm bịp, gà lôi đuôi dài và phần lớn các loài cu cu châu Mỹ đều tự làm tổ của chúng. Phần lớn các loài chim này làm tổ trên cây hay trong bụi rậm, nhưng các loài bìm bịp đẻ trứng trong tổ ngay trên mặt đất hoặc trong các bụi rậm thấp. Mặc dù trong một số trường hợp các loài chim dạng cu cu nhưng không ký sinh vẫn ký sinh các loài chim khác, nhưng chim bố mẹ vẫn hỗ trợ việc nuôi các con non của chính chúng.

Phần lớn các loài chim dạng cu cu tự làm tổ đều có chế độ một vợ một chồng, nhưng các loài ani và cu cu Guira đẻ trứng của chúng trong các tổ chung. Hành vi của chúng không mang tính hợp tác hoàn toàn; chim mái có thể hất trứng của chim mái khác khi nó đẻ trứng của mình.

Các loài chim dạng cu cu không ký sinh, tương tự như phần lớn các loài chim không dạng sẻ khác, đẻ trứng có vỏ màu trắng, nhưng phần lớn các loài ký sinh thì đẻ trứng với vỏ có màu phù hợp với màu của trứng chim chủ thuộc bộ Sẻ của chúng.

Chim non của tất cả các loài trong họ Cu cu là chim non yếu, nghĩa là chúng không tự kiếm mồi sớm được. Các loài chim dạng cu cu không ký sinh rời tổ trước khi chúng có thể bay, và một số loài Tân thế giới có chu kỳ ấp trứng thuộc loại ngắn nhất trong số các loài chim.

Ăn uống

Phần lớn các loài trong họ Cu cu ăn sâu bọ; và cụ thể là chuyên nghiệp hóa trong việc ăn các loại sâu bọ và sâu bướm lớn, bao gồm cả những dạng nhiều lông lá khét tiếng mà các loài chim khác thường bỏ qua. Chúng là bất thường trong số các loài chim ở quá trình săn bắt mồi của chúng trước khi nuốt thức ăn, bằng cách cọ đi cọ lại chúng trên các vật cứng, như các cành cây và sau đó vò nát con mồi bằng các tấm xương đặc biệt ở cuối miệng. Chúng cũng săn bắt một khoảng rộng các loài côn trùng hay con mồi động vật khác. Các loài cu cu thằn lằn ở khu vực Caribe, do sự thiếu vắng tương đối của chim săn mồi, lại chuyên biệt hóa trong việc săn bắt các loài thằn lằn. Các loài to lớn và sống sát mặt đất hơn, như bìm bịp và gà lôi đuôi dài cũng ăn thịt rắn, thằn lằn, động vật gặm nhấm nhỏ và các loài chim khác bằng cách rỉa thịt chúng với những chiếc mỏ to khỏe của mình.

Một vài loài tu hú, coua và cu cu mỏ cong chủ yếu ăn các loại quả, nhưng chúng không chỉ ăn mỗi hoa quả. Cụ thể là các loài tu hú ký sinh và cu cu mỏ cong ăn chủ yếu là quả khi được nuôi dưỡng bởei các chim chủ ăn hoa quả, như vàng anh mắt đỏ (Sphecotheres viridis) và currawong đen trắng (Strepera graculina). Các loài khác đôi khi cũng ăn hoa quả.


Phân họ Cuculinae

Các loài cu cu đẻ trứng nhờ.

* Chi Eocuculus – hóa thạch (Hậu Eocen ở quận Teller, Hoa Kỳ)
* Chi Clamator (4 loài khát nước)
* Chi Pachycoccyx
o Cu cu mỏ dầy, Pachycoccyx audeberti
* Chi Cuculus – các loài cu cu điển hình (khoảng 15 loài cu cu, chèo chẹo, bắt cô trói cột)
* Chi Cercococcyx – cu cu đuôi dài
[URL="http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:H59D5ejq36hqOM::&t=1&usg=__cR0HpXknwnRyNJ44GLCche8f0GU="][Hình ảnh: images?q=tbn:H59D5ejq36hqOM::&t=1&usg=__...Cche8f0GU=][/URL]
o Cu cu đuôi dài tối màu, Cercococcyx mechowi
o Cu cu đuôi dài xanh ô liu, Cercococcyx olivinus
o Cu cu đuôi dài vạch sọc, Cercococcyx montanus
* Chi Cacomantis
[URL="http://www.ozanimals.com/image/albums/australia/Bird/Chestnut-breasted-cuckoo-1.jpg"][Hình ảnh: Chestnut-breasted-cuckoo-1.jpg][/URL]
o Tìm vịt vằn, Cacomantis sonneratii
o Tìm vịt, Cacomantis merulinus
o Cu cu ngực hung, Cacomantis sepulcralis
o Cu cu bụng xám, Cacomantis passerinus
o Cu cu bụi, Cacomantis variolosus
o Cu cu Moluccan, Cacomantis heinrichi
o Cu cu ngực nâu dẻ, Cacomantis castaneiventris
o Cu cu đuôi quạt, Cacomantis flabelliformis
* Chi Chrysococcyx – tìm vịt (bronze cuckoos)
[URL="http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:fd0zh5U3n4xF4M::&t=1&usg=__z7YPnNKKeX-Aj62jEV1G8XoV4-0="][Hình ảnh: images?q=tbn:fd0zh5U3n4xF4M::&t=1&usg=__...1G8XoV4-0=][/URL]
o Tìm vịt tai đen, Chrysococcyx osculans
o Tìm vịt Horsfield, Chrysococcyx basalis
o Tìm vịt sáng, Chrysococcyx lucidus
o Tìm vịt họng hung, Chrysococcyx ruficollis
o Tìm vịt tai trắng, Chrysococcyx meyeri
o Tìm vịt nhỏ, tìm vịt trán trắng, Chrysococcyx minutillus
o Tìm vịt lục bảo châu Á, tìm vịt xanh Chrysococcyx maculatus
o Tìm vịt tím, Chrysococcyx xanthorhynchus
o Tìm vịt họng vàng, Chrysococcyx flavigularis
o Tìm vịt Klaas, Chrysococcyx klaas
o Tìm vịt lục bảo châu Phi, Chrysococcyx cupreus
o Tìm vịt Dideric, Chrysococcyx caprius
* Chi Rhamphomantis
o Cu cu đuôi dài, Rhamphomantis megarhynchus
* Chi Surniculus – cu cu đen, cu cu chèo bẻo
o Cu cu đen châu Á, Surniculus lugubris
o Cu cu đen Philippine, Surniculus velutinus

Cu cu mỏ cong

* Chi Caliechthrus
o Tu hú đầu trắng, Caliechthrus leucolophus
* Chi Microdynamis
o Tu hú lùn, Microdynamis parva
* Chi Eudynamys – tu hú thật sự
o Tu hú mỏ đen, Eudynamys melanorhynchus
o Tu hú châu Á, Eudynamys scolopaceus
o Tu hú Australia, Eudynamys cyanocephalus
o Tu hú đuôi dài, Eudynamys taitensis
o Tu hú đảo Henderson, Eudynamis cf. taitensis - Chim tiền sử Hậu kỷ Đệ Tứ
* Chi Scythrops
o Cu cu mỏ cong, Scythrops novaehollandiae

Phân họ Phaenicophaeinae
Yellowbill.

Phướn, coọc và coua.

* Chi Ceuthmochares
o Chim mỏ vàng, Ceuthmochares aereus
[URL="http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:rbaPx69IYT3tBM::&t=1&usg=__r8zXfoLfi_gdwsskBgWIPim6Zrs="][Hình ảnh: images?q=tbn:rbaPx69IYT3tBM::&t=1&usg=__...WIPim6Zrs=][/URL]
* Chi Phaenicophaeus – phướn (12 loài)
* Chi Carpococcyx – phướn đất
o Phướn đất Sumatra, Carpococcyx viridis
o Phướn đất Borneo, Carpococcyx radiatus
o Phướn đất mỏ đỏ san hô, phướn đất, Carpococcyx renauldi
* Chi Coua - Coua (9 loài sinh tồn, 1 loài tuyệt chủng gần đây)

Phân họ Coccyzinae

Cu cu châu Mỹ.

* Chi Coccyzus – bao gồm cả Saurothera và Hyetornis, và có thể là khác biệt Micrococcyx (13+2 loài)
* Chi Piaya – bao gồm cả có thể là khác biệt Coccycua (2+1 loài)

Phân họ Neomorphinae

Phướn đất điển hình.

* Chi Neococcyx - hóa thạch (Tiền Oligocen ở miền trung Bắc Mỹ)
* Chi Tapera – Cu cu sọc
* Chi Dromococcyx
o Cu cu gà lôi, Dromococcyx phasianellus
o Cu cu Pavonine, Dromococcyx pavoninus
* Chi Morococcyx
o Phướn đất nhỏ, Morococcyx erythropygus
* Chi Geococcyx – gà lôi đuôi dài (2 loài)
* Chi Neomorphus
o Phướn đất vảy, Neomorphus squamiger
o Phướn đất huyệt hung, Neomorphus geoffroyi
+ Phướn đất huyệt hung Bahía, Neomorphus geoffroyi maximiliani – tuyệt chủng (giữa thế kỷ 20)
o Phướn đất dải sọc, Neomorphus radiolosus
o Phướn đất cánh hung, Neomorphus rufipennis
o Phướn đất mỏ đỏ, Neomorphus pucheranii

Phân họ Centropodinae
[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c7/Senegal_Coucal.jpg/250px-Senegal_Coucal.jpg"][Hình ảnh: 250px-Senegal_Coucal.jpg][/URL]

Bìm bịp.

* Chi Centropus (khoảng 30 loài)

Phân họ Crotophaginae

Ani.

* Chi Crotophaga – Ani thật sự (3 loài)
* Chi Guira – Cu cu Guira

Quote:
Cu Gáy Việt Nam
Tên Tiếng Anh : Spotted Dove
Danh Pháp Khoa Học : Streptopelia chinensis

[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/5b/Streptopelia_chinensis_Tas_Edit.jpg"][Hình ảnh: Streptopelia_chinensis_Tas_Edit.jpg][/URL]

Còn được gọi là Spotted Turtle Dove thuộc họ Bồ Câu (Columbidae) là một loại Bồ Câu (pigeon) mà cư dân thường nuôi trong vùng Nhiệt Đới miền Nam Chấu Á từ Pakistan, Ấn Độ, đông Sri Lanka tới phía nam Trung Quốc và Đông Nam Á. Nó cũng được biết đến như là Bồ Câu Trung Quốc(Chinese Dove),Bồ Câu Núi (Dove Mountain), hoặc Bồ Câu Cổ Cườm(Lace-necked Dove). Người nuôi chim ở Việt Nam thường gọi là Cu Cườm hoặc Cu Gáy

Lace-necked Dove (Ấn Độ)
[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/2b/Spotted_Dove_Ic4-_Kolkata-_preening_%26_sunning.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Spotted_Dove_Ic4-_Kolkata-_preening_%26_sunning.jpg][/URL]

Lace-necked Dove hoặc Chinese Dove
[URL="http://www.explorebiodiversity.com/Hawaii/BIRDS/KenBridgesPhotos/IMG_1229b2t.jpg"]
Nguồn Sưu tầm trên Internet[/URL]
[URL="http://www.explorebiodiversity.com/Hawaii/BIRDS/KenBridgesPhotos/IMG_1229b2t.jpg"][Hình ảnh: IMG_1229b2t.jpg][/URL]

In mục này

  Chim Tiểu Mi
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:27 PM - Diễn đàn: Các vấn đề chung về Tiểu Mi - Trả lời (20)

Nguồn Sưu tầm trên Internet
Tên Khoa Học: Malacopteron
Tên Việt Nam: Chuối Tiêu
Tên Địa Phương: Tiểu Mi
Chim Tiểu Mi có mặt nhiều nơi trên Thế Giới, ở Việt Nam chúng phân bố ở vùng nam,tây nam, Tây Nguyên nhưng càng về những vùng có khí hậu nóng thì càng thưa dấn.

Sở dĩ các bạn nuôi chim ở DaLat đặt cho nó cái tên Tiểu Mi,vì giọng hót của nó cũng tràm bổng, lảnh lót giống như chim Họa Mi, do kích thước nhỏ bé nên gọi là Tiểu Mi.
Đa số các bạn nuôi chim Tiểu Mi mà không sống ở DaLat thành công không nhiều lắm,do không nắm rõ về sinh thái của chúng .Thực ra chim Tiểu Mi rât dễ nuôi hót, thức ăn của chúng cũng không cầu kỳ lắm, nếu chúng ta biết một số bí quyết của chúng thì sẽ mang lại thành công rất dể dàng...
1/Cách chọn chim:
Bạn muốn lựa cho mình một chú chim Bổi vừa ý va 2 có triển vọng thì nhìn mặt chim phải có nét dữ, ngực nở, cặp chân không cao lắm, trên ngực có màu trắng điểm những chấm nâu đen, cặp mắt màu nâu đỏ. Nếu muốn chim có giọng hót hay thì phải kiếm những con sống sâu trong rừng già, vì bản năng của chúng đã học được ở đó giọng của nhiều loại chim khác.
Những người mới nuôi Tiểu Mi nên chọn cặp ogirinal, nghĩa là cặp trống mái bắt được cả hai ở ngoài rừng, nhưng khi mang về nuôi chung khoảng một tuần thì tách ra mỗi con một lồng, rồi treo cách xa khoảng 10 dến 20m không cho chúng thấy mặt nhau, khi một trong hai con cất tiếng hót và nhận ra iếng hót của nhau thì chủng củng hòa nhau cất tiếng hót.... Trống hót còn mái chép ( từ để gọi tiếng hót của Tiểu Mi mái ) theo hịp điệu rất hài hòa. Nhưng thường cặp rin (ogirinal) ít khi hay được cả hai, theo nhiều người có kinh nghiệm thì họ nuôi cặp ghép, sự thành công sẽ được cả hai
2/thức ăn chim Tiểu Mi:
Tiểu Mi là loài chim ngoài thiên nhiên chúng ăn sâu bọ côn trùng nên khi nuôi ta nên giữ cho chúng khẩu phần ăn chủ yếu la Sâu Gạo còn cám thì cũng giống như những loài chích chòe la được hoặc tốt nhất là con Nhện.
3/Phân biệt và đánh giá giá trị của chim:
Trong số những người nuôi chim Tiểu Mi họ phân ra làm hai giọng, giọng hót và giọng đấu nhưng giọng đấu mới là giọng được ưa chuộng. Giá trị cả chim Tiểu Mi cũng phân ra làm 3 loại :
a/Loại chim chỉ hót một mình mà không đấu với chim khác được.
b/Loại chim có thể vừa hót vừa đấu được nhưng lại quen cội (sân nhà).
c/Loại chim mang đi bất cứ chỗ nào cũng có thể đấu được (loại này rất hiếm)có giá trị cao nhất.
4/Kinh nghiệm chia sẽ
Chim Tiểu Mi là loài thích sống trong những bụi rậm,và dưới tán rừng, địa bàn sinh sống không rộng lắm nên khi mang về nhà nuôi, chúng rất dễ bị quen cội, khi uôi trong lồng ta nên thay đổi nhiều vị tri khác nhau, mỗi buổi sáng chỉ cần phơi nắng 1 giờ là đủ. Có thể nuôi nhiều con trống nhưng chim mái chỉ cần một đến hai con là đủ. Đã nhiều lần tôi thấy một số người đi dợt chim Tiểu Mi mà treo chim trên cao giống như dợt chim khoen thì lây gì mà chim hót ...Tốt nhất là để cặp chim đấu với nhau trong nhà , hoặc một góc sân vườn có cây cối ,tạo cho chúng một không gian phù hợp như vậy chim sẽ mở miệng hót và đấu với nhau/
Trên đây là những kinh nghiệm chia sẽ cùng với các bạn yêu thích chim Tiểu Mi mong rằng sẽ mang lại những thành công nhất định cho các bạn


[URL="http://img518.imageshack.us/img518/7170/img0031spotthroatedbabbuj7.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: img0031spotthroatedbabbuj7.jpg][/URL]

In mục này

  Chim Tiểu Lửa (Mugimaki Flycatcher)
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:25 PM - Diễn đàn: Kiến thức chung về CCL - Trả lời (55)

Nguồn Sưu tầm trên Internet

Chim Tiểu Lửa
[I]Tên Tiếng Anh : Mugimaki Flycatcher
Danh Pháp Khoa Học[/I] : Ficedula mugimaki

[URL="http://www.tropicalbirding.com/images/australiayasia/chinatibet/beidaihe/beidaihe1.jpg"][Hình ảnh: beidaihe1.jpg][/URL]

Mugimaki Flycatcher (Ficedula mugimaki) là một loài chim thuộc bộ Sẻ (Passeriformes) của miền đông châu Á thuộc chi Ficedula trong họ Đớp ruồi (Muscicapidae) Cựu Thế Giới (Old World), Cái tên "mugimaki" xuất phát từ Nhật Bản và có nghĩa là "wheat-sower" ( Lúa Mì - Gieo Giống... !!!!!!). Chúng còn được goi là Đớp ruồi Robin.

Độ dài trung bình của loài nảy từ 13 đến 13,5 cm. Chim trống thường có màu lông đen tuyền phần trên lưng , cánh và đầu. Hai bên cánh và đuôi có vệt trắng kéo dài.Trên mí mắt cũng có hai viền trắng. Phần ngực và bụng có màu hung đỏ. Trong khi đó chim mái lại có màu xám nhạt thay vi màu đen. Phần bụng lại có màu trắng xám thay vì màu đỏ hung

Thức ăn của loài này chủ yếu là côn trùng trong những tán cây

Chúng thuộc lài chim di cư. Ở Việt Nam chúng chỉ xuất hiện vào mùa đông từ khoảng tháng 11 đến tháng 4

Ngoài Thiên Nhiên

[YOUTB]http://www.youtube.com/watch?v=4v3idfmZfeU&feature=player_embedded[/YOUTB]

Chim Trống
[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/mugimakiflycatcherm31oct_mpw.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: mugimakiflycatcherm31oct_mpw.jpg][/URL]

Chim Mái

[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/mugimakiflyf126oct08.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: mugimakiflyf126oct08.jpg][/URL]

In mục này

  Chim Tứ Sắc (Heterophasia annectens)
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:24 PM - Diễn đàn: Finch - Chim Cảnh Nhỏ - Trả lời (11)

Chim Tứ Sắc
Tên tiếng Anh : Rufous-backed Sibia
Danh Pháp Khoa Học : Heterophasia annectens
[Hình ảnh: rufousbacked_sibia_hdm.jpg]
Photographer : © Hung Do Manh
Location : Tanung Dalat, Vietnam


Chim Tứ Sắc (Heterophasia annectens) là một loài chim trong họ Họa Mi (Timaliidae). Nó được tìm thấy tại Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Thái Lan, và Việt Nam. môi trường sống tự nhiên của nó là cận nhiệt đới hay rừng nhiệt đới vùng đất thấp ẩm

Loại này có nhiều ở vùng rừng dalat hình dáng tương tự như chim Mi Lang Biang nên nhiều ngưởi bị nhầm lẫn khi thấy chúng ngoài thiên nhiên
[Hình ảnh: rufousbacked_sibia6401mm.jpg]

[Hình ảnh: rufousbacked_sibia0_sct.jpg]

Người nuôi chim ở Đà Lạt gọi là Chim Tứ Sắc
Rufous-backed Sibia - Mi Lưng Hung ( nâu )


Phân Loài

* Rufous-backed Sibia, Heterophasia annectens – sometimes in Leioptila
[Hình ảnh: rufousbacked.jpg]
* White-eared Sibia, Heterophasia auricularis – sometimes in Malacias

[Hình ảnh: wesibia4_je.jpg]
* Rufous Sibia, Heterophasia capistrata – sometimes in Malacias
[Hình ảnh: rufous_sibia_0222.jpg]
* Grey Sibia, Heterophasia gracilis – sometimes in Malacias
[Hình ảnh: grey_sibia_copy1.jpg]
* Dark-backed Sibia, Heterophasia melanoleuca – sometimes in Malacias
[Hình ảnh: blackheaded_sibia_mg.jpg]
* Black-headed Sibia or Desgodin's Sibia, Heterophasia desgodinsi – sometimes in Malacias, formerly included in H. melanoleuca
[Hình ảnh: darkheadsibia.jpg]
* Long-tailed Sibia, Heterophasia picaoides
[Hình ảnh: longtailed_sibia_0678.jpg]
* Beautiful Sibia, Heterophasia pulchella – sometimes in Malacias
[Hình ảnh: 1125_jw1_514801.jpg]

In mục này

  Chim Khướu Hông Đỏ ( Bông Cúc )
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:23 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Khướu - Trả lời (1)

Nguồn Sưu tầm trên Internet

Khướu Hông Đỏ là một Chi Cutia trong họ Họa Mi (Timaliidae). Loai này được tìm thấy ở vùng rừng núi phía Nam và Đông Nam Á. Tên Cutia bắt nguồn từ tiếng Nepal goi là khatya hay khutya

Trước đây Chi này chỉ xếp một loải duy nhất la C. nipalensis. Tuy nhiên gần đây lại chia làm Hai Loại :
1/ Himalayan Cutia, Cutia nipalensis
2/ Vietnamese Cutia, Cutia legalleni


Himalayan Cutia
Himalayan Cutia Danh Pháp Khoa Hoc là Cutia nipalensis. Loài này sinh sống trong khu vực Himalaya, từ Ấn Độ tới miền bắc Thái Lan. Thỉnh thoảng cũng được tìm thấy tại bán đảo Malaysia

Môi trường sống tự nhiên của chúng là các khu rừng tán rộng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm ướt có độ cao từ 1.500m trở lên. Nhưng lại rất hiếm khi thấy loài này ở trên độ cao 2.500m

Himalayan Cutia, Cutia nipalensis
[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/cutiamalers.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: cutiamalers.jpg][/URL]


Vietnamese Cutia
Được tìm thấy ở Lào và Việt Nam. Môi trường sống cũng giống Himalayan Cutia. Loài này có nhiều trên vùng Cao Nguyên Lâm Đồng

Vietnamese Cutia, Cutia legalleni
[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/vietnamese_cutia_f_ydl.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: vietnamese_cutia_f_ydl.jpg][/URL]

Người nuôi chim ở Dalat gọi loài chim này là chim Bông Cúc

In mục này


Thành viên đang trực tuyến
Hiên tại có 348 thành viên đang trực tuyến » 0 Thành viên | 345 Khách
Baidu, Bing, Google

Mã nguồn bởi MyBB, © 2002-2026 Tài Trợ Bởi Thamdinh.com.vn.