Thông kê diễn đàn
» Thành viên: 176,918,   » Thành viên mưới nhất: admin,   » Chủ đề: 46,693,   » Bài viết: 420,659,  
Thống kê đầy đủ

  Họ Vành khuyên
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:09 PM - Diễn đàn: Các vấn đề chung về VK - Trả lời (3)

Họ Vành khuyên hay khoen (danh pháp khoa học: Zosteropidae) là một họ chim thuộc bộ Sẻ (Passeriformes) có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Phi, miền nam châu Á và Australasia. Chúng cũng sinh sống trên phần lớn các hòn đảo của Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nhưng có lẽ không có tại khu vực viễn đông của Polynesia. Nhiều loài trong họ này là đặc hữu, chỉ có tại một vài hòn đảo nào đó, trong số đó các loài với lưng nâu chỉ sinh sống trên các hòn đảo, nhưng những loài còn lại thì có sự phân bổ khá rộng. Loài vành khuyên châu Đại Dương (Zosterops lateralis), định cư tự nhiên tại New Zealand, tại đây người ta gọi nó là "wax-eye" (mắt sáp) hay tauhau ("kẻ xa lạ"), từ năm 1855.
[URL="http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:jrySXsMj04wNTM::&t=1&usg=__ZB3c6m7hCsCvw4D-lXMfHbqUE4I="][Hình ảnh: images?q=tbn:jrySXsMj04wNTM::&t=1&usg=__...MfHbqUE4I=][/URL]

Các loài chim trong họ này nói chung rất khó phân biệt theo bề ngoài, bộ lông ở các phần trên của chúng nói chung hoặc là có màu hơi xỉn như màu ôliu ánh lục, nhưng một số loài có phần lông ở họng, ngực hay các phần dưới màu trắng hay vàng tươi, và một vài loài có phần hông màu vàng sẫm như màu da bò. Nhưng, như được chỉ ra trong tên gọi khoa học của chúng, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại để chỉ cái vành đai quanh mắt, xung quanh mắt của nhiều loài có một vành tròn màu trắng dễ thấy. Chúng có các cánh thuôn tròn và các chân khá khỏe. Chiều dài cơ thể tối đa khoảng 15cm (6 inch).

Tất cả các loài trong họ này đều sống thành các bầy lớn và chỉ tách ra khi tới mùa sinh sản. Chúng làm tổ trên cây và đẻ 2-4 trứng màu lam nhạt không đốm. Thức ăn chủ yếu của chúng là côn trùng, nhưng cũng ăn cả mật hoa và quả của nhiều loài thực vật. Loài vành khuyên châu Đại Dương có thể là vấn đề tại các vườn nho tại Australia, do chúng khoét các quả nho và do đó làm giảm phẩm cấp của nho.

Các chi

* Apalopteron - Hút mật đảo Bonin (có lẽ nên gọi là "Vành khuyên đảo Bonin")
[URL="http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:WygnKvSrJT-slM::&t=1&usg=__ReFjseb4uEo1gw1s7Uu5qfYD8ao="][Hình ảnh: images?q=tbn:WygnKvSrJT-slM::&t=1&usg=__...u5qfYD8ao=][/URL]
* Chlorocharis: Vành khuyên đen miền núi, 1 loài
[URL="http://farm4.static.flickr.com/3037/2507715957_3f73b0e286.jpg"][Hình ảnh: 2507715957_3f73b0e286.jpg][/URL]
* Cleptornis: Vành khuyên vàng, 1 loài
[URL="http://farm4.static.flickr.com/3231/2505356482_73aceaecfa.jpg"][Hình ảnh: 2505356482_73aceaecfa.jpg][/URL]
* Heleia: Vành khuyên, 2 loài, Đông Timor
[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/spotb.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: spotb.jpg][/URL]
* Hypocryptadius: Vành khuyên nâu vàng, 1 loài
[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/cinnamonibon_lg.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: cinnamonibon_lg.jpg][/URL]
* Lophozosterops: Vành khuyên 6 loài
* Madanga: Vành khuyên họng hung, 1 loài
[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/rufousthroateddarkeyeb.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: rufousthroateddarkeyeb.jpg][/URL]
* Megazosterops : Vành khuyên lớn, 1 loài, đôi khi coi là một phần của chi Rukia.
[URL="http://static.flickr.com/52/135778480_68df135c56.jpg"][Hình ảnh: 135778480_68df135c56.jpg][/URL]
* Oculocincta: Vành khuyên lùn, 1 loài
[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/pygmyibon8_copy1.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: pygmyibon8_copy1.jpg][/URL]
* Rukia: Vành khuyên Đông Carolines, khoảng 2 loài
* Speirops: Khoảng 4 loài
[URL="http://www.africanbirdclub.org/countries/SaoTome/images/STP-Speirops.jpg"][Hình ảnh: STP-Speirops.jpg][/URL]
* Tephrozosterops: 1 loài
[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/blackmasked_whiteeyeis.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: blackmasked_whiteeyeis.jpg][/URL]
* Woodfordia: Vành khuyên, 2 loài
[URL="http://tegano-lake.com/web%20site%20pics/manu1.png"][Hình ảnh: manu1.png][/URL]
* Zosterops: Vành khuyên điển hình (khoảng 75 loài, 1-3 loài mới tuyệt chủng gần đây); có lẽ là đa ngành.
[URL="http://www.rbgsyd.nsw.gov.au/__data/assets/image/0010/88525/Zosterops_lateralis_Silvereye_620.JPG"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Zosterops_lateralis_Silvereye_620.JPG][/URL]

( Wikipedia )

In mục này

  Chích chòe nước
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:08 PM - Diễn đàn: Thảo luận chung - Trả lời (16)

[URL="http://www.birding.in/images/Birds/rajiv/forktail.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: forktail.jpg][/URL]

Chích chòe nước là các loài chim nhỏ ăn sâu bọ thuộc chi Enicurus. Trước đây chúng được phân loại trong họ Hoét (Turdidae), nhưng hiện nay thông thường được coi là một phần của họ Đớp ruồi (Muscicapidae). Chúng có đuôi dài và chẻ hình cái nĩa.
[URL="http://www.kolkatabirds.com/manas/spottedforktail8sc.jpg"][Hình ảnh: spottedforktail8sc.jpg][/URL]

Đây là các loài chim sống trong rừng ở khu vực Đông Nam Á, chủ yếu gắn liền với các cánh rừng và suối nước thuộc khu vực miền núi. Phần lớn các loài làm tổ trong các kẽ nứt của núi đá, đẻ từ 2 tới 4 trứng.



* Chích chòe nước lưng đen: Enicurus immaculatus
[URL="http://farm4.static.flickr.com/3556/3572792586_97ebc4021c.jpg"][Hình ảnh: 3572792586_97ebc4021c.jpg][/URL]
* Chích chòe nước đầu trắng: Enicurus leschenaulti
[URL="http://farm1.static.flickr.com/111/288404816_e44ecb3ccb.jpg?v=0"][Hình ảnh: 288404816_e44ecb3ccb.jpg?v=0][/URL]
* Chích chòe nước đốm trắng hay chích chòe nước lưng đốm: Enicurus maculatus (Loài này có thấy ở vùng dalat Lâm Đồng )
[URL="http://www.kolkatabirds.com/hillbirdsofind/ddspottedforktail81.jpg"][Hình ảnh: ddspottedforktail81.jpg][/URL]
* Chích chòe nước gáy hạt dẻ: Enicurus ruficapillus
[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/cnf_39787_640_ysp.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: cnf_39787_640_ysp.jpg][/URL]
* Chích chòe nước trán trắng hay chích chòe nước lưng xám: Enicurus schistaceus
[URL="http://www.birding.in/images/Birds/rajiv/sb_forktail.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: sb_forktail.jpg][/URL]
* Chích chòe nước nhỏ: Enicurus scouleri
[URL="http://www.birdingintaiwan.com/Little%20Forktail.B.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Little%20Forktail.B.jpg][/URL]
* Chích chòe nước Sunda: Enicurus velatus
[URL="http://farm2.static.flickr.com/1078/1117336478_e14955c3d6.jpg"][Hình ảnh: 1117336478_e14955c3d6.jpg][/URL]

In mục này

  Chim Yểng ( Nhồng )
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:07 PM - Diễn đàn: Nhồng-Yểng - Cưỡng - Sáo. - Trả lời (17)

Nguồn Sưu tầm trên Internet

Yểng (Nôm:��)(danh pháp khoa học: Gracula religiosa) (là một loài chim thuộc Họ Sáo (Sturnidae) sống ở các khu vực đồi núi Nam Á.
Phân bố

Yểng sinh sống ở vùng dưới chân núi Himalaya từ Kumaon, Ấn Độ (80oE) về phía đông tới Nepal, Sikkim, Bhutan và Arunachal Pradesh ở những nơi có độ cao lên đến 2000 m[1]. Các loại liên quan khác được phát hiện ở Tây Ghats của Ấn Độ và ở Sri Lanka, G. r. indica và G. r. ptilogenys, đã được tách ra thành một loài riêng là Yểng Ấn Độ (Gracula indica), loài này sinh sống chủ yếu ở Nilgiris và Ceylon Hill Myna (Gracula ptilogenys), tại Kerala và Sri Lanka. Yểng cũng sống tại Thái Lan, Indonesia, Việt Nam và nhiều nơi ở Đông Nam Á.

Chim yểng lớn có chiều dài 29 cm, lông màu đen xanh biếc, mỏ màu vàng đỏ, đầu có lông sọc vàng. Chúng ăn các loại côn trùng và trái cây.

[URL="http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:Y0UA0fBJtpAkTM::&t=1&usg=__vtTWzUFi8cO0NRegLm8uUMsBYlg="][Hình ảnh: images?q=tbn:Y0UA0fBJtpAkTM::&t=1&usg=__...8uUMsBYlg=][/URL]

In mục này

  Khướu Đá Đuôi Cụt
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:05 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Khướu - Trả lời (3)

[URL="http://www.mangoverde.com/birdsound/images/00000020617.jpg"]Nguồn Sưu tầm trên Internet[/URL]
[URL="http://www.mangoverde.com/birdsound/images/00000020617.jpg"][Hình ảnh: 00000020617.jpg][/URL]

Khướu đá đuôi cụt (danh pháp khoa học: Napothera brevicaudata) là một loài chim trong họ Họa mi (Timaliidae). Loài chim này sinh sống trong khu vực Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Malaysia, Myanma, Thái Lan và Việt Nam. Môi trường sống tự nhiên của nó là các vùng rừng đồng bằng cũng như vùng ven núi ẩm ướt nhiệt đới và cận nhiệt đới.

(wikipedia)

[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/streaked_wren_babbler10aashss.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: streaked_wren_babbler10aashss.jpg][/URL]

Loài này có rất nhiều ở vùng rừng Dalat . Chúng có tiếng hót lảnh lót rất hay . Tôi chỉ được thấy loại này ngoài rừng chứ chưa thấy ai nuôi
Loài này đi lẻ. Vì sợ gai và vắt nên mình chưa tiếp cận gần được để chụp hình. Đành lấy hình từ Oriental Bird Club Image Database:

Tên chim: Khướu đất PIGMY(Pygmy Wren Babbler/Pnoepyga pusilla)

[URL="http://img682.imageshack.us/img682/244/pygmy3.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: pygmy3.jpg][/URL]

[URL="http://img27.imageshack.us/img27/3828/pygmy2t.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: pygmy2t.jpg][/URL]

Pygmy Wren Babbler/Pnoepyga pusilla
[URL="http://4.bp.blogspot.com/__Dq5_ABpFrs/SHyqcHotehI/AAAAAAAAC7I/3NDvY3i4Lss/s400/Pygmy+Wren+Babbler_Bukit+Larut_120708_IMG_0823.jpg"][Hình ảnh: Pygmy+Wren+Babbler_Bukit+Larut_120708_IMG_0823.jpg][/URL]

[URL="http://2.bp.blogspot.com/__Dq5_ABpFrs/SHyrHuFBh9I/AAAAAAAAC7Q/BRj8C0DnFAE/s400/Pygmy+Wren+Babbler_Bukit+Larut_120708_IMG_0909.jpg"][Hình ảnh: Pygmy+Wren+Babbler_Bukit+Larut_120708_IMG_0909.jpg][/URL]

Napothera brevicaudata Short-tailed Wren Babbler
[URL="http://pic.pimg.tw/vanlu/1189031038.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: 1189031038.jpg][/URL]

[URL="http://pic.pimg.tw/vanlu/1189031039.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: 1189031039.jpg][/URL]

In mục này

  Một cái nhìn đúng về nghệ thuật nuôi chim săn mồi
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:02 PM - Diễn đàn: Kiến thức chung về chim săn - Trả lời (11)

Nguồn Sưu tầm trên Internet

Có lẽ từ rất bé, không ít người trong chúng ta bị thu hút và quyến rũ bởi hình ảnh của những con chim săn mồi hùng dũng bay lượn trên bầu trời và phong cách đi săn mạnh mẽ và quyết đoán của chúng. Chim săn mồi từ lâu đã là nguồn cảm hứng của rất nhiều người, thậm chí là của cả 1 đế chế hay một quốc giá, không ít đất nước đã lấy hình ảnh những con chim này làm biểu tượng cho sức mạnh và quyền lực.
[URL="http://ibc.lynxeds.com/files/pictures/che.JPG"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: che.JPG][/URL]

Nhắc đến Falconry, có lẽ chúng ta còn quá lạ lẫm với định nghĩa này vậy chính xác Falconry là gì? Có phải chỉ đơn giản là nuôi chim rồi gọi chim bay về tay như ta thấy trong những bộ phim hay đưa thư truyền tin?

Falconry là nghệ thuật đi săn với chim săn mồi đã được huấn luyện trong môi trường tự nhiên.

Nghe đến đây thì có lẽ chúng ta có phần nào liên tưởng đến falconry là gì. Hình ảnh chúng ta có thể dễ liên tưởng nhất là các tộc người Mông Cổ đi săn với loài Đại Bàng Vàng huyền thoại (Golden Eagle) hoặc những cuộc đi săn của nhà vua, quí tộc và hiệp sĩ trên lưng ngựa với những con chim săn mồi hoàng gia đang ở trên găng tay.

I/ Lịch Sử:

Nguồn gốc của môn thể thao này bắt đầu từ đâu không ai biết, có rất nhiều giả thiết về nguồn gốc của nó vốn khởi nguyên từ Trung Quốc, Ba Tư, Trung Á.. vv nhưng chưa hề có một bằng chứng thuyết phục nào có thể chứng minh được chính xác điều này. Nhưng theo một tài liệu đáng tin cậy như giáo sư Akizato Rito trong quyển "Topography of the Province Kawatsi" đã khẳng định rằng có những giống chim săn mồi được sử dụng làm tặng cho các Hoàng Tử Trung Quốc vào thời nhà Hán (tức khoảng 2205 trước công nguyên). Hoặc trong quyển Biblotheca Accipitraria của Harting, có những falconer đã được phát hiện tại một phế tích của Khorsabad ở Mesopotamia bởi Sir Henry Layard, sự kiện này xảy ra vào khoảng năm 1700 trước công nguyên. Tuy không hề có bằng chứng nào về các sự kiện trên nhưng nếu là sự thật, falconry là môn thể thao cực kì lâu đời.

Những tài liệu mới nhất về Falconry có lẽ chỉ ra địa điểm xuất xứ của nó tại Nhật Bản, theo ghi chép thì đã có những con Goshawk được huấn luyện mang từ Trung Quốc vào năm 47 của Vương Triều Hoàng Đế Jingu. Nhưng môn thể thao nào bị rơi vào quên lãng suốt vài trăm năm nữa. Đến triều đại của Hoàng Đế Nintoku khoảng năm 355 A.D thì môn thể thao này trở nên thịnh hành. Trong Nhật Bản Thư Kỉ (Ninhonshoki) có ghi chép việc có 1 con chim lạ bị bẫy và dâng lên cho Hoàng Đế và một người Hàn Quốc trong phiên dự đã nhận ra loài chim đó và được giao sứ mệnh huấn luyện nó (Khả năng rất cao đó là một con Goshawk). Anh ta đã biết cách dùng dây cột chân và chuông trên đuôi con chim, đến mùa thù, con chim săn mồi đã bắt được con mồi đầu tiên trên cánh đồng ở Mozu (gần Osaka ngày nay). Sau sự kiện này, Hoàng Đế đã đặt một nền móng cơ bản cho môn thể thao này, 2 năm sau, người ta bắt đầu dùng chó để đi săn cùng với chim. Kể từ đó, Falconry đã rất được thịnh hạnh tại Nhật Bản nhưng việc sở hữu một con chim săn mồi có khá nhiều giới hạn như chỉ có những người có cấp độ samurai trở lên mới được sỡ hữu một con chim săn mồi. Điều này dĩ nhiên nhấn mạnh rằng Falconry đã có nguồn gốc lâu đời ở Hàn Quốc hơn là Ở Nhật, đến ngày nay, Hàn Quốc vẫn xem Falconry là một môn thể thao truyền thống của dân tộc.

Trong thời điểm này, Falconry được phổ biến sang các nước Phương Tây như Anh và Châu Âu. Có lẽ một bằng chứng rõ ràng nhất của việc Falconry được phổ biến tại Châu Âu là những ảnh chạm khắc trên sản thể hiện đi săn falconry, "Villa of the Falconer" của Argos tại Hy Lạp. Những bằng chứng này xuất hiện từ năm 500 A.D. Falconry cũng được tập luyện tại Anh vào thời Saxon, giữa những năm A.D 733 và 750.

Trong thời gian này, Falconry trở nên một phần của bối cảnh Trung Cổ. Phần lớn các Hoàng Đế và Quí Tộc đều có hứng thú với môn thể thao nào. Thậm chí một số loài chim nhất định được đánh giá cực cao và chỉ dùng làm quà tặng đối với các Hoàng Tử Và Vua Chúa. Thậm chí còn được xem là một hình thức phạt tiền, tiền chuộc hay trao đổi giữa các nước như vàng ngọc hay gấm vóc.

Có lẽ người đầu tiên bắt được một con chim săn mồi và nảy ra ý tưởng nó sẽ giúp mình kiếm thức ăn không bao giờ nghĩ nó sẽ trở thành một môn thể thao. Mục đích ban đầu của những falconer chỉ là dùng chim săn mồi đi săn tìm thức ăn cho anh ta/cô ta.

Ngày nay, Falconry khá thịnh hành tại Anh, Mĩ và các nước Châu Âu cùng vài quốc gia Châu Á. Tùy vào điều luật của từng nước mà khả năng sở hữu chim của các falconer sẽ khác nhau. Có thể kể ra vài quốc gia tiêu biểu:

- Mĩ: Mất 2 năm đầu tập huấn dưới sự chỉ dẫn của mộ Mentor có kinh nghiệm để lấy bằng Apprentice, trong thời gian này thì người tập chỉ được sử dụng các loài sau: Harris Hawk, Red-Tailed Hawk hay Kestrel tùy luật từng bang. Sau đó thì mất thêm 5-7 năm để có thể lên cấp General Falconer và 2 năm nữa để lên Master Falconer, tức khoảng 10 năm để lên Master. Nếu bạn có ý định muốn huấn luyện một con đại bàng thì nên nhớ, bạn cần sự đồng ý của ít nhất 2 Master falconer trong vùng, họ sẽ viết giấy trình lên hội đồng và xác nhận bạn có đủ tiêu chuẩn để huấn luyện đại bàng, đủ cho thấy việc huấn luyện đài bàng cần công sức và kinh nghiệm ra sao.

- Anh: Hệ thống Apprentice tại Anh không tốt như US, ở Anh người ta có thể tự do sỡ hữu các loài chim thường như Harris Hawk hay Red-Tailed Hawk mà không cần giấy tờ gì cả. Nhưng những loài chim cao hơn như Peregrine hay Gyr thì vẫn cần. Ở Anh không cho falconer bắt chim hoang dã vì Anh vốn đã có thể nhân giống và cung cấp đủ số lượng chim săn mồi cho người chơi. Khác với US, UK không cần đòi hỏi bằng cấp Falconer để chơi chim.

- Nhật Bản: Falconry đã bị cấm tại Nhật Bản, lí do vì có một vài falconer vô trách nhiệm điều khiển cho những con Mountain Hawk Eagle (loài chim rất phổ biến trong falconry ở Nhật Bản) tấn công những con chó và mèo cảnh của người dân. Một vài Falconer được xem là Bảo Vật Sống của Nhật Bản hiện nay cũng đang bị cấm không cho đi săn với con chim của mình. Cho thấy hành động của một vài cá thể có thể gây ảnh hưởng đến bộ mặt falconry của cả 1 quốc gia.

- Hàn Quốc: Falconry vẫn còn đang được luyện tập và được xem như một môn thể thao truyền thống của quốc gia này.

- Việt Nam, Indonedis, Thái Lan, Philippines: Không hề có một bộ luật nào dành riêng cho Falconry, các nước khu vực này đều có chung một đặc điểm là số lượng chim ở tự nhiên bị bắt và bán bởi những người bán cực kì vô trách nhiệm và thiếu biết. Tôi đã có dịp tiếp xúc với một vài falconer tại Indo và Thái Lan, họ thực tập falconry trong môi trường giống như Việt Nam chúng ta: Không sách, không tài liệu, không kiến thức, không phụ kiện, vẫn phải mua chim ko hợp pháp... nhưng đã có không ít thành công. Tuy nhiên ở Indo và Phillipines đã có những djự án bảo tồn các loài chim săn mồi quí tại từng quốc gia như Javan Hawk Eagle tại Indo (số lượng còn lại tại Indo không quá 400 cặp) hay Phillipines Eagle (không còn quá 500 cá thể)

II/ Các loài chim được sử dụng trong Falconry:

Có một điều mà chúng ta nên biết trước khi tìm hiểu các khía cạnh của Falconry là: Không phải loài chim nào cũng có thể trở thành chim đi săn sử dụng trong Falconry. Thiên nhiên đã cho khá nhiều loài chim những đặc điểm về tính cách, phong cách bay, khả năng săn mồi, con mồi tự nhiên... khác nhau. Một số loài chỉ chú trọng việc ăn xác chết và không quan tâm mấy đến tấn công mồi sống, một số loài thì con mồi chủ yếu chỉ là côn trùng, bò sát hay cá hay một số loài có phong cách đi săn quá phiền hà nếu sử dụng trong falconry... Chính vì những đặc điểm này, khá nhiều loài đã tự loại mình ra khỏi việc trở thành một Falconry thực thụ.

Ở đây tôi sử dụng tên phân loại của nước ngoài vì lí do là nó chính xác và rõ ràng hơn, được cả thế giới xác nhận, còn tên Việt Nam thì quả thật chẳng biết họ xếp loài hay bộ ra sao mà gọi tên. Mỗi loài chim có những đặc điểm cơ bản có thể nhận dạng được mà chỉ cần một chút quan sát và tìm hiểu bạn sẽ nhận ra ngay.

Các loài chim được sử dụng trong Falconry hiện đại ngày nay chỉ bao gồm 2 thành phần chính là nuôi chim non (Eyeass) và nuôi chim đã đủ lông cánh biết bay nhưng dưới 1 năm tuổi và chưa thay lông lần nào (Passage). Mỗi loại có những khó khăn và ưu điểm đặc thù, nên đừng nghĩ việc nuôi chim non sẽ dễ dàng hơn thuần một con chim dưới 1 năm tuổi được trap từ thiên nhiên. Những con chim trưởng thành đã từ lâu không còn sử dụng trong Falconry hiện đại nữa, lí do vì nếu bắt giữ chúng thì có khả năng ảnh hưởng đến số lượng chim ngoài tự nhiên rất mạnh vì chúng đã sống sót và có khả năng sinh sản. Dù tin hay không thì bạn nên biết: số chim non ngoài thiên nhiên thì sau 1 năm đầu, có 60% số chim sẽ chết, vì không thể học đi săn đủ nhanh để sống sót, không đủ mồi sống, không thể cạnh tranh hay chết vì tai nạn, bệnh vv.. Những con chim sống sót đến khi trưởng thành sau năm đầu đã được thiên nhiên chọn lọc và tiếp tục duy trì nòi giống. Bắt một con chim trưởng thành đồng nghĩa với việc bạn đập một tổ chim có 4 trứng vì có lẽ trong 4 đứa con được sinh ra thì chỉ có 1 con sẽ sống sót.

Một lí do nữa chim trưởng thành trên 1 năm tuổi (Haggard) không được sử dụng là một khi chúng trưởng thành, một vài loài sẽ không bao giờ chấp nhận sự có mặt của con người không cần biết bạn có giảm cân hay dành thời gian thuần nó bao nhiêu, ví dụ điển hình là Haggard Sparrow-Hawk hoặc Haggard Marsh Harrier.. Chưa kể chim trưởng thành có thói quen đi săn một mình, chúng sẽ rất khó chấp nhận một người đi săn cùng và có thể tự ý bay theo ý mình và không phối hợp cùng người và chó.

Giới thiệu chung như vậy có lẽ cũng cho bạn một cái nhìn chung về những loài chim của Falconry chứ, vậy chúng ta đi vào những mục chi tiết.

A/ Buzzard:
[URL="http://newsimg.bbc.co.uk/media/images/44372000/jpg/_44372495_buzzard.jpg"][Hình ảnh: _44372495_buzzard.jpg][/URL]

Buzzard là giống chim săn mồi thuộc họ Accipitridae và bộ Buteo, chúng còn được gọi là Broad-wing-hawk. Đặc điểm chung của loài này là có cánh khá dài và rộng, móng chân to và ngắn, đuôi khá ngắn. Buzzard với thân hình to lớn và đôi cánh lớn, phong cách đi săn chủ yếu của chúng là bay cao rồi lượn cùng sức gió rồi chụp con mồi từ trên với bộ móng vuốt khỏe mạnh. Buzzard dùng trong falconry thì điển hình có Harris Hawk, Red-Tailed Hawk và Ferruginous Hawk, chúng đều là chim cỡ trung bình-lớn, không cần phải mất quá nhiều thời gian trong việc thuần và tập luyện thường xuyên để giữ chúng khỏe mạnh như các loài khác. Có lẽ vì lí do đó chúng được xem là chim dành cho người mới chơi. Nhưng chúng cũng sẽ là những thợ săn rất giỏi nếu được vào tay những Falconer chuyên nghiệp.

Một số loài Buzzard khác thì mặc dù với thể hình to lớn nhưng lại hoàn toàn vô dụng trong Falconry như Crested Honey Buzzard, loài này có mặt ở Việt Nam, chim khá to và nặng, có thể to hơn cả những con chim Hawk Eagle tại Việt Nam nhưng con mồi tự nhiên của chúng là những tổ ong, côn trùng, bò sát.. vv cùng phong cách bay chậm chạp và rất khó để chăm sóc đúng cho chúng nếu ở trong sự quản lí của người.

Các loài buzzard ở Việt Nam mà tôi tiếp xúc: Gray-faced Buzzard, Crested Honey Buzzard. Tôi chỉ có dịp tiếp xúc thực sự cùng chim đã trưởng thành và chim 1 năm tuổi trong 1 thời gian rất ngắn nên không thể cho bạn biết khả năng của chúng nhiều nhưng chúng khá thụ động và không dễ hoảng loạn như Accipiter. Có lẽ sẽ mất rất nhiều thời gian để dạy chúng làm bất kì thứ gì theo ý bạn.

B/Hawk:

[URL="http://img192.imageshack.us/img192/9979/pa273182.jpg"][Hình ảnh: pa273182.jpg][/URL]
Hawk là loài chim săn mồi họ Accipitridae, dòng Accipiter. Chúng thường được gọi là True-Hawk, Short-Wing. Đặc điểm chung của loài này là cánh ngắn hơn nhiều so với dòng Buteo, móng chân dài hơn dòng Buteo và đuôi khá dài. Accipiter là những thợ săn hung hãn và mạnh mẽ, phong cách săn mồi của chúng là rời khỏi cành đầu với lực đà cực mạnh cùng gia tốc rất cao, Accipiter bay chủ yếu bằng cách đập cánh liên tục tạo nên gia tốc đó. Đi săn với Accipiter là một trải nghiệm thú vị mà bạn chắc chắn sẽ thích khi chứng kiến sự nhanh nhẹn và quyết đoán của chúng khi bắt mồi. Accipiter thường không giết con mồi ngay khi chúng bắt được mà chỉ khóa cho chúng không cử động được và rỉa lông ăn khi chúng còn sống, Accipiter sẽ giết nếu con mồi kháng cự quá nhiều và có khả năng sát thương chúng.

Mặc dù với khả năng đi săn cao nhưng Accipiter có hệ thần kinh khá nhạy cảm và rất dễ bị sợ hãi. Một falconer huấn luyện Accipiter phải cực kì cẩn thận trong việc thuần cho chim quen người vì loài này cần sự tiếp xúc liên tục để có thể duy trì trạng thái bình tĩnh của chúng, bạn cho chúng vào lồng kín khoảng 10 ngày không tiếp xúc chỉ ném thức ăn vào, chúng sẽ bay tránh xa bạn trong lần kế tiếp gặp bạn. Cách duy nhất để khắc phục chuyện này là Social Imprint nhưng nó cũng sẽ không làm cho việc chăm chúng trở nên dễ dàng hơn nhiều. Một số loài chim nhỏ như Sparrow-hawk có hệ thống tiêu hóa rất nhanh và cực kì dễ hoảng sợ, cho dù bạn cho nó ăn thật no và ban sáng thì chúng có thể săn vào chiều hôm đó, điều này rất hữu ích cho việc weight control. Nhưng cái hại là vì chúng là chim nhỏ nên chỉ sai lầm vài chục gram trong weight control có thể bạn sẽ tỉnh dậy với một con chim đã chết đói ngày mai, hoặc chỉ trên vài chục gram bạn sẽ làm bay mất con chim của mình trong một buổi tập. Các Falconer nước ngoài luôn khuyên: Đừng nên chọn Sparrow-Hawk trừ phi bạn có ít nhất một mùa đi săn thành công cùng Goshawk, Goshawk cũng không phải là một con chim dễ nuôi.

Ở Việt Nam các loài Accipiter tôi từng tiếp xúc gồm có: Crested Goshawk, Eurasian Sparrow-Hawk, Shikra, Besra. Chúng đều là loài chim khá nhỏ, khoảng 150gram-300gram, rất khó chăm và weight control.

C/ Falcon:

[URL="http://img85.imageshack.us/img85/567/peregrinebadsalmon.jpg"][Hình ảnh: peregrinebadsalmon.jpg][/URL]
Falcon thuộc họ Falconidae và dòng Falco, Falcon có thể hình đặc biệt khác với các loài khác ta vừa kể trên. Chúng có bộ cánh rất dài và chĩa nhọn, mỏ ngắn, đầu tròn, mắt đen thường có 2 vệt 2 bên mắt, vuốt chân của Falcon rất dài vì trong thiên nhiên con mồi chủ yếu của chúng là chim. Falcon nổi tiếng với phong cách bay đặc thù của chúng, bốc lên rất cao và chụp xuống với vận tộc cực lớn, tuy falcon có những chiến thuật khác cũng hiệu quả không kém nhưng đây là khả năng nổi tiếng nhất.

Vì phong cách bay của chúng là bay lên thật cao, quan sát trải một vùng rộng lớn và chụp xuống, falcon cần một không gian đi săn rộng lớn, điều mà có lẽ không nhiều người ở Việt Nam có thể đáp ứng được.

Các loại Falcon đã thấy ở Việt Nam: Kestrel, Eurasian Hobby, Black-Shaheen, Peregrine. Thật không may là tôi chưa có dịp thực sự tiếp xúc với bất cứ loại chim nào kể trên nhưng có thể sẽ rất thú vị nếu đủ thời gian và điều kiện để dành cho một con. Falcon là loài chim đánh giá cao trong falconry và lại rất phổ biến.

D/ Eagle-Hawk Eagle:
[URL="http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:FDuDkKEgm5asHM::&t=1&usg=__U-OJYXB-q6Zau4M4Lf7Gxct7xps="][Hình ảnh: images?q=tbn:FDuDkKEgm5asHM::&t=1&usg=__...7Gxct7xps=][/URL]
Như tên gọi và tiếng tăm của chúng, là loài chim từ trung bình-lớn đến rất lớn. Ở đây thì Eagle nói chung chia làm 4 nhóm:


-Sea Eagle/Fish Eagle: Đại Bàng Biển, với đôi cánh rất lớn và dài, mỏ to và khỏe, móng vuốt vừa phải và có vảy bám rất chặt để bắt cá. Sea Eagle lại rất khó sử dụng trong Falconry vì phong cách đi săn và con mồi tự nhiên của chúng là cá và xác thối. Điển hình tiêu biểu cho loại này là Đại Bàng Đầu Bạc, chim rất to và nặng nhưng không được sử dụng trong falconry, Đại Bàng Đầu Bạc là loài chim cơ hội, chuyên cướp mồi săn của các loài chim khác, luôn chọn con mồi bé hơn mình mà tấn công, chuyên ăn cá và xác thối và rất hung dữ nếu ở trong tay người huấn luyện nhưng lại rất khó đi săn. Ở Việt Nam thì có loài Sea Eagle khá nổi tiếng là White-Bellied Sea-Ealge ở Phú Quốc
[URL="http://www.trevorsbirding.com/wp-content/uploads/2006/06/sydney_taronga_park_20060225_049.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: sydney_taronga_park_20060225_049.jpg][/URL]


-Serpent Eagle: Đúng như tên gọi của chúng, Serpent Eagle là loại chim đại bàng chuyên săn rắn, ngoài cách đặc điểm kể trên thì móng vuốt chúng có một lớp vảy rất dày để tránh bị rắn cắn khi giao chiến với con mồi. Serpent Eagle ở Việt Nam có tiêu biểu và dễ thấy là Crested Serpent Eagle, chim khá to và đẹp nhưng cũng khó hữu ích trong Falconry.

[URL="http://ibc.lynxeds.com/files/pictures/Belize%20052.JPG"][Hình ảnh: Belize%20052.JPG][/URL]
-Forest Eagle: Loài chim từ to đến rất to, forest eagle có đôi sải cánh rất lớn và dài cùng kích cỡ ngoại hạng cùng móng chân to khỏe. Những con Forest Eagle tiêu biểu có thể thấy là Phillipine Eagle và Harpy Eagle, được biết đến vì khả năng có thể đi săn cả khỉ,những con mồi nguy hiểm nhất. Tuy nhiên Forest Eagle khá hiếm sử dụng trong Falconry vì chúng quá to và hiếm, khó có một Falconer nào đủ khả năng và điều kiện để chăm sóc và đi săn cùng một con Forest Eagle thật sự.
[URL="http://img688.imageshack.us/img688/9799/iotmfebruary2009750px.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: iotmfebruary2009750px.jpg][/URL]


-True Eagle/Booted Eagle: Đây là loài Eagle phổ biến và được đánh giá cao nhất trong falconry. True Eagle có một lớp lông phủ kín đến tận bàn chân, chân khá dài và móng khỏe và các đặc điểm khác của dòng Eagle. True Eagle cực kì hung hãn và dũng mãnh, một số loài như Golden Eagle hay Crowned Eagle đã trở thành huyền thoại với khả năng của chúng trong falconry. True Eagle sẵn sàng tấn công tất cả mọi thứ nhỏ hay thậm chí lớn hơn chúng nếu được luyện đúng cách.

Tiếc là ở Việt Nam hiện tại không có Eagle, chỉ có các loài Hawk Eagle, cũng được đánh giá rất cao trong Falconry. Hawk Eagle như trong tên gọi của chúng, có cả những đặc điểm của Eagle và Hawk. Thời gian trưởng thành của Hawk Eagle cũng rất cao như Eagle (ít nhất 3 năm) và mỗi tổ chỉ đẻ 1 trứng. Mỏ khá dài và khỏe, móng vuốt sắc và chân phủ đầy lông. Phong cách bay thì khá giống Accipiter Hawk, rời khỏi cành đậu với sức bật kinh người và đập cánh liên tục để gia tốc khác với Eagle đập cánh khá ít và lướt nhiều hơn.

Hawk Eagle/Eagle đều mất rất nhiều thời gian và công sức để có thể huấn luyện cùng một lượng kinh nghiệm và kiến thức rất lớn cần chuẩn bị và phụ kiện phải đầy đủ. Vì to lớn nên Hawk Eagle/Eagle mất rất lâu để trưởng thành và trở nên khỏe mạnh đủ để đi săn. Với Hawk, có lẽ chỉ cần mất 2-3 tuần bay tự do bạn sẽ có một con chim cực khỏe đủ để săn mồi nhưng với Eagle thì đó có thể từ 2-3 tháng đến 12 tháng. Và thời gian dành cho chúng mỗi ngày thì từ 2-6 tiếng, kể cả thời gian cho ăn, dọn phân, tập bay. Vv.. Hawk Eagle/Eagle cũng học khá chậm so với Hawk hay Falcon, có lẽ vì thế ngoài thiên nhiên chúng phụ thuộc vào bố mẹ nhiều hơn Hawk hay Falcon. Hawk, Falcon chỉ mất 2-3 tháng đầu để bố mẹ chăm sóc và cho ăn, chúng có thể bay và rời tổ đi săn. Còn Hawk Eagle/Eagle mất 1 năm để ở cùng bố mẹ, học cách đi săn và bay lượn. Hơn nữa tuổi thọ của loài chim này rất lớn, có thể đạt 50-60 năm, thì tức là 3 năm đầu cũng giống nhưng là những năm đang trưởng thành của những loài chim này, bạn không thể bắt chúng trưởng thành và học nhanh hơn khả năng mà tạo hóa đã sắp đặt cho chúng.
[URL="http://img218.imageshack.us/img218/8112/3207666282b4384ec582.jpg"][Hình ảnh: 3207666282b4384ec582.jpg][/URL]

Tôi đang sở hữu cho mình một Changeable Hawk Eagle tên Morphine, nuôi từ lúc chim còn ra lông. Mất 6 tháng đầu chỉ để cho chim ăn, dọn phân, chăm sóc, tập làm quen với người và môi trường thì chim mới đủ lông đủ cánh. 3 tháng sau thì tôi dùng để từ từ hạ cân nặng của chim xuống để tìm cân nặng lí tưởng để chim bay và đi săn. Lúc đó Morphine chỉ nặng khoảng 1.5kg khi mập nhưng sau 3 tháng thì mới hạ xuống được cân nặng lí tưởng, trong thời gian đó tôi chịu đựng không ít cơn thịnh nộ của chim vì bị cắt giảm thức ăn bất ngờ, trên tay tôi vẫn còn không ít vết sẹo còn để lại của Morphine. Chưa kể trong thời gian chăm sóc chim non, tôi đã gặp sai sót trong việc cho ăn nên giờ Morphine đã trở thành một “screamer”, và điều này cực kì tệ cho bạn và gia đình, có thể cả hàng xóm. Đã hơn 9 tháng, tôi mới có chút kết quả là việc đang cho chim tập bay tự do rất tốt và trong giai đoạn “getting fit” để đi săn mồi. Để có được kết quả này, tôi đã bỏ gần 1 năm của công sức và tiền bạc, và sau mỗi buổi tập (Tôi đi 1 tuần 2-4 lần và mỗi buổi 2 tiếng), cả tôi và bạn đều mệt nhừ người. Liệu có bao nhiêu người trong chúng ta đủ khả năng để bỏ ra nhiều như vậy?

Có lẽ không nhiều vì đa số những con chim Hawk Eagle thật sự tôi thấy đều bị nhốt trong lồng, cột chân cả ngày và ăn những thứ thức ăn cực kì tệ.

Các loài Hawk Eagle đã tiếp xúc ở Việt Nam: Changeable Hawk Eagle, Mountain Hawk Eagle, Bellied Rufous Hawk Eagle. Qua tiếp xúc tôi thấy chúng đều là thợ săn cự phách nhưng cần rất nhiều đầu tư từ người nuôi, rất bình tĩnh và làm quen nhanh với môi trường ngoài và con mồi mới, Hawk Eagle còn có khả năng đi săn trong môi trường không rộng lớn, cho ta 1 ưu thế khi đang ở Việt Nam.

In mục này

  Những Loài Chim Quý
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 11:59 AM - Diễn đàn: Kiến Thức Chung Về Chim Rừng. - Trả lời (3)

Nguồn Sưu tầm trên Internet

1. Trĩ hoa

Trĩ Hoa
Trĩ hoa hay còn gọi là 'Gà lôi Trung Hoa' có nguồn gốc ở những khu rừng thuộc phía tây Trung Quốc. Điều đặc biệt ở loài Trĩ hoa, bên cạnh màu sắc sặc sỡ của nó, chính là cái đuôi chiếm hai phần ba chiều dài cơ thể (90-105cm) đối với một con đực trưởng thành. Loài trĩ hoa nổi bật với cái mào và lưng màu vàng, thân màu đỏ tươi, cùng với cái cổ có màu vàng cam xen lẫn đen.
[URL="http://vzone.vn/Resources/2010_02_14/20187/Golden-Pheasant-Chrysolophus-pictus-600x452.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Golden-Pheasant-Chrysolophus-pictus-600x452.jpg][/URL]

2. Chim Thiên đường

Chim Thiên Đường
Phần lớn các loài chim Thiên đường được tìm thấy tại khu rừng rậm nhiệt đới tại đảo New Guinea và các đảo lân cận, một số loài thì sinh sống trên đảo Moluccas của Indonesia, và phía đông Australia. Trong họ nhà chim Thiên đường, có khoảng 40 loài khác nhau. Thông thường các con đực được biết đến nhiều hơn với bộ lông dài, phức tạp, sặc sỡ, kéo dài từ mỏ, cánh hoặc đầu.
[URL="http://ibc.lynxeds.com/files/pictures/Raggiana%20BOP2.JPG"][Hình ảnh: Raggiana%20BOP2.JPG][/URL]
3. Vẹt xanh tía đuôi dài Hyacinth

Vẹt Xanh Hyacinth
Có nguồn gốc ở Trung và Đông Nam Mỹ, loài vẹt đuôi dài Hyacinth là loài vẹt lớn nhất và cũng là loài vẹt biết bay lớn nhất trên thế giới. Trong khi loài này rất dễ nhận ra bởi bộ lông màu xanh tím bắt mắt, vẹt đuôi dài Hyacinth cũng rất dễ bị nhầm với loài vẹt tía Lear’s, loài còn quý hiếm hơn nhiều.
[URL="http://animals.nationalgeographic.com/staticfiles/NGS/Shared/StaticFiles/animals/images/1024/hyacinth-macaw.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: hyacinth-macaw.jpg][/URL]
4. Hồng hạc

Hồng Hạc
Hồng hạc là loài chim lội nước sống thành bầy đàn. Chúng thường tụ tập ở các đầm, phá, nơi có nhiều bùn, nước. Có 4 loài hồng hạc ở Châu Mỹ và 2 loài ở Cựu Thế Giới. Màu lông của hồng hạc thay đổi tuỳ theo loài, từ hồng phai cho tới đỏ thẫm hoặc đỏ son. Một điều đặc biệt nữa ở loài này, mà cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa lý giải được đó là chúng thường chỉ đứng trên một chân.
[URL="http://www.angelo.edu/faculty/kboudrea/lagniappe/pictures_san_antonio_zoo_2/4_Carribean_Flamingos_01.JPG"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: 4_Carribean_Flamingos_01.JPG][/URL]
5. Tanager đỏ tươi

Tanager Đỏ
Tanager đỏ tươi là một loài chim biết hót cỡ trung bình cư trú ở Nam Mỹ. Trước đây, chúng được phân loại vào họ Thraupidae, nhưng ngày nay chúng và các loài lân cận được phân loại vào họ chim Hồng y do giọng hót và bộ lông của chúng gần với những loài trong họ chim hồng y hơn.
6. Vàng Anh phía Bắc
[URL="http://www.blairsociety.com/Blair/Birds/BirdPhotography/Larger/ScarletTanager.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: ScarletTanager.jpg][/URL]

Vàng Anh
Chim Vàng Anh Baltimore thường chỉ dài 18cm và nặng 34 g. Chúng được gán cái tên Baltimore do màu lông của những con chim đực giống với màu áo khoác của những người lính của Lãnh chúa Baltimore.
[URL="http://50birds.com/uploads/wlacy004/2004-10-21_183306_Baltimore_Oriole_2.JPG"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: 2004-10-21_183306_Baltimore_Oriole_2.JPG][/URL]
7. Chim núi xanh

Chim Núi Xanh
Chim núi xanh là loài có kích cỡ trung bình khoảng 28g, dài 15–20 cm. Những con đực trưởng thành có mỏ mỏng, bộ lông xanh sáng, nhạt dần ở bụng. Những con cái trường thành có bộ lông xanh đậm hơn ở cánh và đuôi, lông xám ở ngực, cổ và lưng. Chim núi xanh là loài di cư. Chúng sống rải rác từ Mexico đên Alaska, xuyên suốt từ phía Tây Hoa Kỳ và Canada.
[URL="http://mi9.com/datawallpapers/data/4/4101/Mountain_20Blue_20bird/mountain-blue-bird_1680x1050.jpg"][Hình ảnh: mountain-blue-bird_1680x1050.jpg][/URL]
8. Chim Hồng y phía Bắc

Chim Hồng Y
Chim Hồng y phía Bắc hay chim đỏ là loài chim sống ở Bắc Mỹ (Nam Canada, qua Đông Hoa Kỳ, từ Mexico tới Bắc Guatemala và Belize; và cả ở Đảo lớn ở Hawaii). Loài này thường sổng trong rừng, vùng cây bụi và đầm lầy. Chúng có cái mào rất đặc biệt cùng với một khoảng lông giống như cái mặt nạ trên mặt màu đen ở con đực và màu ghi ở con cái. Giới tính của loài này còn được biểu hiện trên bộ lông sặc sỡ của chúng. Màu đỏ tươi rực rỡ là con đực, màu nâu đỏ đậm là con cái.
[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/1/1e/Northern_Cardinal_Male-27527-2.jpg"][Hình ảnh: Northern_Cardinal_Male-27527-2.jpg][/URL]
9. Kim tước (Chim én) Mỹ

Kim Tước
Kim tước Mỹ hay Kim tước phía Đông là một loài chim Bắc Mỹ thuộc họ nhà sẻ. Kim tước là loài di trú, từ Nam Canada đến Bắc Carolina trong suốt mùa sinh sản, và từ nam biên giới Canada tới Mexico vào mùa đông. Kim tước là loài sống cộng đồng. Chúng tập hợp lại với nhau khi đi kiếm mồi và di cư. Kim tước thường sống một vợ một chồng, mùa sinh sản duy nhất trong năm của chúng thường bắt đầu vào cuối tháng 7.
[URL="http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:w5_38grgZM1bUM"][Hình ảnh: images?q=tbn:w5_38grgZM1bUM][/URL]
10. Vịt gỗ

Vịt Gỗ
Vịt gỗ hay vịt Carolina là loài vịt cỡ trung bình sống trên cao. Loài này cùng họ với loài vịt Bắc Kinh. Chúng thường sinh sống ở những vùng đầm lầy có nhiều cây, hồ cạn, vũng lầy hay ao ở Đông Bắc Mỹ, bờ biển phía tây Hoa Kỳ và tây Mexico. Chúng thường làm tổ trong các hốc cây gần nước. Những chú vịt gỗ con được sinh ra trên cây và phải nhảy xuống nước từ độ cao vài chục mét chẳng bao lâu sau khi chào đời.
[URL="http://www.pinebarrensanimals.com/web_images/pix1/woodduck1.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: woodduck1.jpg][/URL]
[URL="http://lananhbirds.com/diendan/newreply.php?do=newreply&p=626"]
[/URL]

In mục này

  Chim Sơn Ca
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 11:57 AM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Sơn Ca. - Trả lời (3)

Nguồn Sưu tầm trên Internet

Họ Sơn ca (danh pháp khoa học: Alaudidae) là một họ chim dạng sẻ, chủ yếu sinh sống tại Cựu thế giới. Chỉ một loài, sơn ca bờ biển là có sinh sống ở Bắc Mỹ, tại đó nó được gọi là horned lark (sơn ca có sừng).

Sơn ca là các loài chim nhỏ sống trên mặt đất, thường có giọng hót mê hoặc và kiểu bay liệng kì dị. Điều này kết hợp với việc chúng hay sinh sống gần các khu dân cư— đã đảm bảo cho sơn ca một vị trí nổi bật trong văn chương và âm nhạc (ví dụ sơn ca được ca tụng trong "The Lark Ascending" (1914) của Ralph Vaughan Williams).

Các loài sơn ca làm tổ trên mặt đất, đẻ 2–6 trứng vỏ đốm. Như nhiều loài chim sống trên mặt đất khác, phần lớn các loài sơn ca có các vuốt chân sau dài, được người ta coi là giúp chúng ổn định hơn khi đứng.

Phần lớn các loài sơn ca có vẻ ngoài kém nổi bật. Chúng ăn sâu bọ và hạt.

Chim sơn ca là biểu tượng cho hạnh phúc, hy vọng, may mắn, tự do,niềm vui, tuổi trẻ, tính sáng tạo và ngày mới. Trong haiku của người Nhật, sơn ca hay 雲雀 (vân tước, ヒバリhibari) là từ để chỉ mùa xuân trong năm. Đối với người Trung Quốc, có một tín ngưỡng dân gian cho rằng sơn ca (tiếng Trung gọi là bách linh/bạch linh (百灵/白灵) hay vân tước (雲雀)) là linh hồn của người ta trở về từ cõi chết. Nó được thể hiện trong thành ngữ: 死了变成白灵鸟, 飞来也要卯亲亲 (tử liễu biến thành bạch linh điểu, phi lai dã yếu mão thân thân: chết đi biến thành chim bạch linh, buổi sớm bay đến thăm người thân).

(Wikipedia)

[URL="http://www.haryana-online.com/images/Birds/Rajiv/OrientalSkylark.jpg"][Hình ảnh: OrientalSkylark.jpg][/URL]
[URL="http://www.forestryimages.org/images/768x512/1115044.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: 1115044.jpg][/URL]
[URL="http://www.goldensites.ru/media/1/20090818-b_885.jpg"][Hình ảnh: 20090818-b_885.jpg][/URL]


Tại Việt Nam, Sơn Ca được ưa chuộng nhất là loài sống ở Đà Nẵng đến Quảng Ninh do màu lông sáng hơn và có giọng hót hay hơn những nơi khác.(ở SGN thường gọi chung là sơn ca Huế)
Phần lớn các nghệ nhận đánh giá Sơn Ca có đẳng cấp không loài nào có thể qua mặt, tuy vẻ bề ngoài xấu xí nhưng Sơn Ca có giọng hót dài, âm thanh thánh thót và âm diệu du dương thay đổi liên tục như tiếng suối reo , thác đổ...

Vùng có sơn ca: Sơn ca thi có thể nói là cả 3 miền của Việt Nam đều có như hay nhất thì có sơn ca tại Bãi Cháy (Quảng Ninh): vừa lớn con, đẹp, giọng hót thì tuyệt; sơn ca Huế: lớn con, lông màu vàng nghệ, trán nổi vân; sơn ca Đà Nẵng: vân khía hót cũng hay; sơn ca Bà Điểm, Long Thành : hơi nhỏ con, màu lông tối, rất nhát, nuôi lâu dạn nhưng hót được

In mục này

  Chim Sâu (Dicaeidae)
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 11:55 AM - Diễn đàn: Vấn đề chung về chim Sâu - Trả lời (2)

Họ Chim sâu (danh pháp khoa học: Dicaeidae) là một họ trong bộ Sẻ (Passeriformes). Họ này bao gồm 2 chi là Prionochilus và Dicaeum, với tổng cộng 44 loài. Họ đôi khi cũng được gộp trong họ mở rộng là họ Hút mật (Nectariniidae). Các loài chim của họ Melanocharitidae và họ Paramythiidae, từng có thời được gộp trong họ này. Các loài chim trong họ được tìm thấy ở vùng nhiệt đới miền nam châu Á và Australasia, từ Ấn Độ kéo dài về phía đông tới Philippines và phía nam tới Australia. Họ này là phổ biến trong các môi trường sống ưa thích của chúng, chiếm một khoảng rộng môi trường, từ các môi trường ở sát mực nước biển tới các khu vực miền núi. Một vài loài, như chim tầm gửi của Australia, được ghi nhận như là loài chim sống du cư trên các khu vực thuộc khoảng phân bố của chúng[1].
Có ít sự biến đổi giữa các loài trong họ. Chim sâu là các loài chim mập mạp, với cổ và chân ngắn. Các loài chim nhỏ này có kích thước từ 10-18 cm, 5,7- 12 gam (từ nhỏ như ở chim sâu lùn tới lớn như ở chim sâu đốm). Các loài chim sâu có đuôi ngắn, mỏ ngắn, cong và dầy cùng chiếc lưỡi hình ống. Đặc trưng cuối cùng phản ánh tầm quan trọng của mật hoa trong khẩu phần ăn của nhiều loài. Chúng cũng có hệ tiêu hóa đã tiến hóa để thích nghi với việc tiêu hóa có hiệu quả các loại quả mọng của tầm gửi[1]. Chúng thường có màu lông xỉn màu, mặc dù ở một vài loài thì chim trống có bộ lông màu đỏ tươi hay đen bóng.

Mật hoa tạo thành một phần của khẩu phần ăn, mặc dù chúng cũng ăn quả mọng, nhện và sâu bọ[3]. Quả của 21 loài tầm gửi trong 12 chi cũng được tìm thấy như là một phần thức ăn của chim sâu, và người ta cho rằng tất cả các loài chim sâu có sự thích nghi trong việc ăn các loại quả mọng này và thải hạt của chúng rất nhanh. Chim sâu có thể xuất hiện trong các bầy kiếm ăn hỗn hợp loài với chim hút mật và vành khuyên, cũng như với các loài chim sâu khác.

Người ta còn biết rất ít về cơ sở sinh học trong sinh sản của chim sâu. Ở các loài có sự thu thập dữ liệu thì chúng dường như tạo thành các cặp một vợ một chồng để sinh sản, nhưng sự phân chia lao động thì có thay đổi; ở chim sâu ngực đỏ cả hai bố mẹ đều tham gia vào việc xây tổ, ấp trứng và chăm sóc nuôi dưỡng chim con, nhưng ở Mistletoebird thì chỉ một mình chim mái đảm nhận hai công việc đầu tiên. Chim sâu đẻ 1-4 trứng, thường trong tổ hình bọng làm từ các loại sợi thực vật, treo lơ lửng trên các cây nhỏ hay cây bụi. Thời gian ấp trứng đã ghi nhận có rất ít, nhưng nằm trong khoảng 10-12 ngày, với chim con đủ lông đủ cánh sau 15 ngày.

Phần lớn các loài chim sâu là nhanh nhẹn trong môi trường sống của chúng và không bị đe dọa bởi các hoạt động của con người[1]. Năm loài được IUCN coi là gần bị đe dọa, 2 loài được liệt kê là dễ thương tổn và một loài, chim sâu Cebu, được liệt kê là cực kỳ nguy cấp. Sự mất môi trường sống là nguyên nhân chính gây ra sự suy giảm của các loài này.
Các Loại Chi
* Chi Dicaeum: 38 loài
o Chim sâu phao câu vàng kim, Dicaeum annae
o Chim sâu mỏ lớn hay chim sâu mỏ dày, Dicaeum agile
o Chim sâu lưng nâu, Dicaeum everetti
o Chim sâu ria, Dicaeum proprium
o Chim sâu bụng vạch hay chim sâu huyệt vàng, Dicaeum chrysorrheum
o Chim sâu bụng vàng, Dicaeum melanoxanthum
o Chim sâu họng trắng, Dicaeum vincens
o Chim sâu hông vàng, Dicaeum aureolimbatum
o Chim sâu mũ ôliu, Dicaeum nigrilore
o Chim sâu mào lửa, Dicaeum anthonyi
o Chim sâu hai màu, Dicaeum bicolor
o Chim sâu Cebu, Dicaeum quadricolor
o Chim sâu sọc đỏ, Dicaeum australe
o Chim sâu Visayan, Dicaeum haematostictum
o Chim sâu khoang cổ đỏ, Dicaeum retrocinctum
o Chim sâu ngực xám hay chim sâu bụng cam, Dicaeum trigonostigma
o Chim sâu mỏ nhạt, Dicaeum erythrorhynchos
o Chim sâu vàng lục hay chim sâu bình nguyên, Dicaeum concolor
o Chim sâu ngực lửa, Dicaeum erythrothorax
o Chim sâu bụng trắng, Dicaeum hypoleucum
o Chim sâu lùn, Dicaeum pygmaeum
o Chim sâu mào đỏ, Dicaeum nehrkorni
o Chim sâu tro, Dicaeum vulneratum
o Chim sâu mào ôliu, Dicaeum pectorale
o Chim sâu mũ đỏ, Dicaeum geelvinkianum
o Chim sâu Louisiade, Dicaeum nitidum
o Chim sâu dải đỏ, Dicaeum eximium
o Chim sâu nhỏ, Dicaeum aeneum
o Chim sâu đốm, Dicaeum tristrami
o Chim sâu trán đen, Dicaeum igniferum
o Chim sâu ngực đỏ tươi, Dicaeum maugei
o Chim sâu ngực lửa, Dicaeum ignipectus
o Chim sâu hông đen, Dicaeum monticolum
o Chim sâu hông xám, Dicaeum celebicum
o Chim sâu ngực máu, Dicaeum sanguinolentum
o Chim tầm gửi, Dicaeum hirundinaceum
o Chim sâu lưng đỏ hay chim sâu lưng đỏ tươi, Dicaeum cruentatum
o Chim sâu đầu đỏ, Dicaeum trochileum

* Chi Prionochilus: 6 loài
o Chim sâu ngực vàng, Prionochilus maculatus
o Chim sâu lưng ôliu, Prionochilus olivaceus
o Chim sâu ngực đỏ thắm, Prionochilus percussus
o Chim sâu Palawan, Prionochilus plateni
o Chim sâu đầu đen hay chim sâu ngực đỏ tươi, Prionochilus thoracicus
o Chim sâu phao câu vàng, Prionochilus xanthopygius

( Wikipedia )

Dicaeum erythrothorax
[Hình ảnh: 2329952091_fe266f9f39.jpg]

# Chim sâu đầu đỏ, Dicaeum trochileum ( mình gọi là chim ốc mít)
[Hình ảnh: 3802690303_7d77735824_o.jpg]
Dicaeum cruentatum. Loai này vùng Đức Trọng Lâm Đồng có rất nhiều
Nguồn Sưu tầm trên Internet

In mục này

  Chim vàng anh (hoàng anh)
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 11:54 AM - Diễn đàn: Finch - Chim Cảnh Nhỏ - Trả lời (14)

Bài này nói về một loài chim, nó còn là tên gọi của một chi thực vật là chi Saraca thuộc phân họ Vang.
[Hình ảnh: OrioBN-Dc05Sabalay-BTM.jpg]
Chim vàng anh hay hoàng anh (danh pháp khoa học: Oriolus oriolus), là loài duy nhất trong họ Vàng anh (Oriolidae) thuộc bộ Sẻ (Passeriformes) sinh sản ở khu vực ôn đới của Bắc bán cầu. Nó là loài chim di cư, về mùa hè nó di cư đến khu vực châu Âu và miền tây châu Á còn mùa đông thì di cư đến khu vực nhiệt đới.

Nó là loài chim đậu trên các cây cao lá sớm rụng trong các khu vực đồng rừng, vườn cây ăn quả hay công viên. Một quần thể nhỏ tại Anh sinh sản trong các khu vực trồng cây dương đen (Populus nigra).

Chúng làm tổ trên các chạc cây và đẻ từ 3-6 trứng. Thức ăn chủ yếu của chúng là côn trùng và quả, được chúng tìm kiếm trên các tán lá.

Vàng anh trống là nổi bật với bộ lông vàng và đen điển hình, nhưng vàng anh mái lại có bộ lông vàng ánh xanh lục buồn tẻ. Chúng là loài chim khá nhút nhát và thậm chí cả chim trống cũng rất khó phát hiện trong các tán lá có màu xanh lục và vàng lốm đốm.

Kiểu bay lượn của chúng tương tự như ở loài chim hét, thẳng và mạnh với độ nghiêng nhỏ trên một khoảng cách lớn.

Tiếng kêu của chúng giống như tiếng kêu của chim giẻ cùi, nhưng của chúng thì thánh thót tựa như là uyla-uy-u hay or-iii-ole, không lẫn vào đâu được khi đã nghe thấy.

Tên gọi trong tiếng Anh của nó là "oriole" có nguồn gốc từ tiếng Latinh oriolus lần đầu tiên được ghi nhận bởi Albertus Magnus vào khoảng năm 1250, và ông đã coi nó là từ tượng thanh để làm tên gọi cho loài chim này, dựa theo tiếng hót của nó.

Các loài vàng anh Tân thế giới có bề ngoài tương tự như họ Vàng anh (Oriolidae), nhưng chúng thuộc họ Icteridae và không có quan hệ họ hàng gì với họ Vàng anh của Cựu thế giới.

(wikipedia)

[Hình ảnh: wol_error.gif][Hình ảnh: OrioBN-Dc05Sabalay-BTM.jpg]
Oriolidae

[Hình ảnh: Fringilla_coelebs_chaffinch_male_edit2.jpg]
Sẻ khướu trống (Fringilla coelebs)
(phân bộ Sẻ (Passeri): siêu họ Sẻ (Passeroidea): họ Sẻ đồng (Fringillidae).)
Nguồn Sưu tầm trên Internet

In mục này

  Chim Hồng Tước
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 11:53 AM - Diễn đàn: Finch - Chim Cảnh Nhỏ - Trả lời (8)

Tên khoa học: Icterus Jamacaii
Tên tiếng Anh: Campo Oriole
[Hình ảnh: 2911984681_de2c6251de_o.jpg]
Chim Hồng Tước là loại chim có bộ lông màu sặc sỡ, ai nhìn cũng thích. Loại chim này tuy đã đươc nhiều quốc gia trên thế giới bắt về thuần hóa từ lâu nhưng ở nước ta thì nó mới được nuôi chừng mười năm trở lại đây.

Xuất xứ: Hồng Tước là giống chim ở đảo Jamaique (Trung Mỹ), sau đó mới được phân tán đi các nơi. Tại nước ta, Hồng Tước sống nhiều ở các tỉnh sát biên giới Trung Quốc như Cao Bằng, Lạng Sơn…đổ dần vào các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương. Từ Bình Tuy trở ra Phan Thiết cũng có nhiều chim này sinh sống.

Hồng Tước thích sống trong rừng rậm, nơi có nhiều cây cao bóng cả. Chúng chọn từng trên của rừng mà sống chứ không sống ở tầng thấp như các loại chim khác. Mùa hè là mùa sinh sản của Hồng Tước, chúng chỉ làm ổ ở chót vót tận ngoài các cành cây nên bắt được chim con là một điều vô cùng khó khăn. Mà việc bắt chim lớn cũng không phải dễ! Người đi bẫy chim Hồng Tước, dù được nhiều hay ít cũng phải về trong ngày để tránh việc chim bổi cắn nhau chết khi được rộng tạm trong lồng. Có lẽ chính vì thế mà bao giờ số cung cũng ít hơn số cầu.

Hình dáng: Chim Hồng Tước có thân hình nhích hơn con Thanh Tước một chút, nhưng đuôi dài hơn. Chim Hồng Tước có hai sắc lông trên mình là màu đen và màu đỏ, được tô điểm như sau:

- Trọn phần đầu, cổ, lưng và phần dán cánh màu đen nhánh, đường nét sắc sảp rõ rệt, không lem nhem.

- Trọn phần bụng, hai bên hông, một phần trên của cánh và trên đuôi có màu đỏ rực.

Màu sắc được phối trí hài hòa đó đã tạo cho con Hồng Tước có một vẻ đẹp sang của một ông Hoàng bà Chúa. Đó là nói về chim trống.

Chim Hồng Tước mái có đến ba sắc lông trên mình, được tô điểm như sau:
- Trán và hai bên má màu vàng đậm, bụng màu vàng tươi.
- Đỉnh đầu, khoang cổ, lưng và phần màu dán cánh màu xám.
- Màu đen điểm xuyết ở phần đuôi và phần cánh.

Cách nuôi chim bổi: Hồng Tước có cuộc sống thích nghi trên tầng cao của rừng nên sống cách biệt với loài người, do đó chúng rất nhát. Nuôi Hồng Tước bổi ta phải phủ áo lồng cẩn thận và để nơi thật im lặng trong thời gian đầu. Chừng nào thấy chim hơi dạn dĩ mới dần hé áo lồng ra. Nhưng khi đã dạn người rồi thì nó tỏ ra thuần hậu hơn các loại chim khác, còn hơn cả Chích Chòe nữa.

Khi chim thật thuần nó mới chịu hót. Vì vậy, có nhiều người nuôi Hồng Tước một thời gian sinh ra nản chí vì thấy chim chỉ có kêu chứ không hót. Hồng Tước cũng siêng hót như Thanh Tước, khi hót chim há miệng ra chứ không chép mỏ, phát âm ra từ trong họng ra nên tiếng mới rền xa.

Thức ăn: Trong đời sống tự nhiên, Hồng Tước ăn côn trùng, sâu bọ. Chúng bay xớt mồi ngoài khoảng không như loài dơi. Lúc đói cũng mò mẫm ra ngoài bìa rừng nhưng cũng sống trên những cây thật cao.

Bước đầu nuôi chim bổi ta tập cho chim ăn trứng kiến, cào cào. Vài ngày sau, ta tập chim ăn dần bột đậu phộng trộn với trứng kiến. Lúc nào thấy chim ăn được bột rồi ta cho chim một cóng bột riêng và bớt phần trứng kiến lại. Điều xin lưu ý với quí vị là Hồng Tước ăn trứng kiến thì mau sung, siêng hót hơn là cho ăn cào cào.

Lồng chim và cách chăm sóc: Hồng Tước thân hình nhỏ như Thanh Tước nên ta chỉ cần nhốt trong lồng trung, cỡ 54 nan là vừa. Đây là loại chim vừa nuôi hót vừa để làm cảnh nên nếu có một cái lồng đẹp cho chim thì mới tương xứng.

Cũng như Thanh Tước, nuôi Hồng Tước rất nhẹ công chăm sóc

In mục này


Thành viên đang trực tuyến
Hiên tại có 279 thành viên đang trực tuyến » 0 Thành viên | 276 Khách
Baidu, Bing, Google

Mã nguồn bởi MyBB, © 2002-2026 Tài Trợ Bởi Thamdinh.com.vn.