Thông kê diễn đàn
» Thành viên: 176,918,   » Thành viên mưới nhất: admin,   » Chủ đề: 46,693,   » Bài viết: 420,659,  
Thống kê đầy đủ

  Họ Họa Mi
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:37 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Họa Mi - Trả lời (4)

Họ Họa mi (danh pháp khoa học: Timaliidae) là một họ lớn của phần lớn các loài chim dạng sẻ ở Cựu thế giới. Chúng đa dạng về kích thước và màu sắc, nhưng có đặc trưng chung là bộ lông mềm và xốp như bông. Đây là các loài chim của khu vực nhiệt đới, với sự đa dạng lớn nhất ở Đông Nam Á. Loài wrentit châu Mỹ là loài kỳ bí trong thời gian gần đây đã được đặt trong họ Họa mi nhưng có lẽ nó không thuộc về họ này. Họ Họa mi là một trong hai nhóm không có quan hệ họ hàng gần chứa các loài chim mà tên gọi chung đa phần là khướu hay (họa) mi, nhóm còn lại là khướu Australasia trong họ Pomatostomidae (còn gọi là giả-khướu).

[URL="http://muare1.vcmedia.vn/images/57/Hoa%20mi_1274667654.jpg"][Hình ảnh: Hoa%20mi_1274667654.jpg][/URL]

Những loài chim này có chân khỏe, và nhiều loài sống hoàn toàn trên mặt đất. Nhóm này không là chim di trú rõ nét và phần lớn các loài có cánh ngắn, thuôn tròn, bay yếu. Sự đa dạng hình thái khá cao; phần lớn các loài tương tự như chích, giẻ cùi hay hoét. Nhóm này nằm trong số các họ chim Cựu thế giới với nhiều loài vẫn còn được phát hiện ra gần đây.

[URL="http://farm4.static.flickr.com/3431/3774277305_ef6f2a099c.jpg"][Hình ảnh: 3774277305_ef6f2a099c.jpg][/URL]
Hall's Babbler, Pomatostomus halli

Hệ thống

Hệ thống hóa của họa mi Cựu thế giới từ lâu đã có vấn đề.Trong phần lớn thế kỷ 20, họ này được sử dụng như là "đơn vị phân loại thùng rác" cho nhiều loài chim biết hót của Cựu thế giới nhưng khó xếp loại (chẳng hạn như Picathartidae hay wrentit). Ernst Hartert khi tổng kết điều này đã chỉ nửa đùa khi phát biểu rằng trong bộ Sẻ thì

"Was man nicht unterbringen kann, sieht man als Timalien an." (Điều mà người ta không thể xếp đặt có hệ thống chính là họ Timaliidae)

Các đợn vị phân loại bị xếp nhầm chỗ rõ ràng nhất đã được di chuyển dần dần trong giai đoạn cuối thế kỷ 20.

[URL="http://farm1.static.flickr.com/69/209766713_db46c857a8.jpg"][Hình ảnh: 209766713_db46c857a8.jpg][/URL]

Kể từ đó, với sự hỗ trợ của các dữ liệu trình tự DNA, người ta đã xác nhận rằng thậm chí cả phần còn lại cũng không là đơn ngành. Phân tích các dữ liệu mtDNA cytochrome b và 12S/16S rRNA trong khoảng rộng họ Timaliidae được nghiên cứu xuyên suốt những gì thực chất đã không thể giải quyết tốt sự đa phân giữa chích Cựu thế giới và vành khuyên. Do chim dạng chích điển hình (chi Sylvia) đã gộp nhóm cùng với một số chi được coi là thuộc họ Timaliidae (chẳng hạn như lách tách), người ta gợi ý rằng một vài chi/loài trong họ Sylviidae nên được chuyển sang họ Timaliidae.

[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/d4/Chrysomma_sinense.jpg"][Hình ảnh: Chrysomma_sinense.jpg][/URL]
Họa mi mắt vàng (Chrysomma sinense) là họ hàng gần gũi hơn với các loài chích điển hình.

Do điều này có thể gộp cả chi điển hình của họ Sylviidae nên nó có thể dẫn tới vấn đề về danh pháp đòi hỏi cần có sự can thiệp của ICZN và một điều vào thời gian đó chưa nhận thức được là trong bất kỳ trường hợp nào, do phát sinh loài của phần còn lại trong các dạng chích Cựu thế giới (Sylviidae) cũng chưa được giải quyết trọn vẹn. Vấn đề với cách tiếp cận như thế có thể — do nhiều loài chích Cựu thế giới vẫn chưa được nghiên cứu với các kết quả mới trong tiềm thức và có nhiều loài chim có lẽ thuộc họ Timaliidae — là quá rủi ro để tạo ra các nhánh cấp họ được định nghĩa tồi nhưng lại chứa quá nhiều loài; kết quả là cách tiếp cận này dường như phải ngừng lại trong một khoảng thời gian cần thiết để sắp xếp lại một cách tổng thể siêu họ Sylvioidea.

Alström và ctv. (2006) ủng hộ đề xuất phân loại của Cibois"nếu như họ Timaliidae và một vài nhóm khác chứa chim dạng chích được công nhận ở cùng cấp độ họ" nhưng tất nhiên không cần thiết trong việc hợp nhất chúng để đạt được tính đơn ngành trong cả hai. Đáng chú ý là một trong số ít các kết luận ở cấp độ trên cấp chi nhận được sự ủng hộ mạnh trong Cibois là tính khác biệt của chi Sylvia và các loài "họa mi" có quan hệ họ hàng trong họ Timaliidae nghĩa hẹp (sensu stricto). Vì thế, đối với giai đoạn hiện thời, tốt nhất có lẽ nên duy trì hai họ Sylviidae và Timaliidae như là các nhóm phân loại khác biệt và chỉ cần chia tách hay di chuyển các chi khi cần thiết để đạt được tính đơn ngành.

Khướu mỏ dẹt (Paradoxornis spp.) là các loài chim hơi giống như sẻ ngô (họ Paridae) mà trong quá khứ đã từng được di chuyển lòng vòng giữa các họ Timaliidae, Paridae cũng như tách ra thành họ riêng của chính chúng (dưới tên gọi Paradoxornithidae - một cách đúng nghĩa đen là "các loài chim gây bối rối"). Một điều chắc chắn là chúng không phải một họ khác biệt mà có lẽ đúng hơn thì chúng thuộc về nhánh Sylvia

Các mối quan hệ của các loài chim dạng vành khuyên (hiện tại là họ Zosteropidae) hiện nay vẫn chưa được giải quyết. Dựa trên các chuỗi dữ liệu nDNA RAG-1 và c-mos; Barker và ctv. (2002) phát hiện thấy rằng có lẽ chính xác nhất thì nên gộp chúng gần với họ Timaliidae hơn là với chi Sylvia và đồng minh, giống như điều mà Cibois đã thực hiện. Các dữ liệu tổ hợp từ các chuỗi nDNA c-myc exon 3, RAG-1 và myoglobin intron 2 với các dữ liệu từ mtDNA cytochrome b hỗ trợ kịch bản của họ cũng giống như kết quả của việc nghiên cứu lại có sử dụng các chuỗi dữ liệu myoglobin intron 2 và cytochrome b của khoảng các đơn vị phân loại rộng hơn (dù mật độ không dày dặc hơn)

Ngược lại, lai ghép ADN-ADN đặt vành khuyên gần với chi Sylvia hơn. Tuy nhiên, phương pháp này hiện tại bị coi là kém tin cậy hơn so với các trình tự ADN dài và đa dạng. Tuy thế, vẫn cần lưu ý rằng chưa có nghiên cứu ở mức phân tử nào đủ rộng lớn để giải quyết các mối quan hệ của nhóm vành khuyên với độ tin cậy thích hợp ngoài điều thực tế nhỏ nhoi rằng chúng tạo thành một nhánh với "phần cốt lõi" của cả hai họ Sylviidae và Timaliidae. Trong tổ hợp này, rất có thể chúng tạo thành một dòng dõi đơn ngành với khướu mào (Yuhina spp.) (và có thể là các dạng "họa mi" khác). Kết quả là nếu Zosteropidae vẫn được duy trì như là một họ thì chúng nên được di chuyển sang đó.

Ngoài ra, các nghiên cứu mới đã chỉ ra rằng một vài chi (như Garrulax (khướu) và Fulvetta (lách tách)) cũng không là đơn ngành và cần thiết phải chia tách

Timaliidae nghĩa hẹp

[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/b4/Red-billed_Leiothrix.jpg/800px-Red-billed_Leiothrix.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: 800px-Red-billed_Leiothrix.jpg][/URL]
Kim oanh mỏ đỏ (Leiothrix lutea)

Các chi này cần được giữ lại trong họ Timaliidae trong bất kì tình huống nào; một trong số này di chuyển từ họ Sylviidae sang. Chúng tạo thành một vài nhánh được hỗ trợ khá tốt và nhiều chi với các mối quan hệ hoàn toàn chưa được giải quyết (ở đây gọi là "tổ hợp"):

[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/50/Turdoides_sharpei1.jpg/523px-Turdoides_sharpei1.jpg"][Hình ảnh: 523px-Turdoides_sharpei1.jpg][/URL]

Khướu mày đen châu Phi (Turdoides melanops) ở châu Phi có thể là hơn một loài, trong trường hợp đó con chim này là T. sharpei.

* Nhánh Liocichla và đồng minh
o Chi Liocichla – (4 loài khướu, trong đó có khướu mặt đỏ)
o Chi Actinodura – khướu vằn (7 loài)
o Chi Minla – khướu lùn (1 loài)
+ Khướu lùn đuôi đỏ, Minla ignotincta
o Chi Chrysominla (1 loài)
+ Khướu lùn đuôi hạt dẻ, Chrysominla strigula
o Chi Siva
+ Khướu lùn cánh lam (siva) Siva cyanouroptera
o Chi Leiothrix – kim oanh (hay tương tư) (2 loài)
o Chi Heterophasia – mi (8 loài mi hay khướu lùn)

* Tổ hợp Khướu

[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/68/A03_2880_640x427.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: A03_2880_640x427.jpg][/URL]
Khướu mào trắng (Garrulax leucolophus)
*
o Chi Alcippe – lách tách (đặt vào đây không chắc chắn)
+ Lách tách má xám, Alcippe morrisonia (đa ngành?)
+ Lách tách núi, Alcippe peracensis (cận ngành?)
+ Lách tách nâu, Alcippe brunneicauda
+ Lách tách trán đen, Alcippe grotei – trước đây trong A. peracensis
+ Lách tách má nâu, Alcippe poioicephala

[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/7d/Pellor_capist_061116_1248_ltn.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Pellor_capist_061116_1248_ltn.jpg][/URL]
Chuối tiêu chỏm đen (Pellorneum capistratum)

+ Lách tách Java, Alcippe pyrrhoptera – đặt vào đây không chắc chắn
+ Lách tách Nepal, Alcippe nipalensis – đặt vào đây không chắc chắn
o Chi Cutia - khướu hông đỏ
+ Khướu hông đỏ, Cutia nipalensis
o Chi Turdoides (27 loài)
o Chi Garrulax – khướu (trước đây khoảng 50 loài). Đa ngành, bao gồm khoảng 11 chi, cụ thể xem bài Garrulax.
o Chi Babax – thảo mi (3 loài)

[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/e9/Wrentit.jpg/800px-Wrentit.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: 800px-Wrentit.jpg][/URL] *
Các mối quan hệ của wrentit là khó hiểu. Nó có thể có quan hệ họ hàng với chim chích điển hình.

o Chi Babax – thảo mi (3 loài)
* Tổ hợp Pellorneum – Napothera (7 loài)



* Chi Pellorneum (7 loài chim chuối tiêu)- có thể đa ngành
* Chi Kenopia
o Khướu vằn, Kenopia striata
* Chi Malacopteron – chim chuối tiêu (6 loài)
* Chi Schoeniparus – lách tách không điển hình, trước đây trong chi Alcippe.
o Lách tách họng hung, Schoeniparus rufogularis
o Lách tách tối màu, Schoeniparus brunnea
o Lách tách chóp bạc màu, Schoeniparus dubia
* Chi Pseudominla – lách tách không điển hình, trước đây trong chi Alcippe.
o Lách tách cánh hung, Pseudominla castaneceps
o Lách tách họng vàng, Pseudominla cinerea
o Lách tách ngực vàng kim, Pseudominla variegaticeps – đặt vào đây không chắc chắn
* Chi Gampsorhynchus
o Khướu mỏ quặp mào trắng hay khướu đuôi dài, Gampsorhynchus rufulus
* Chi Malacocincla (5 loài chuối tiêu còn sinh tồn)
o Chuối tiêu Vanderbilt, Malacocincla sepiarium vanderbilti – tuyệt chủng? (cuối thế kỷ 20?)



* Chi Napothera – khướu đá không điển hình (cận ngành). Đôi khi bị chia thành vài chi.
o Khướu đá lớn, Napothera macrodactyla (Turdinus macrodactyla)
o Khướu đá lớn Java, Napothera macrodactyla lepidopleura (Turdinus macrodactyla lepidopleura) – tuyệt chủng? (giữa thế kỷ 20?)
o Khướu đá ngực phai, Napothera rufipectus (Turdinus rufipectus)
o Khướu đá họng đen, Napothera atrigularis (Turdinus atrigularis)
o Khướu đá cẩm thạch, Napothera marmorata (Turdinus marmorata)
o Khướu đá vôi, Napothera crispifrons (Gypsophila crispifrons)
o Khướu đá đuôi cụt hay khướu đá sọc, Napothera brevicaudata
o Khướu đá núi, Napothera crassa
o Khướu đá lông mày, Napothera epilepidota
o Khướu đá Luzon, Napothera rabori (Robsonius rabori)

* Chi Jabouilleia – họa mi không điển hình (2 loài)

* Chi Graminicola – trước đây trong họ Sylviidae, đặt vào đây không chắc chắn
o Chích đuôi dài phao câu hung hay chích đuôi dài, Graminicola bengalensis


Nhánh Timaliine

* Chi Pomatorhinus – họa mi đất (9 loài)
* Chi Xiphirhynchus – khướu mỏ cong
* Chi Stachyris (đa ngành)
* Nhóm Stachyris
o Khướu bụi đầu đen, Stachyris nigriceps



* Chưa giải quyết
o Khướu bụi đầu hung, Stachyris ambigua
o Khướu bụi ngực trắng, Stachyris grammiceps
o Khướu đá mun, Stachyris herberti
o Khướu bụi đầu xám, Stachyris poliocephala
o Khướu bụi đốm Austen, Stachyris oglei
o Khướu bụi đốm đỏ, Stachyris striolata
o Khướu bụi cổ trắng, Stachyris leucotis
o Khướu bụi họng đen, Stachyris nigricollis
o Khướu bụi yếm trắng, Stachyris thoracica
o Khướu bụi phao câu hung, Stachyris maculata
o Khướu bụi cánh hung, Stachyris erythroptera
o Khướu bụi ngực lưỡi liềm, Stachyris melanothorax

* Chi Stachyridopsis
o Khướu bụi trán hung, Stachyridopsis rufifrons
+ Khướu bụi Deignan, Stachyridopsis rufifrons rodolphei
o Khướu bụi đầu đỏ, Stachyridopsis ruficeps
o Khướu bụi vàng, Stachyridopsis chrysaea
o Khướu bụi cằm đen, Stachyridopsis pyrrhops

* Chi Spelaeornis (6 loài) – khướu đất điển hình
* Chi Sphenocichla
o Khướu mỏ nêm, Sphenocichla humei
* Chi Macronous – chích chạch (5 loài)
* Chi Timalia
o Họa mi mào hung, Timalia pileata

Nhánh Vành khuyên

Nếu như các loài vành khuyên được duy trì như là họ Zosteropidae tách biệt thì nhóm này sẽ cần bao gồm các chi sau:

* Chi Yuhina – khướu mào – 8 loài, (phát hiện ra là đa ngành và hiện nay tách thành 5 chi)
* Chi Staphida
o Khướu mào vằn, Staphida castaniceps
o Khướu mào cổ hung, Staphida torqueola
o Khướu mào ngực hung, Staphida everetti

* Chi Dasycrotapha – trước đây trong chi Stachyris; đặt vào đây không chắc chắn
o Khướu bụi lửa, Dasycrotapha speciosa

* Chi Sterrhoptilus – trước đây trong chi Stachyris; đặt vào đây không chắc chắn
o Khướu bụi lùn Mindanao (hay Yuhina), Sterrhoptilus plateni
o Khướu bụi lùn Visaya (hay Yuhina), Sterrhoptilus pygmaeus
o Khướu bụi mào vàng (hay Yuhina), Sterrhoptilus dennistouni
o Khướu bụi mào đen (hay Yuhina), Sterrhoptilus nigrocapitata
o Khướu bụi chóp phai (hay Yuhina), Sterrhoptilus capitalis

* Chi Zosterornis – trước đây trong chi Stachyris; đặt vào đây không chắc chắn
o Khướu bụi mặt hung (hay Yuhina), Zosterornis whiteheadi
o Khướu bụi vằn Luzon (hay Yuhina), Zosterornis striatus
o Khướu bụi vằn Panay (hay Yuhina), Zosterornis latistriatus
o Khướu bụi vằn Negros (hay Yuhina), Zosterornis nigrorum
o Khướu bụi vằn Palawan (hay Yuhina), Zosterornis hypogrammicus

Nhánh Sylviid


Cũng gồm cả khướu mỏ dẹt. Nếu như họ Sylviidae được duy trì như là họ khác biệt thì nhóm này cần bao gồm cả:

* Chi Pseudoalcippe
o Lách tách châu Phi, Pseudoalcippe abyssinica – trước đây trong chi Illadopsis
* Chi Lioparus – trước đây trong chi Alcippe
o Lách tách ngực vàng, Lioparus chrysotis
* Chi Fulvetta – lách tách điển hình, trước đây trong chi Alcippe
o Lách tách bốn mắt, Fulvetta ruficapilla
o Lách tách Trung Hoa, Fulvetta striaticollis
o Lách tách mày trắng, Fulvetta vinipectus
o Lách tách họng sọc, Fulvetta cinereiceps (có thể đa ngành)
o Lách tách Ludlow, Fulvetta ludlowi – đặt vào đây không chắc chắn
* Chi Chrysomma – 3 loài
* Chi Chamaea – wrentit

Các chi incertae sedis


Các mối quan hệ vẫn chưa được giải quyết; có thể thuộc mà cũng có thể không thuộc họ Timaliidae nghĩa hẹp (sensu stricto).

* Chi Crocias – 2 loài mi (tổ hợp Khướu?)
* Chi Micromacronus (nhánh timaliine?)
o Chích chạch nhỏ, Micromacronus leytensis
* Chi Trichastoma – 7 loài



* Chi Rimator
o Khướu mỏ dài, Rimator malacoptilus
* Chi Ptilocichla – 3 loài khướu
* Chi Pnoepyga – 3 loài khướu đất
* Chi Dumetia – khướu bụng vàng nâu
* Chi Rhopocichla – khướu ngực sẫm
* Chi Myzornis
o Myzornis pyrrhoura
* Chi Malia
* Chi Lioptilus – có thể liên quan tới Sylvia
o Mũ đen bụi, Lioptilus nigricapillus
* Chi Parophasma – có thể liên quan tới Sylvia
o Chim mèo Abyssinia, Parophasma galinieri
* Chi Kupeornis – 3 loài khướu núi. Có lẽ liên quan tới Phyllanthus
* Chi Phyllanthus
o Babbler Capuchin, Phyllanthus atripennis
* Chi Ptyrticus – có thể liên quan tới Illadopsis
o Ptyrticus turdinus
* Chi Horizorhinus – quan hệ không chắc chắn
o Horizorhinus dohrni

Trước đây đặt trong họ

Các chi mà mối quan hệ của chúng hiện nay đã biết là nằm hoàn toàn ngoài họ Timaliidae, không phụ thuộc vào việc họ này bị giới hạn như thế nào.

Phần khác trong siêu họ Sylvioidea

Dòng dõi cơ sở của chim chích dạng chiền chiện, họ Cisticolidae

* Chi Neomixis – jery
o Jery thường, Neomixis tenella
o Jery lục, Neomixis viridis
o Jery họng vằn, Neomixis striatigula

Thuộc về nhánh chưa đặt tên chích Malagasy ("Bernieridae"); xem Cibois (2001)

* Chi Hartertula – trước đây trong chi Neomixis
o Jery đuôi nêm, Hartertula flavoviridis
* Chi Crossleyia
o Oxylabes mày vàng, Crossleyia xanthophrys
* Chi Oxylabes
o Oxylabes họng trắng, Oxylabes madagascariensis

Nhóm khác của cận bộ Passerida

Thuộc về nhóm chim đường (họ Promeropidae ở châu Phi)

* Chi Arcanator – đôi khi gộp trong chi Modulatrix
o Họng lốm đốm, Arcanator orostruthus
* Chi Modulatrix
o Họng đốm, Modulatrix stictigula

Tiểu bộ Corvida

Dường như có liên quan tới vireo (họ Vireonidae ở Tân thế giới)

* Chi Erpornis
o Khướu mào bụng trắng, Erpornis zantholeuca – trước đây trong chi Yuhina [

Thuộc về nhóm vireo

* Chi Pteruthius – khướu mỏ quặp
o Khướu mỏ quặp bụng hung hay khướu mỏ quặp đầu đen, Pteruthius rufiventer
o Khướu mỏ quặp trán trắng, Pteruthius flaviscapis
o Khướu mỏ quặp lục, Pteruthius xanthochlorus
o Khướu mỏ quặp tai đen, Pteruthius melanotis
o Khướu mỏ quặp ngực hung, Pteruthius aenobarbus
Thuộc về nhóm vanga (họ Vangidae ở Madagascar)

* Chi Mystacornis
o Khướu vanga Crossley, Mystacornis crossleyi

Incertae sedis

* Chi Kakamega– quan hệ không chắc chắn. Có thể thuộc về các loài hoét hay chim đường.
o Kakamega ngực xám hay "Illadopsis" ngực xám, Kakamega poliothorax


Nhánh Timaliine

* Chi Pomatorhinus – họa mi đất (9 loài)
* Chi Xiphirhynchus – khướu mỏ cong
* Chi Stachyris (đa ngành)
* Nhóm Stachyris
o Khướu bụi đầu đen, Stachyris nigriceps



* Chưa giải quyết
o Khướu bụi đầu hung, Stachyris ambigua
o Khướu bụi ngực trắng, Stachyris grammiceps
o Khướu đá mun, Stachyris herberti
o Khướu bụi đầu xám, Stachyris poliocephala
o Khướu bụi đốm Austen, Stachyris oglei
o Khướu bụi đốm đỏ, Stachyris striolata
o Khướu bụi cổ trắng, Stachyris leucotis
o Khướu bụi họng đen, Stachyris nigricollis
o Khướu bụi yếm trắng, Stachyris thoracica
o Khướu bụi phao câu hung, Stachyris maculata
o Khướu bụi cánh hung, Stachyris erythroptera
o Khướu bụi ngực lưỡi liềm, Stachyris melanothorax

* Chi Stachyridopsis
o Khướu bụi trán hung, Stachyridopsis rufifrons
+ Khướu bụi Deignan, Stachyridopsis rufifrons rodolphei
o Khướu bụi đầu đỏ, Stachyridopsis ruficeps
o Khướu bụi vàng, Stachyridopsis chrysaea
o Khướu bụi cằm đen, Stachyridopsis pyrrhops

* Chi Spelaeornis (6 loài) – khướu đất điển hình
* Chi Sphenocichla
o Khướu mỏ nêm, Sphenocichla humei
* Chi Macronous – chích chạch (5 loài)
* Chi Timalia
o Họa mi mào hung, Timalia pileata

Nhánh Vành khuyên

Nếu như các loài vành khuyên được duy trì như là họ Zosteropidae tách biệt thì nhóm này sẽ cần bao gồm các chi sau:

* Chi Yuhina – khướu mào – 8 loài, (phát hiện ra là đa ngành và hiện nay tách thành 5 chi)
* Chi Staphida
o Khướu mào vằn, Staphida castaniceps
o Khướu mào cổ hung, Staphida torqueola
o Khướu mào ngực hung, Staphida everetti

* Chi Dasycrotapha – trước đây trong chi Stachyris; đặt vào đây không chắc chắn
o Khướu bụi lửa, Dasycrotapha speciosa

* Chi Sterrhoptilus – trước đây trong chi Stachyris; đặt vào đây không chắc chắn
o Khướu bụi lùn Mindanao (hay Yuhina), Sterrhoptilus plateni
o Khướu bụi lùn Visaya (hay Yuhina), Sterrhoptilus pygmaeus
o Khướu bụi mào vàng (hay Yuhina), Sterrhoptilus dennistouni
o Khướu bụi mào đen (hay Yuhina), Sterrhoptilus nigrocapitata
o Khướu bụi chóp phai (hay Yuhina), Sterrhoptilus capitalis

* Chi Zosterornis – trước đây trong chi Stachyris; đặt vào đây không chắc chắn
o Khướu bụi mặt hung (hay Yuhina), Zosterornis whiteheadi
o Khướu bụi vằn Luzon (hay Yuhina), Zosterornis striatus
o Khướu bụi vằn Panay (hay Yuhina), Zosterornis latistriatus
o Khướu bụi vằn Negros (hay Yuhina), Zosterornis nigrorum
o Khướu bụi vằn Palawan (hay Yuhina), Zosterornis hypogrammicus

Nhánh Sylviid


Cũng gồm cả khướu mỏ dẹt. Nếu như họ Sylviidae được duy trì như là họ khác biệt thì nhóm này cần bao gồm cả:

* Chi Pseudoalcippe
o Lách tách châu Phi, Pseudoalcippe abyssinica – trước đây trong chi Illadopsis
* Chi Lioparus – trước đây trong chi Alcippe
o Lách tách ngực vàng, Lioparus chrysotis
* Chi Fulvetta – lách tách điển hình, trước đây trong chi Alcippe
o Lách tách bốn mắt, Fulvetta ruficapilla
o Lách tách Trung Hoa, Fulvetta striaticollis
o Lách tách mày trắng, Fulvetta vinipectus
o Lách tách họng sọc, Fulvetta cinereiceps (có thể đa ngành)
o Lách tách Ludlow, Fulvetta ludlowi – đặt vào đây không chắc chắn
* Chi Chrysomma – 3 loài
* Chi Chamaea – wrentit

Các chi incertae sedis


Các mối quan hệ vẫn chưa được giải quyết; có thể thuộc mà cũng có thể không thuộc họ Timaliidae nghĩa hẹp (sensu stricto).

* Chi Crocias – 2 loài mi (tổ hợp Khướu?)
* Chi Micromacronus (nhánh timaliine?)
o Chích chạch nhỏ, Micromacronus leytensis
* Chi Trichastoma – 7 loài



* Chi Rimator
o Khướu mỏ dài, Rimator malacoptilus
* Chi Ptilocichla – 3 loài khướu
* Chi Pnoepyga – 3 loài khướu đất
* Chi Dumetia – khướu bụng vàng nâu
* Chi Rhopocichla – khướu ngực sẫm
* Chi Myzornis
o Myzornis pyrrhoura
* Chi Malia
* Chi Lioptilus – có thể liên quan tới Sylvia
o Mũ đen bụi, Lioptilus nigricapillus
* Chi Parophasma – có thể liên quan tới Sylvia
o Chim mèo Abyssinia, Parophasma galinieri
* Chi Kupeornis – 3 loài khướu núi. Có lẽ liên quan tới Phyllanthus
* Chi Phyllanthus
o Babbler Capuchin, Phyllanthus atripennis
* Chi Ptyrticus – có thể liên quan tới Illadopsis
o Ptyrticus turdinus
* Chi Horizorhinus – quan hệ không chắc chắn
o Horizorhinus dohrni

Trước đây đặt trong họ

Các chi mà mối quan hệ của chúng hiện nay đã biết là nằm hoàn toàn ngoài họ Timaliidae, không phụ thuộc vào việc họ này bị giới hạn như thế nào.

Phần khác trong siêu họ Sylvioidea

Dòng dõi cơ sở của chim chích dạng chiền chiện, họ Cisticolidae

* Chi Neomixis – jery
o Jery thường, Neomixis tenella
o Jery lục, Neomixis viridis
o Jery họng vằn, Neomixis striatigula

Thuộc về nhánh chưa đặt tên chích Malagasy ("Bernieridae"); xem Cibois (2001)

* Chi Hartertula – trước đây trong chi Neomixis
o Jery đuôi nêm, Hartertula flavoviridis
* Chi Crossleyia
o Oxylabes mày vàng, Crossleyia xanthophrys
* Chi Oxylabes
o Oxylabes họng trắng, Oxylabes madagascariensis

Nhóm khác của cận bộ Passerida

Thuộc về nhóm chim đường (họ Promeropidae ở châu Phi)

* Chi Arcanator – đôi khi gộp trong chi Modulatrix
o Họng lốm đốm, Arcanator orostruthus
* Chi Modulatrix
o Họng đốm, Modulatrix stictigula

Tiểu bộ Corvida

Dường như có liên quan tới vireo (họ Vireonidae ở Tân thế giới)

* Chi Erpornis
o Khướu mào bụng trắng, Erpornis zantholeuca – trước đây trong chi Yuhina [

Thuộc về nhóm vireo

* Chi Pteruthius – khướu mỏ quặp
o Khướu mỏ quặp bụng hung hay khướu mỏ quặp đầu đen, Pteruthius rufiventer
o Khướu mỏ quặp trán trắng, Pteruthius flaviscapis
o Khướu mỏ quặp lục, Pteruthius xanthochlorus
o Khướu mỏ quặp tai đen, Pteruthius melanotis
o Khướu mỏ quặp ngực hung, Pteruthius aenobarbus
Thuộc về nhóm vanga (họ Vangidae ở Madagascar)

* Chi Mystacornis
o Khướu vanga Crossley, Mystacornis crossleyi

Incertae sedis

* Chi Kakamega– quan hệ không chắc chắn. Có thể thuộc về các loài hoét hay chim đường.
o Kakamega ngực xám hay "Illadopsis" ngực xám, Kakamega poliothorax

In mục này

  Cận bộ Sẻ
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:36 PM - Diễn đàn: Finch - Chim Cảnh Nhỏ - Trả lời (1)

[Hình ảnh: Zonotrichia_atricapilla_06634.JPG]
Cận bộ Sẻ
(danh pháp khoa học: Passerida) trong phân loại Sibley-Ahlquist, là một trong hai "parvordo" (tiểu bộ) nằm trong phạm vi phân bộ Passeri, theo thực tiễn phân loại học tiêu chuẩn có thể đặt nó ở cấp bậc cận bộ). Trong khi các nghiên cứu gần đây gợi ý rằng parvordo chị em của nó (Corvida) không phải là kiểu gộp nhóm đơn ngành thì sự tồn tại của Passerida như là một nhánh khác biệt lại được chấp nhận khá tốt. Trong bài này, từ đây trở đi gọi Passerida là một cận bộ.

Sẻ chỏm đầu vàng (Zonotrichia atricapilla) thuộc về họ Emberizidae, không phải họ Passeridae.

Hệ thống hóa và phát sinh loài

Cận bộ Passerida một cách rất chắc chắn thì bao gồm 3 phân nhánh chính được Sibley & Ahlquist phác thảo ra năm 1990. Tuy nhiên, nọi dung bên trong của chúng lại trải qua nhiều sửa đổi. Ngoài ra, người ta cũng phát hiện ra rằng không phải mọi dòng dõi chim dạng sẻ đều phù hợp một cách rõ ràng với kiểu sắp xếp bố trí này. Các loài tước mào vàng là quá khác biệt và trên thực tế chúng có thể tạo thành một cận bộ riêng rẽ, do chúng chỉ hơi ít cơ sở hơn một chút so với siêu họ Quạ (Corvoidea) hay họ chim hói đầu (Picathartidae). Xem Jønsson & Fjeldså (2006) để có thêm chi tiết về phát sinh loài.

Phân loại

Siêu họ Sylvioidea

Chủ yếu là ăn sâu bọ, phân bố với trung tâm tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Một số ít có tại khu vực Australia và ít hơn nữa ở châu Mỹ. Thông thường là các loài chim mỡ màng màu nâu xám, một ít có dị hình lưỡng tính rõ nét.

[Hình ảnh: wol_error.gif][Hình ảnh: galecris.JPG]

* Alaudidae: sơn ca
* Hirundinidae: nhạn
* Phylloscopidae: chích lá và đồng minh. Tách ra gần đây từ Sylviidae.
* Aegithalidae: bạc má đuôi dài
* Cettiidae: chích đất và đồng minh. Tách ra gần đây từ Sylviidae.
* Megaluridae: chiền chiện lớn, chích cỏ và đồng minh. Tách ra gần đây từ Sylviidae.
* "Bernieridae": chích Malagasy. Họ mới tạo ra.
* Acrocephalidae: chích đầm lầy và chích cây. Tách ra gần đây từ Sylviidae.
* Pycnonotidae: chào mào
* Cisticolidae: chiền chiện và đồng minh
* Sylviidae: "chích thật sự" (lâm oanh) và khướu mỏ dẹt. Có thể hợp nhất với Timaliidae. Tính đơn ngành cần xác nhận. Xem thêm lý do tại sao không gọi là họ Chích tại bài Họ Chích (Acrocephalidae).
* Zosteropidae: vành khuyên. Có lẽ thuộc về họ Timaliidae.
* Timaliidae: khướu, họa mi (Cựu thế giới). Tính đơn ngành cần xác nhận.
* Sylvioidea không chắc chắn (incertae sedis)
o "Chích châu Phi": Một nhánh được đề xuất, nhưng tính đơn ngành cần xác nhận. Trước đây thuộc họ Sylviidae.
o Donacobius: Donacobius mũ đen. Họ đơn loài? Đặt vào đây không dứt khoát; có thể gần gũi với Megaluridae. Trước đây trong các họ Troglodytidae và Mimidae.
o Nicator: Quan hệ chưa được giải quyết, họ đơn chi? Đặt vào đây không dứt khoát; trước đây trong họ Pycnonotidae.

Siêu họ Muscicapoidea

[Hình ảnh: Sturnus_malabaricus.jpg]

Chủ yếu ăn sâu bọ, phân bố gần như toàn cầu với trung tâm ở vùng nhiệt đới Cựu thế giới. Một họ đặc hữu châu Mỹ. Gần như không có (ngoại trừ du nhập) trong khu vực Australia. Thông thường hơi chắc nịch đối với kích thước của chúng, phần lớn có màu rất sẫm hoặc xỉn mặc dù họ Sturnidae nói chung là nhiều màu sắc. Thường không có dị hình lưỡng tính, nhưng đôi khi rõ nét.

* Cinclidae: lội suối
* Muscicapidae: đớp ruồi Cựu thế giới. Cần xác nhận tính đơn ngành.
* Turdidae: hoét và đồng minh. Cần xác nhận tính đơn ngành.
* Buphagidae: chim bắt bét bò. Trước đây thường đưa vào họ Sturnidae.
* Sturnidae: sáo và có thể cả trèo cây Philippin. Vị trí của trèo cây Philippin trong siêu họ Muscicapoidea dường như là phù hợp, nhưng việc gộp vào họ Sturnidae cần xác nhận; có thể là họ riêng biệt Rhabdornithidae.
* Mimidae: chim nhại và họa mi đỏ châu Mỹ

Siêu họ Passeroidea

[Hình ảnh: housesparrow.jpg]

Chủ yếu là ăn cỏ, bao gồm nhiều loài ăn hạt, phân bố gần như toàn cầu với trung tâm ở vùng sinh thái Cổ Bắc cực và châu Mỹ. Bao gồm cả chim biết hót chín lông chính (có lẽ là cận nhánh). Một tỷ lệ cao có màu sặc sỡ và có dị hình lưỡng tính cao.

* Passeridae: chim sẻ thật sự
* Prunellidae: chích đá
* Motacillidae: chìa vôi và chim manh
* Urocynchramidae: sẻ Przewalski. Tách ra gần đây từ Fringillidae; đặt vào đây không dứt khoát.
* Peucedramidae: chích ô liu
* Estrildidae: chim di
* Ploceidae: rồng rộc
* Viduidae: chim chàm và whydah
* Fringillidae: sẻ đồng thật sự và hút mật Hawaii. Có lẽ đa ngành.
* Icteridae: sáo đá, chim đen Tân thế giới và vàng anh Tân thế giới
* Parulidae: chích Tân thế giới
* Thraupidae: tanager và đồng minh
* Cardinalidae: chim giáo chủ
* Emberizidae: sẻ đất và sẻ châu Mỹ
* Passeroidea không chắc chắn (incertae sedis)
o Coerebidae: Bananaquit. Họ không hợp lệ hoặc không đơn loài; việc định vị lại vẫn còn chưa được giải quyết.

Không chắc chắn (incertae sedis)

Thay vì là Passerida cơ sở, phần lớn trong chúng dường như tạo thành vài dòng dõi nhỏ nhưng khác biệt và có thể coi là các siêu họ. Phần lớn có ở châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ.

* Panurus: sẻ ngô râu. Quan hệ bí ẩn. Trước đây trong "Paradoxornithidae", có thể gộp trong siêu họ Sylvioidea như là họ đơn loài Panuridae hoặc thậm chí hợp thành siêu họ nhỏ nhất trong bộ Sẻ.

* Có thể là siêu họ Paroidea – bạc má, sẻ ngô và đồng minh. Có thể gộp trong siêu họ Sylvioidea.
o Paridae: bạc má, sẻ ngô và sẻ đồng
o Remizidae: phàn tước. Đôi khi gộp trong họ Paridae.
o Stenostiridae: "chích" stenostirid ("sẻ đớp ruồi"). Họ mới tạo lập; đôi khi gộp trong họ Paridae.

* Có thể là siêu họ Sittoidea hay Certhioidea – hồng tước và đồng minh. Có thể gộp trong siêu họ Muscicapoidea.
o Sittidae: trèo cây
o Tichodromadidae: toàn bích tước. Đặt vào đây không dứt khoát.
o Certhiidae: đuôi cứng
o Salpornithidae: đuôi cứng đốm. Đặt vào đây không dứt khoát; có thể thuộc Certhiidae.
o Troglodytidae: hồng tước
o Polioptilidae: đớp muỗi

* Có thể là siêu họ Bombycilloidea – cánh sáp và đồng minh. Gộp trong Muscicapoidea nếu Sittoidea/Certhioidea được coi là các siêu họ khác biệt.
o Bombycillidae: cánh sáp
o Dulidae: Palmchat. Đặt vào đây không dứt khoát.
o Ptilogonatidae: đớp ruồi lông mượt. Đặt vào đây không dứt khoát.
o Hypocoliidae: Hypocolius. Đặt vào đây không dứt khoát.

* Có thể là siêu họ "Dicaeoidea" – chim hút mật, chim sâu và trác hoa. Có thể gộp vào Passeroidea.


o Nectariniidae: chim hút mật
o Dicaeidae: chim sâu, trác hoa

* Có thể là siêu họ N.N. (không tên) đơn loài
o Promeropidae: chim đường. Có thể gộp vào Passeroidea.

Có thể không thuộc Passerida

Những họ dưới đây đã từng được gán cho Passerida trong thời gian gần đây, thường là trên cơ sở của các dữ liẹu lai ghép ADN-ADN. Tuy nhiên, chúng có lẽ là cơ sở nhiều hơn trong số chim biết hót và cũng có thể thuộc về Corvoidea hoặc các dòng dõi cơ sở đồng minh. Phần lớn trong số này hoặc là các nhóm ở châu Phi hoặc là ở khu vực Wallace.

* Chloropseidae: chim xanh hay chim lá. Có thể thuộc siêu họ Reguloidea? hay là cơ sở đối với/trong Passeroidea?
* Aegithinidae: chim nghệ (Corvoidea)
* Picathartidae: chim hói đầu (Passeri incertae sedis)
* Melanocharitidae: chim mổ quả và mỏ dài. (Corvoidea)
* Paramythiidae: (Corvoidea)
* Platysteiridae: mắt yếm. Có lẽ là cận ngành. (Corvoidea)

In mục này

  Họ Yến mào ( Hemiprocnidae)
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:32 PM - Diễn đàn: Chim yến hót - Không có trả lời

[Hình ảnh: 20070523003618.jpg]
Họ Yến mào
hay họ Yến cây (danh pháp khoa học: Hemiprocnidae) là một họ chim cận chim sẻ sinh sống trên không, có họ hàng gần gũi với các loài yến thật sự. Họ này chỉ chứa 1 chi có danh pháp Hemiprocne và 4 loài. Chúng phân bố tại Ấn Độ và Đông Nam Á qua Indonesia tới New Guinea và quần đảo Solomon.

Các loài yến mào là các loài yến nhỏ tới trung bình, với chiều dài nằm trong khoảng 15-30 cm. Chúng có các cánh dài, với phần lớn độ dài đến từ độ dài của các lông cánh; xương cánh thật sự của chúng trên thực tế là rất ngắn. Chúng khác các loài yến khác ở vật chất tạo ra bộ lông mềm hơn và chúng có mào hay các thứ trang trí trên mặt khác cùng chiếc đuôi chẻ dài. Về mặt giải phẫu chúng khác các loài yến thật sự ở các chi tiết của bộ xương tại hộp sọ và vòm miệng, xương cổ chân và ngón sau không thể quặp lại, được sử dụng để bám vào cành cây (một hoạt động mà yến thật sự không thể thực hiện). Yến mào trống có bộ lông phủ óng ánh nhiều màu.

[Hình ảnh: Crestedtreeswift.jpg]

Các loài yến mào có sự đa dạng về môi trường sống ưa thích. Một loài, yến mào ria, là loài sinh sống trong các cánh rừng nguyên sinh. Dễ dàng bay lượn, nó kiếm ăn gần các thảm thực vật phía dưới tán cây và chỉ ít khi mạo hiểm tiến sang các khu rừng thứ sinh, nhưng không bao giờ bay phía trên các vùng đất trống. Một loài khác ít hạn chế hơn; yến mào có thể sinh sống trong các môi trường sống như rừng ẩm thấp tới các đồng rừng lá sớm rụng, còn yến mào phao câu xám có thể sinh sống trong gần như mọi kiểu môi trường sống có thể, từ các rừng đước tới các rừng đồi. Tất cả các loài đều ăn sâu bọ, mặc dù chi tiết chính xác về kiểu loại con mồi mà chúng ưa thích vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Trách nhiệm xây dựng tổ được chia sẻ giữa chim trống và chim mái. Chúng đẻ 1 trứng trong tổ treo trên các cành cây thưa. Màu vỏ trứng từ trắng tới xám. Có rất ít thông tin về thời gian ấp trứng, nhưng người ta cho rằng nó kéo dài hơn so với các loài yến lớn hơn. Chim non mới sinh được che phủ bằng một lớp lông tơ xám màu và được chim bố mẹ mớm mồi.

[Hình ảnh: Crested_Treeswift_%28Hemiprocne_coronata...G_2133.jpg]

Các loài yến mào bao gồm:

* Yến mào, Hemiprocne coronata (trước đây coi là đồng loài với H. longipennis). H. coronata là danh pháp được Tên chim Hán-Nhật-Việt dùng cho loài tìm thấy ở Ấn Độ, tây nam Trung Quốc và Đông Nam Á đại lục (ngoại trừ Malaya).
* Yến mào phao câu xám, Hemiprocne longipennis. Danh pháp này hiện vẫn còn được Bách khoa Toàn thư Việt Nam dùng để chỉ yến mào, trong khi theo Tên chim Hán-Nhật-Việt thì H. longipennis dùng cho loài yến mào sinh sống tại các đảo của Đông Nam Á và phần phía nam của Đông Nam Á đại lục.
* Yến mào ria, Hemiprocne comata
* Yến mào râu, Hemiprocne mystacea

In mục này

  Bộ Sẻ ( Passeriformes)
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:30 PM - Diễn đàn: Kiến Thức Chung Về Chim Rừng. - Trả lời (2)

Bộ Sẻ (danh pháp khoa học: Passeriformes) là một bộ chim đa dạng về số lượng loài. Trên một nửa các loài chim là dạng sẻ. Đôi khi còn biết đến như là các loài chim đậu cành hay ít chính xác hơn là chim biết hót, bộ Sẻ tạo thành một trong những bộ đa dạng nhất của động vật có xương sống trên mặt đất: với khoảng 5.400 loài, nó khoảng 2 lần đa dạng hơn so với bộ động vật có vú đa dạng nhất là bộ Gặm nhấm (Rodentia).

Tên gọi khoa học của bộ ("Passeriformes") có nguồn gốc từ Passer domesticus, tên khoa học của loài điển hình cho bộ này là sẻ nhà - và nó lại có nguồn gốc từ tiếng Latinh passer để chỉ các loài sẻ thật sự và các dạng chim nhỏ trông tương tự.

[URL="http://www.haryana-online.com/images/Birds/Rajiv/OrientalSkylark.jpg"][Hình ảnh: OrientalSkylark.jpg][/URL]

1. Đặc trưng

Nhiều loài chim dạng sẻ là các loài chim biết hót và có các cơ phức tạp để kiểm soát minh quản của chúng; nhiều loài há mỏ trong tổ khi còn non để xin thức ăn.

Bộ Sẻ có thể chia thành 3 phân bộ là Tyranni (gần/cận biết hót), Passeri (biết hót) và nhóm cơ sở Acanthisitti (hồng tước New Zealand). Các dạng chim biết hót có khả năng kiểm soát tốt nhất các cơ minh quản của chúng trong số các loài chim, có thể tạo ra nhiều kiểu kêu, hót khác nhau và các dạng xướng âm khác (mặc dù một số trong chúng, chẳng hạn như một số loài quạ, không phát ra tiếng kêu/hót để người có thể nghe thấy); một số như hai loài chim lia là những kẻ bắt chước hoàn hảo). Phân bộ Acanthisitti là những loài chim nhỏ, tương tự như hồng tước, chỉ có ở New Zealand trong thời gian gần đây; trước kia chúng được đưa vào phân bộ Passeri, nhưng trên thực tế là nhóm rất khác biệt và rất cổ.
[URL="http://www.bio.davidson.edu/people/vecase/behavior/Spring2007/Miranda/Assets/Yellow-billed%20Oxpecker.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Yellow-billed%20Oxpecker.jpg][/URL]

Phần lớn các loài chim dạng sẻ là nhỏ hơn các thành viên điển hình của các bộ chim khác. Loài to lớn và nặng nhất trong chim dạng sẻ là quạ mỏ dày; quạ phương Bắc cũng gần như thế và hai loài chim lia là dài hơn cả.

Các chân của chim dạng sẻ có 3 ngón xòe ra phía trước mà không có màng chân hay khớp nối và một ngón xòe về phía sau. Ngón sau nối với cổ chân ở vị trí như các ngón trước. Kiểu sắp xếp ngón chân ở các bộ chim khác không giống như vậy.

Phần lớn chim dạng sẻ đẻ các trứng với vỏ có màu sắc, ngược lại với các loài chim không là dạng sẻ với vỏ trứng màu trắng (ngoại trừ ở một vài nhóm chim làm tổ dưới đất như choi choi (bộ Charadriiformes) và cú muỗi (họ Caprimulgidae), khi sự ngụy trang là cần thiết, và một số chim cu cu (họ Cuculidae) ký sinh, với màu vỏ trứng phù hợp với màu vỏ trứng chim chủ thuộc bộ Sẻ).

[URL="http://birdingphilippines.com/palawan-birding/ashy-headed-babbler-133.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: ashy-headed-babbler-133.jpg][/URL]

2. Nguồn gốc và tiến hóa

Lịch sử tiến hóa và các mối quan hệ giữa các họ trong bộ vẫn còn là điều bí ẩn cho tới tận gần đây. Nhiều họ được gộp nhóm cùng nhau trên cơ sở các nét tương đồng hình thái mà hiện nay người ta tin rằng chỉ là kết quả của tiến hóa hội tụ chứ không phải là do có quan hệ di truyền gần gũi. Ví dụ, các loài chim "hồng tước" ở Bắc bán cầu, ở Australia và ở New Zealand trông rất tương tự và chúng có cung cách sinh sống cũng tương tự, nhưng thuộc về 3 nhánh xa nhau trong cây phát sinh loài của bộ Sẻ; chúng không có quan hệ họ hàng gần như vẫn tưởng mà chỉ cùng nằm trong bộ Sẻ mà thôi.

Cần phải có thêm nhiều nghiên cứu, nhưng những tiến bộ trong sinh học phân tử và các dữ liệu cổ địa sinh học ngày càng hoàn thiện dần dần sẽ cho thấy hình ảnh rõ ràng hơn về nguồn gốc và tiến hóa của các loài chim dạng sẻ. Hiện nay, người ta cho rằng những loài chim dạng sẻ đầu tiên đã tiến hóa tại Gondwana vào thời gian trong kỷ Paleogen, có thể là khoảng Hậu Paleocen cỡ 60-55 Ma. Sự chia tách ban đầu là giữa Tyranni, các dạng chim biết hót, Eurylaimides và "hồng tước" New Zealand, có thể đã phân ra trong khoảng thời gian ngắn (nhiều nhất là vài triệu năm). Bộ Sẻ dường như cũng đã tiến hóa ra ngoài để thành các nhánh có quan hệ tương đối gần ("cận chim sẻ") như các nhánh chứa Piciformes (các dạng gõ kiến), Coraciiformes (các dạng sả) và Cuculiformes (các dạng cu cu).

Muộn hơn một chút, sự phân tỏa lớn các dạng diễn ra tại khu vực ngày nay là Australia-New Guinea: Passeri hay chim biết hót. Nhánh chính của Passeri, tiểu bộ "Passerida", đã nổi lên hoặc như là nhóm chị-em với dòng dõi cơ sở và nhóm dạng quạ (tiểu bộ "Corvida"), hoặc có thể nhiều hơn là một phân nhóm của nó, mở rộng sâu vào đại lục Á-Âu và châu Phi, tại đó lại tiếp tục có sự phân tỏa lớn sinh ra các dòng dõi mới. Điều này cuối cùng dẫn tới 3 dòng dõi chính trong bộ Sẻ bao gồm khoảng 4.000 loài, cùng với nhánh Corvida và hàng loạt các nhánh nhỏ khác tạo thành sự đa dạng của chim biết hót ngày nay. Cũng diễn ra sự phối trộn địa sinh học trên phạm vi rộng, với các dạng phía bắc quay về phía nam còn các dạng phía nam thì di chuyển lên phía bắc v.v.

[URL="http://www.oiseaux-birds.com/dossiers-ornithos-photos/intro-passeriformes/chardonneret-dossier-passeriformes.jpg"][Hình ảnh: chardonneret-dossier-passeriformes.jpg][/URL]

2. 1. Mẫu hóa thạch

Các dạng sẻ sớm nhất Nghiên cứu về xương các loài chim đậu, đặc biệt là các xương chi, chỉ mang tính chất chẩn đoán.Tuy nhiên, các mẫu hóa thạch sớm là ít do các dạng chim dạng sẻ đầu tiên dường như là ở phía nhỏ của khoảng kích cỡ ngày nay và các xương mỏng mảnh của chúng không được bảo quản tốt. Các mẫu vật của Viện bảo tàng Queensland số F20688 (carpometacarpus) và F24685 (xương đầu gối) từ Murgon, Queensland là các mảnh xương hóa thạch rất dễ dàng nhận ra là có dạng sẻ; chúng đại diện cho hai loài với kích thước chiều dài tổng thể khoảng 10 tới 20 cm và chứng minh rằng vào khoảng 55 Ma, gần với Tiền Eocen, các dạng chim đậu nguyên thủy đã có sự khác biệt có thể nhận ra. Một nhóm tương tự, Zygodactylidae (đặt tên theo khả năng tiếp cận bằng ngón (zygodactyly) để đậu) đã phát sinh độc lập có thể cùng khoảng thời gian này - và có thể từ các tổ tiên có quan hệ gần - tại các vùng đất tiếp giáp với Bắc Đại Tây Dương, khi đó chỉ có bề rộng cỡ 2/3 bề rộng ngày nay.

Cho đến khi có phát hiện ra các hóa thạch ở Australia, người ta tin rằng Palaeospiza bella từ tầng hóa thạch Florissant Priabona (Hậu Eocen, khoảng 35 Ma) là chim dạng sẻ cổ nhất đã biết. Tuy nhiên, hiện nay người ta coi nó thuộc về nhóm cận chim sẻ không có dạng sẻ.

Từ thành hệ Bathans tại sông Manuherikia ở Otago, New Zealand, MNZ S42815 (ngoại biên xương cổ chân phải của loài chim có kích thước cỡ chim tui (Prosthemadera novaeseelandiae)) và một vài xương của ít nhất là một loài chim kích thước cỡ chim yên ngựa (Philesturnus carunculatus) đã được mô tả gần đây. Chúng có niên đại từ khoảng Tiền tới Trung Miocen (tầng Awamoan tới tầng Lillburnian, khoảng 19-16 Ma)

Kiến thức hiện nay về các mối liên-quan hệ của các nhóm chim dạng sẻ còn sinh tồn cho thấy tổ tiên chung gần nhất của mọi chim dạng sẻ còn sinh tồn là một loài chim rừng nhỏ, có lẽ với đuôi ngắn và mậpvà màu nâu xám tổng thể, nhưng có thể với dị hình lưỡng tính rõ ràng. Đặc điểm sau dường như đã bị mất và tái tiến hóa nhiều lần chỉ riêng ở quá trình tiến hóa của chim biết hót, được phán đoán từ phân bố của đặc điểm này trong các dòng dõi còn sinh tồn: chẳng hạn tổ tiên chung của Passerida gần như chắc chắn là không có dị hình lưỡng tính rõ ràng khi xem xét tới việc đặc điểm này là rất hiếm trong số các dòng dõi cơ sở của nó, nhưng rất phổ biến trong nhánh Passerida trẻ hơn, nhóm Passeroidea; ngược lại trong số các dòng dõi cơ sở nhất của Passeri thì có một lượng đáng kể các dòng dõi có dị hình mạnh, chẳng hạn họ Menuridae rất cổ cũng như nhiều nhóm trong Meliphagoidea và Corvoidea. Dị hình lưỡng tính cũng không là hiếm ở Acanthisittidae và rõ nét ở một số chim gần biết hót như Pipridae và Cotingidae.

Các dạng sẻ sớm ở châu Âu Tại châu Âu, các loài chim đậu là không quá hiếm trong các mẫu hóa thạch từ thế Oligocen trở đi, nhưng phần lớn là quá rời rạc để có thể xác định vị trí dứt khoát hơn:

* Wieslochia (Tiền Oligocen ở Frauenweiler, Đức)
* Passeriformes chi mơ hồ loài không rõ ràng (gen. et sp. indet.) (Tiền Oligocen ở Luberon, Pháp) - gần biết hót hay cơ sở
* Passeriformes chi mơ hồ loài không rõ ràng (Hậu Oligocen ở Pháp) - một vài đơn vị phân loại cận biết hót và biết hót
* Passeriformes chi mơ hồ loài không rõ ràng (Trung Miocen ở Pháp và Đức) - cơ sở?
* Passeriformes chi mơ hồ loài không rõ ràng (Sajóvölgyi Trung Miocen ở Mátraszõlõs, Hungary) - ít nhất 2 đơn vị phân loại, có thể là 3; ít nhất 1 trong đó là chim biết hót

Wieslochia có thể không là thành viên của bất kỳ phân bộ còn sinh tồn nào. Điều đó nghĩa là không chỉ có nhóm Passeri là đã mở rộng ra ngoài khu vực phát sinh của nó và được chứng minh bằng hóa thạch của chim mỏ rộng không xác định (họ Eurylaimidae) từ Tiền Miocen (khoảng 20 Ma) ở Wintershof, Đức và của chim cận biết hót danh pháp không xác định Hậu Oligocen tại Pháp như liệt kê trên đây. Thậm chí các dạng chim dạng sẻ rất cơ sở có thể cũng là phổ biến tại châu Âu cho tới Trung Miocen, vào khoảng 12 Ma. Các siêu họ còn sinh tồn của nhóm Passeri cũng đã rất khác biệt vào thời gian đó và được biết kể từ khoảng 12-13 Ma khi các chi hiện đại đã có mặt trong nhóm Corvoidea và chim biết hót cơ sở. Sự đa dạng hiện nay của các chi Passerida được biết đến chủ yếu từ Hậu Miocen trở đi và trong thế Pliocen (khoảng 10-2 Ma). Các khu hệ hóa thạch thế Pleistocen và đầu thế Holocen (<1,8 Ma) chứa hóa thạch của nhiều loài hiện còn sinh tồn, và nhiều khu chỉ chứa hóa thạch của các loài còn sinh tồn hoặc loài thời gian và các phân loài cổ của chúng.

Hóa thạch châu Mỹ Tại châu Mỹ, các mẫu hóa thạch là hiếm hơn trước thế Pleistocen, từ đó một vài họ chim cận biết hót hiện vẫn còn tồn tại đã được chứng minh. Bên cạnh mẫu vật không thể xác định MACN-SC-1411 (Pinturas, Tiền/Trung Miocen ở tỉnh Santa Cruz, Argentina) thì dòng dõi đã tuyệt chủng của các dạng chim đậu đã được mô tả từ thời gian Hậu Miocen ở California, Hoa Kỳ: Palaeoscinidae với một chi Paleoscinis. "Palaeostruthus" eurius (Pliocen ở Florida) có lẽ thuộc về họ còn sinh tồn, có thể nhất là Passeroidea.

[URL="http://www.haryana-online.com/images/Birds/Rajiv/SpanishSparrow.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: SpanishSparrow.jpg][/URL]

3. Hệ thống và phân loại

Ban đầu, hai nhóm Corvida và Passerida được phân loại như là các "tiểu bộ" trong phân bộ Passeri; phù hợp với thực tiễn phân loại thông thường thì chúng cần được phân loại như là các cận bộ. Theo sắp xếp ban đầu của phân loại Sibley-Ahlquist, chúng chứa tương ứng là Corvida bao gồm hai siêu họ lớn Corvoidea và Meliphagoidea cũng như các dòng dõi nhỏ khác, còn Passeri là các siêu họ Sylvioidea, Muscicapoidea và Passeroidea.

Sự sắp xếp này được nhận ra là sự đơn giản hóa quá mức theo các nghiên cứu gần đây. Vào khoảng giữa thập niên 2000, hàng chục nghiên cứu được công bố trong đó người ta cố gắng giải quyết thành công hơn phát sinh loài trong phân tỏa tiến hóa của chim dạng sẻ. Ví dụ, Corvida trong phán đoán truyền thống là tổ hợp mang nặng tính ngẫu nhiên và chủ quan chứa các dòng dõi sớm và/hoặc nhỏ của các chim dạng sẻ có nguồn gốc Cựu thế giới, nói chung từ khu vực Australia, New Zealand, và Wallacea. Nhóm Passeri, ngược lại, có thể trở thành đơn ngành bằng cách chuyển đi một vài họ, nhưng cách sắp xếp 3 siêu họ "sạch" lại hóa ra là phức tạp hơn và một điều không chắc chắn là các tác giả trong tương lai sẽ bám vào đó hay không.

Một vài đơn vị phân loại lại hóa ra là đại diện cho các loài có sự khác biệt cao-các dòng dõi được hiểu kém và hậu quả là các họ mới cần được thiết lập, một số trong chúng - như chim Stitch (Notiomystis cincta) ở New Zealand và sẻ ngô râu ở đại lục Á-Âu - là các họ đơn loài với chỉ một loài còn sinh tồn.. Dường như là trong nhóm Passeri thì một số các dòng dõi nhỏ cuối cùng sẽ được công nhận như là các siêu họ khác biệt. Ví dụ, tước mào vàng chỉ có 1 chi với ít hơn 10 loài còn sinh tồn, nhưng dường như thuộc về các dòng dõi chim đậu đầu tiên đã rẽ nhánh ra do nhóm này đã lan rộng khắp đại lục Á-Âu. Người ta không tìm thấy bất kỳ họ hàng gần nào của chúng trong các nghiên cứu bao hàm toàn diện về chim trong bộ Passeri còn sinh tồn, mặc dù có nghi ngờ rằng chúng có thể khá gần với một vài nhóm ít được nghiên cứu ở vùng nhiệt đới châu Á. Các họ "thùng rác" như chim chích Cựu thế giới (họ Sylviidae) và họa mi (họ Timaliidae) là các nhóm cận ngành và đang được sắp xếp lại. Quá trình này vẫn đang được tiếp tục. Vì thế, việc sắp xếp tại bài này có thể bị thay đổi.

In mục này

  Họ Vàng anh
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:24 PM - Diễn đàn: Hỏi Đáp Về Chim Rừng - Trả lời (5)

Họ Vàng anh hay họ Hoàng oanh hoặc họ Hoàng li (danh pháp khoa học: Oriolidae) là một họ chim thuộc bộ Sẻ ở Cựu thế giới. Nó không có họ hàng gì với các loài vàng anh Tân thế giới của họ Icteridae.
[URL="http://www.drkrishi.com/wp-content/uploads/Black-hooded-Oriole-1.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Black-hooded-Oriole-1.jpg][/URL]

Họ này bao gồm Sphecotheres viridis, thành viên duy nhất? (tuy nhiên, xem dưới đây) của chi Sphecotheres cùng khoảng 24 loài (theo các số liệu khác là 75 loài ? vàng anh Cựu thế giới trong chi Oriolus, phân bố chủ yếu tại khu vực nhiệt đới Đông bán cầu, từ châu Phi (khoảng 6 loài) tới Đông Nam Á (khoảng 16 loài) và Australia (4 loài), nhưng không có ở New Zealand và các đảo trên Thái Bình Dương. Loài duy nhất sống ở châu Âu là hoàng anh (Oriolus oriolus) còn loài duy nhất sống trong khu vực ôn đới châu Á là vàng anh gáy đen (Oriolus chinensis).

[URL="http://www.birdsisaw.com/bis/Photographs/Golden_Oriole_32778.jpg"][Hình ảnh: Golden_Oriole_32778.jpg][/URL]

Đặc điểm

Chim họ Vàng anh các loài chim ăn tạp với thức ăn chủ yếu là sâu bọ, quả và cả mật ong. Các loài vành anh ưa thích môi trường sống là rừng thưa nhưng luôn sống tại các tầng cao, vì thế mặc dù có bộ lông sặc sỡ nhưng ít khi người ta nhìn thấy chúng.

Vàng anh là những loài chim biết hót rất giỏi, có kích cỡ trung bình. Chúng có mỏ tương đối khỏe và nhọn, các chân và các ngón tương đối ngắn nhưng khỏe.

Các đại diện của họ này có dị hình lưỡng tính rất mạnh. Chim trống có màu sắc lòe loẹt với các màu tương phản. Phần lớn các loài có màu vàng tươi với các vết đen sắc nét trên đầu, cánh hay đuôi. Chim trống của vài loài ở Đông Nam Á có màu đen hay đỏ. Chim mái nói chung có màu tương tự như chim trống với phần bên trên của cơ thể nói chung có màu hơi xanh lục. Tuy nhiên, phần bụng thường tươi hơn. Vì thế, chim mái về tổng thể có màu ít tương phản hơn và ít rõ nét. Chim non có bộ lông màu sắc tương tự như chim mái, nhưng phần lớn có thêm các sọc vằn bổ sung.

[URL="http://creagrus.home.montereybay.com/bfow-OWorioles/OrioBN-Dc05Sabalay-BTM.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: OrioBN-Dc05Sabalay-BTM.jpg][/URL]

Sinh sản


Các loài vàng anh làm tổ trên ngọn cây, với các tổ nằm ngang. Trứng cỏ vỏ màu trắng hay ánh vàng điểm các đốm sẫm màu. Chim non có màu ánh nâu.

Phân loại

Đôi khi người ta công nhận tới 4 chi cho họ này, nhưng thông thường chỉ công nhận 2 chi là Oriolus và Specotheres. Việc gán hai chi còn lại (chim lam (Irena spp.) và Tylas eduardi) vào họ này gây mâu thuẫn.

[URL="http://www.biolib.cz/IMG/GAL/2500.jpg"][Hình ảnh: 2500.jpg][/URL]

Phân loại nội bộ của họ cũng gây mâu thuẫn. Phụ thuộc vào từng tác giả, họ này bao gồm 25-28 loài (chi Oriolus với 24 loài và Specotheres với 1-4 loài) hay 40 loài (chi Oriolus với 27tới 36 loài). Việc hệ thống hóa bao hàm toàn diện họ này được thực hiện lần gần đây nhất vào năm 1962, và một số mâu thuẫn trong sơ đồ phân loại các loài vàng anh châu Á được tổng quát hóa trong bài viết của C.E Dickinson . Nghiên cứu di truyền ở mức phân tử cho phân loại họ Vàng anh vẫn chưa có sẵn

Riêng chi Sphecotheres, một số tác giả còn công nhận thêm ba loài sau: S. flaviventris, S. hypoleucus, S. vieilloti.

In mục này

  Chim Ưng Ấn Độ
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:23 PM - Diễn đàn: Dinh Dưỡng và Luyện Tập - Trả lời (36)

Tên Việt Nam: Ưng ấn độ
Tên Latin: Accipiler trivirgatus indicus
Họ: Ưng Accipitridae
Bộ: Cắt Falconiformes

[URL="http://www.hayvanlarim.com/resimler/accipiter_gularis.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: accipiter_gularis.jpg][/URL]


Chim trưởng thành:

Trán, đỉnh đầu và lông mào ở gáy xám đen nhạt, hai bên đầu và cổ hơi nhạt hơn nhưng các lông đều có thân lông thẫm. Mặt lưng nâu thẫm, lông bao trên đuôi có mút trắng. Đuôi nâu nhạt với mút lông trắng và năm vạch ngang nâu thẫm. Lông cánh có vằn nâu thẫm, phiến lông trong mầu trắng ở phần dưới chỗ khuyết. Cằm, họng và ngực trắng với một dải dọc ở giữa chạy từ cằm đến ngực. Ở ngực có nhiều vệt nâu hung tươi. Dưới cánh trắng tinh. Phần còn lại ở mặt bụng trắng và nâu hung thẫm.

[URL="http://www.birdskorea.org/Images/images2009/09/Japanese-Sparrowhawk_NM.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Japanese-Sparrowhawk_NM.jpg][/URL]

Chim non:


Mặt lưng nâu thẫm, mỗi lông đều viền hung nâu. Phần trên cổ hung nâu có điểm đen. Các lông ở đầu viền hung rộng. Một dải rộng trên mắt hung nâu có vệt đen. Mặt bụng hung nâu hay hung nhạt, họng và ngực có nhiều vệt nâu thẫm, đùi ít nhiều có vằn. Mắt vàng mỏ màu nâu sừng. Sống và chóp mỏ đen nhạt, góc mép vàng nhạt. Da gốc mỏ và mí mắt vàng lục nhạt chân vàng xỉn.

[URL="http://www.eaglechina.org/Article/UploadFiles/200603/20060324230435399.jpg"][Hình ảnh: 20060324230435399.jpg][/URL]

Kích thước:

Cánh (Chim trống): 220 - 240, (Chim mái): 228 - 270; đuôi: 200; giò: 65; mỏ: 29mm.

[URL="http://photo.ecenter.idv.tw/albums/userpics/10001/IMG_3064.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: IMG_3064.jpg][/URL]

Phân bố:


Ưng Ấn Độ là loài phân bố ở Ấn Độ, Miến Điện Nam Trung Quốc và Đông Dương.

Việt Nam ưng Ấn Độ có ở Bắc Cạn, Nghệ An (Phủ Quỳ) và Quảng Trị.

In mục này

  Đại Bàng Đầu Trọc
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:20 PM - Diễn đàn: Các chủng loại chim săn - Trả lời (26)

Danh mục : Các loài chim quý khác
Chủng loại: Bộ: Cắt

[URL="http://forum.ge/uploads/post-72-1203535270.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: post-72-1203535270.jpg][/URL]

Miêu tả :

Tên khoa học: Aegypius monachus Bộ: Cắt Họ: Ưng (Accipitridae) Phân bố: Được tìm thấy ở vùng núi cao của dãy Hymalaya, các vùng cao nguyên ở tây bắc Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal... Đặc điểm sinh học: Đại bàng đầu trọc thường sống ở vùng núi, làm tổ trên các vách đá cao hay cây cao và tổ thường được dùng trong nhiều năm. Chim mái đẻ từ 1 - 3 trứng, thời gian ấp 52 - 60 ngày, chim non sinh ra được cả bố và mẹ chăm sóc. Chim trưởng thành nặng khoảng 20kg, sải cánh rộng trên 2m, tuổi thọ trung bình 38-40 năm. Thức ăn: Thức ăn là các loài động vật nhỏ.

[URL="http://www.funet.com/pub/sci/bio/life/aves/accipitriformes/accipitridae/aegypius/monachus-1.jpg"][Hình ảnh: monachus-1.jpg][/URL]


Đại Bàng Đầu Trọc Trong Vườn Thú
[YOUTB]http://www.youtube.com/watch?v=Aay_9CVJvRs&feature=player_embedded[/YOUTB]

In mục này

  Kền kền
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:19 PM - Diễn đàn: Dinh Dưỡng và Luyện Tập - Trả lời (2)

Kền kền, là tên gọi chung của một nhóm các loài chim ăn thịt và ăn xác chết, sống ở các châu lục, ngoại trừ châu Nam Cực và châu Đại Dương. Một trong những đặc điểm của kền kền là đầu thường trọc, không có lông do tập quán ăn thịt xác chết bằng cách thò cả đầu vào xác con vật để ăn thịt nên đầu bị dính máu và dịch xác con mồi nếu có lông thì sẽ bị dính và khó làm sạch. Đặc điểm này giúp kền kền rửa sạch đầu nhanh chóng ở các con sông gần đấy. Kền kền được chia làm 2 nhóm. Kền kền ở thế giới cũ ở châu Phi, châu Á và châu Á thuộc họ Accipitridae - họ này bao gồm cả Đại bàng, Diều hâu, Chim ó, Ác là. Chúng tìm xác chết bằng cách nhìn bằng mắt. Loài kền kền ở Tân Thế Giới về vẻ bề ngoài không liên quan một chút nào đến họ Accipitridae nhưng thuộc họ Cathartidae gần gũi với loài cò. Nhiều loài thuộc họ này có khứu giác tốt, không giống như chim săn mồi bình thường. Sự tương đồng giữa hai loại kền kền kể trên là do sự tiến hóa hội tụ hơn là quan hệ gần gũi

[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/4e/Eagle_beak_sideview_A.jpg/250px-Eagle_beak_sideview_A.jpg"][Hình ảnh: 250px-Eagle_beak_sideview_A.jpg][/URL]

Trong văn hóa


Châu Phi

Tại miền nam châu Phi, tên gọi của kền kền Nubia là đồng nghĩa với thuật ngữ để chỉ các đôi tình nhân, do loài kền kền này luôn luôn có đôi, mẹ và con luôn gắn kết với nhau.

Cặp đôi, gắn kết, bảo vệ và tình yêu là các thuộc tính đặc biệt được gắn liền với kền kền. Người ta cũng cho rằng kền kền gần gũi với các vị thần tiên ngự trị trên bầu trời, do kích thước to lớn và khả năng bay cao của chúng. Người Ai Cập cổ đại cho rằng kền kền là một bà mẹ tốt, và sải cánh rộng của nó được nhìn nhận như là sự bao bọc và bảo vệ cho các con của chúng. Chữ viết tượng hình kền kền của người Ai Cập

Kền Kền Bengan Gyps bengalensis
[URL="http://photos6.flickr.com/7694199_21869c7a13.jpg"][Hình ảnh: 7694199_21869c7a13.jpg][/URL]

Phương Tây

Ngược lại với nhiều loài chim săn mồi khác, trong văn hóa phương Tây kền kền thường bị coi là đáng ghê tởm do nó gắn liền với cái chết. Một số nhà báo theo chủ nghĩa giật gân tìm kiếm các tin tức về các vụ phạm tội đẫm máu đôi khi cũng bị gọi là "kền kền". Các nhà đầu tư tài chính tìm kiếm các công ty hay các quốc gia đang mắc nợ để mua các loại chứng khoán ở giá thấp cũng được gọi là các quỹ kền kền. Các luật sư thu lợi từ cái chết, chẳng hạn thừa kế, ngộ sát hay các luật sư trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ cũng có thể bị gọi là "kền kền".


Kền kền Ấn Độ Gyps indicus
[URL="http://lh5.ggpht.com/_CHpOlaF0BS0/SPuK_pqH5HI/AAAAAAAACaI/5XStkCEfcX4/HCA_040207-152340_CRW_9092.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: HCA_040207-152340_CRW_9092.jpg][/URL]

In mục này

  Bộ Chim Ưng
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:17 PM - Diễn đàn: Dinh Dưỡng và Luyện Tập - Trả lời (2)

Bộ Chim Ưng

Tại một trong số các cách thức phân loại phổ biến nhất về chim ăn thịt thì bộ (chim) Ưng (danh pháp khoa học: Accipitriformes) bao gồm phần lớn các loài chim săn mồi ban ngày: diều hâu, đại bàng, kền kền và nhiều loài khác nữa, với tổng cộng khoảng 225 loài.

[Hình ảnh: buteo-lineatus-alleni.jpg]

Bộ Ưng và bộ Cắt

Tuy nhiên, tên gọi của bộ này không được sử dụng trong các sơ đồ phân loại có đề cập tới họ Cắt (Falconidae), bao gồm các loài chim cắt và caracara) như là một phần của cùng nhóm như họ Ưng (Accipitridae) (diều hâu, đại bàng và một số loài khác). Khi tất cả các loài chim ăn thịt săn mồi ban ngày được coi như là một bộ duy nhất, thì bộ trở thành bộ Cắt nghĩa rộng (Falconiformes sensu lato) và bao gồm khoảng 260-290 loài.

[Hình ảnh: Tawny_Eagle_69578.jpg]

Nếu các loài chim cắt và các đồng minh của chúng được cho là đủ khác biệt để có thể coi như một bộ độc lập, thì bộ Cắt nghĩa hẹp (Falconiformes sensu stricto) chỉ bao gồm khoảng 60 loài chim cắt trong họ Cắt (Falconidae), và các họ còn lại trở thành một phần của bộ Ưng (Accipitriformes).

[Hình ảnh: 516211061_d1d832e8d7.jpg]

Bộ Accipitriformes

Phân loại học truyền thống cho bộ này như sau:

* Họ Cathartidae: Kền kền Tân thế giới
* Họ Pandionidae: Ưng biển, ó
* Họ Accipitridae: Ưng, diều hâu, đại bàng, ó buteo, kền kền Cựu thế giới, diều, diều mướp và các đồng minh (cắt-không thực thụ).
* Họ Sagittaridae: Diều ăn rắn

[Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: barbatus-1x.jpg]

Vị trí của họ Accipitridae không bị nghi vấn, tuy nhiên, phần lớn các học giả đặt kền kền Tân thế giới trong bộ Ciconiiformes trên cơ sở các chứng cứ nghiên cứu phân tử, hình thái và hành vi cho thấy chúng có quan hệ họ hàng gần gũi với các loài cò hơn là với họ Accipitridae. Các loài ưng biển có nhiều điểm tương tự như họ Accipitridae và thông thường hay được coi như là các thành viên của họ này. Tuy vậy, do chúng cũng có nhiều điểm khác biệt rõ ràng, nên người ta cũng đặt nó trong một họ riêng là họ Pandionidae.


Chim ưng phục kích rắn đuôi chuông

In mục này

  Chi Chim Cắt
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:16 PM - Diễn đàn: Kinh Nghiệm Bẫy Chim Săn - Trả lời (24)

Chim cắt trong nghĩa rộng còn được dùng để gọi nhiều loài chim ăn thịt không thuộc chi này.
Chi Cắt (danh pháp khoa học: Falco) được dùng để chỉ tới những loài chim cắt thực thụ, chẳng hạn như cắt Peregrine, là những loài chim ăn thịt hay chim săn mồi.

# Cắt Aplomado, Falco femoralis
[URL="http://s190.photobucket.com/albums/z257/americanwildlife/Bird/aplomado-falcon-2.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: aplomado-falcon-2.jpg][/URL]

Tổng quan

Các loài chim này có các cánh mỏng và nhọn, điều này cho phép chúng có thể lao xuống với tốc độ rất cao. Vì thế trong dân gian mới có câu "Nhanh như cắt". Chim cắt Peregrine là loài chim nhanh nhất trên Trái Đất, được cho là có thể đạt tốc độ lao xuống cao tới 320 km/h (200 mph). Tuy nhiên, tùy theo kích thước của từng loài cụ thể mà có lúc thì người ta gọi là ưng, lúc thì là cắt.

Các loài chim cắt khác còn có ưng miền bắc, ưng Nam Á và cắt êxalon. Một số loài chim cắt thực thụ có kích thước nhỏ và ăn côn trùng, với các cánh dài và hẹp được gọi là chim cắt nhỏ, và một số loài cắt luôn bay lượn khi săn các loài động vật gặm nhấm nhỏ cần có gió nhẹ để có thể bay lượn.

# Cắt Canary, Falco (peregrinus) pelegrinoides
[URL="http://www.animalpicturesarchive.com/ArchOLD-7/1196928537.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: 1196928537.jpg][/URL]

Kích thước của chim cắt trống thông thường nhỏ hơn chim cắt mái khoảng 30%.

Các loài chim cắt thực thụ là một phần của họ Falconidae, trong đó còn bao gồm cả caracara (cắt Trung-Nam Mỹ), các loài cắt rừng Nam Mỹ và chim cắt nhỏ (các chi Spiziapteryx và Microhierax).

Trong cuốn sách Boke of St Albans, được in lần đầu tiên năm 1486, thường được coi là của Juliana Berners, thì tại châu Âu thời trung cổ, người ta chia ra thành 15 đẳng cấp trong việc sử dụng các loại chim săn mồi để đi săn của các thợ săn, trong đó các quý tộc có phẩm tước từ bá tước tới công tước hay các vị quân vương (nhưng không phải hoàng đế) được dùng các loại chim trong họ Cắt thực thụ này. Từ bá tước tới công tước được sử dụng cắt Peregrine, quân vương dùng ưng miền bắc và hoàng đế dùng đại bàng. Tuy nhiên, danh sách đó có thể không có độ tin cậy cao, do một số loài chim săn mồi là quá nhỏ để có thể đi săn được các con thú lớn hoặc vào thời điểm đó người ta phải nhập khẩu và chúng là quá đắt để các quý tộc có địa vị thấp hơn có thể có được. Người ta có câu đi săn bằng chim ưng, nhưng nói một cách khoa học thì nó không hoàn toàn đúng.

Cắt New Zealand, Falco novaeseelandiae

[URL="http://www.rbgsyd.nsw.gov.au/__data/assets/image/0005/86657/Ninox_novaeseelandiae_Southern_Boobook_620.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Ninox_novaeseelandiae_Southern_Boobook_620.jpg][/URL]

Các loài

* Cắt nhỏ châu Phi, Falco cuvierii
* Cắt Mỹ, Falco sparverius
* Cắt Amur, Falco amurensis
* Cắt Aplomado, Falco femoralis
* Cắt nhỏ Australia, Falco longipennis
* Cắt dơi, Falco rufigularis
* Cắt Ấn Độ Dương, Falco zoniventris
* Cắt Canary, Falco (peregrinus) pelegrinoides
* Cắt đen, Falco subniger
* Cắt nâu, Falco berigora
* Cắt lượn, Falco tinnunculus
* Cắt Dickinson, Falco dickinsoni
* Cắt Eleonora, Falco eleonorae
* cắt nhỏ Á-Âu, Falco subbuteo
* Cắt cáo, Falco alopex
* Cắt lớn, Falco rupicoloides
* Cắt xám châu Phi, Falco ardosiaceus
* Cắt xám, Falco hypoleucos
* Ưng miền bắc, Falco rusticolus
* Cắt Laggar, Falco jugger
* Cắt Lanner, Falco biarmicus
* Cắt nhỏ, Falco naumanni
* Cắt Madagascar, Falco newtoni
* Cắt Mauritius, Falco punctatus
* Cắt êxalon, Falco columbarius
* Cắt Nankeen, Falco cenchroides
* Cắt New Zealand, Falco novaeseelandiae
* Cắt ngực da cam, Falco deiroleucus
* Cắt nhỏ phương đông, Falco severus
* Cắt Peregrine, Falco peregrinus
* Cắt thảo nguyên, Falco mexicanus
* Cắt chân đỏ, Falco vespertinus
* Cắt cổ đỏ, Falco chicquera
* Cắt Saker, Falco cherrug
* Cắt Seychelles, Falco araea
* Cắt bồ hóng, Falco concolor
* Cắt đốm, Falco moluccensis
* Cắt Taita, Falco fasciinucha
* Cắt Réunion, Falco buboisi (tuyệt chủng)

In mục này


Thành viên đang trực tuyến
Hiên tại có 282 thành viên đang trực tuyến » 0 Thành viên | 279 Khách
Baidu, Bing, Google

Mã nguồn bởi MyBB, © 2002-2026 Tài Trợ Bởi Thamdinh.com.vn.