Thông kê diễn đàn
» Thành viên: 176,918,   » Thành viên mưới nhất: admin,   » Chủ đề: 46,693,   » Bài viết: 420,657,  
Thống kê đầy đủ

  Két Mẫu Đơn (Lovebird)
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:21 PM - Diễn đàn: Vẹt - Két - Xích - Yến Phụng - Trả lời (6)

Nguồn Sưu tầm trên Internet

Lovebird là một trong chín loài của chi Agapornis (tiếng Hy Lạp: αγάπη agape 'tình yêu'; ornis όρνις 'con chim'). Tám loài có nguồn gốc lục địa châu Phi,ngọai trừ Grey-headed Lovebird có nguồn gốc ở Madagascar. , chế độ một vợ một chồng được thực hiện rất tốt trong xã hội loài chim này chúng dành phần lớn thời gian để ở bân nhau, âu yếm nhau ( co the vi dieu nay ma nguoi ta dat ten cho chung la chim tinh yeu )

[URL="http://birdaday.com/wp-content/uploads/2009/11/lovebirds.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: lovebirds.jpg][/URL]

Lovebirds ăn trái cây, rau, cỏ và hạt giống.loai Black-winged Lovebirds cũng ăn côn trùng và trái Sung, vì vậy loài này thích hợp nuôi nhốt trong những vùng có nhiều cây Sung

Người ta thường hay chọn những chú chim có đột biến về màu sắc để nuôi . Tuổi thọ trung bình của chúng từ 10 đến 15 năm. Chiều dài trung bình từ 13 đến 17 cm. Trọng lượng cơ thể từ 40 đến 60 gam, nằm trong số những loài Vẹt nhỏ nhất

Điểm đặc trưng của loài này là có cái đuôi rất ngắn, màu sắc chủ yếu là màu xanh lá cây ( green ) tô điểm thêm là những màu sắc khác nhau trên vùng đầu và cổ tùy theo từng loại. Loai Fischer's Lovebird, Black-cheeked Lovebird, và the Masked Lovebird lai có thêm một vòng trắng nổi bật bao quanh mắt. Lòai Abyssinian Lovebird, Madagascar Lovebird là loài mà người ta hay cho "phối giống lai tạo" để tạo ra những chú chim có màu sắc rất đặc biệt

Chi lovebird bao gồm chín loài năm trong số đó được chia thành bốn phân loài.
căn bản Lovebird duoc chia ra 3 nhom :

* 1. the sexually dimorphic species: Madagascar, Abyssinian, and Red-headed Lovebird
* 2. the intermediate species: Peach-faced Lovebird
* 3. the white-eye-ringed species: Masked , Fischer's, Lilian's, and Black-cheeked Lovebirds

Tuy nhiên bộ này không được hỗ trợ đầy đủ vì các nghiên cứu phát sinh ( lai Tạo)vì thế không thể xếp thành một nhánh duy nhất ( single clade )

Loài và phân loài

* Rosy-faced Lovebird, Agapornis roseicollis, or Peach-faced Lovebird
[URL="http://www.biodiversityexplorer.org/birds/psittacidae/images/JG01A0125_327w.jpg"][Hình ảnh: JG01A0125_327w.jpg][/URL]
o Agapornis roseicollis catumbella
o Agapornis roseicollis roseicollis
* Yellow-collared Lovebird, Agapornis personatus, or Masked Lovebird
[URL="http://www.birdwatchingtours.co.uk/gallery/pix/Tanzania/yellow_collared_lovebird_l.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: yellow_collared_lovebird_l.jpg][/URL]
* Fischer's Lovebird, Agapornis fischeri
* Lilian's Lovebird, Agapornis lilianae, or Nyasa Lovebird
* Black-cheeked Lovebird,
* Grey-headed Lovebird, or Madagascar Lovebird
o Agapornis canus ablectaneus
o Agapornis canus canus
* Black-winged Lovebird,or Abyssinian Lovebird
* Red-headed Lovebird, or Red-faced Lovebird
[URL="http://www.arkive.org/media/B8/B8C962DD-F6EC-4271-93F3-A60A2086EBCA/Presentation.Large/Red-headed-lovebird-.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Red-headed-lovebird-.jpg][/URL]
o Agapornis pullarius pullarius
o Agapornis pullarius ugandae
* Black-collared Lovebird, or Swindern's Lovebird
[URL="http://ibc.lynxeds.com/files/pictures/Zenkeri2.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Zenkeri2.jpg][/URL]
o Agapornis swindernianus emini
o Agapornis swindernianus swindernianus
o Agapornis swindernianus zenkeri


[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/88/Agapornis_roseicollis_-eating_grass_seeds-8.jpg"][Hình ảnh: Agapornis_roseicollis_-eating_grass_seeds-8.jpg][/URL]

In mục này

  Họ Chìa vôi
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:19 PM - Diễn đàn: Finch - Chim Cảnh Nhỏ - Trả lời (4)

[Hình ảnh: wagtail_mekong_je.jpg]
Họ Chìa vôi (danh pháp khoa học: Motacillidae) là một họ chứa các loài chim nhỏ trong bộ Sẻ với đuôi từ trung bình tới dài. Chúng bao gồm chìa vôi, chim manh và chim vuốt dài (ở châu Phi).

Các loài chim này có thân hình mảnh dẻ, kiếm thức ăn là các loại sâu bọ trên mặt đất ở các vùng nông thôn. Chúng làm tổ trên mặt đất, đẻ tới 6 trứng vỏ lốm đốm.

Họ này chứa khoảng 60 loài trong 5 chi, với hai chi độc loài, hai chi vừa phải và một chi chứa khoảng hai phần ba số loài.

Phân loại

* Chi Anthus: chim manh điển hình


[Hình ảnh: _mg_0160_ob.jpg]
Olive-backed Pipit Anthus hodgsoni
o (khoảng 40 loài)

* Chi Tmetothylacus
o Manh vàng, Tmetothylacus tenellus

* Chi Motacilla: chìa vôi điển hình
o Chìa vôi trắng Motacilla alba – có thể cận ngành
+ Chìa vôi khoang Motacilla alba yarrellii
+ Chìa vôi lưng đen Motacilla alba lugens hay Motacilla lugens
o Chìa vôi Nhật Bản Motacilla grandis
o Chìa vôi mày trắng Motacilla madaraspatensis
o Chìa vôi Mê Kông Motacilla samveasnae


[Hình ảnh: wagtail_mekong_je.jpg]
o Chìa vôi khoang châu Phi Motacilla aguimp
o Chìa vôi đầu vàng Motacilla citreola - có thể cận ngành
o Chìa vôi vàng hay chìa vôi đầu lam Motacilla flava - cận ngành
o Chìa vôi xám hay chìa vôi núi Motacilla cinerea
o Chìa vôi Cape Motacilla capensis
o Chìa vôi Madagascar Motacilla flaviventris
o Chìa vôi núi Motacilla clara
[Hình ảnh: 431183160_161d218289_327w.jpg]

* Chi Dendronanthus: Khu vực phân bố: miền đông và nam châu Á. Loài chim di trú.
o Chìa vôi rừng, Dendronanthus indicus

* Chi Macronyx: Vuốt dài. Khu vực phân bố: châu Phi.
o Vuốt dài Cape, Macronyx capensis
o Vuốt dài họng vàng, Macronyx croceus
o Vuốt dài Fuelleborn, Macronyx fuellebornii
o Vuốt dài Sharpe, Macronyx sharpei
o Vuốt dài Abyssinia, Macronyx flavicollis
o Vuốt dài Pangani, Macronyx aurantiigula
o Vuốt dài ngực hồng, Macronyx ameliae
[Hình ảnh: 1358940922_cb5d450b26_327w.jpg]
o Vuốt dài Grimwood, Macronyx grimwoodi.

Tại Việt Nam có các loài của 3 chi Anthus, Dendronanthus, Motacilla.


Có nhiều người miền Bắc gọi chim Chìa Vôi, còn người Nam gọi là Chích Choè Than (bởi vì nó có 2 màu trắng đen) có đôi chân vừa cao vừa nhỏ như chiếc chìa vôi của những người quê ăn trầu. Khi mùa hè (mùa mưa) bắt đầu cũng là chim sinh sản thay lông. Do sống gần người, thích ở trong các vườn nhà nên loài chim này có biệt danh là "chim vườn". Chìa Vôi thích làm tổ trong các hốc, bọng cây. Mỗi lứa chìa vôi mẹ đẻ được 4-5 trứng.
[Hình ảnh: Chimchiavoitrang_mai.jpg]
Chim chìa vôi trắng (mái)

[Hình ảnh: Chimchiavoidauvang_trong.jpg]
Chìa vôi đầu vàng - Motacilla citreola

In mục này

  Khướu mỏ dài
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:18 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Khướu - Trả lời (3)

Tên Việt Nam: Khướu mỏ dài
Tên Latin: Jabouilleia danjoun danjoun
Họ: Khướu Timaliidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Nhóm: Chim

KHƯỚU MỎ DÀI

Họ: Khướu Timaliidae

Bộ: Sẻ Passeriformes

Mô tả:

Chim trưởng thành mỏ dài, không cong và đuôi ngắn. Bộ lông nhìn chung có màu nâu hung vàng. Cằm, họng và giữa bụng trắng nhạt. Phân loài 2 có kích thước nhỏ hơn phân loài 1. Mắt nâu, mỏ xám sừng, chân nâu hồng.

Sinh học: Chưa có số liệu.

Nơi sống và sinh thái:

Sống định cư ở rừng thường xanh trên độ cao khoảng 1000m trở lên ở vùng Nam Trung bộ, từ 150 - 1400m, ở vùng Bắc và Trung Trung bộ. Chim thường kiếm ăn trên mặt đất. Đi lẻ hoặc đôi.

Phân bố:

Việt Nam: Đã gặp phân loài 1 ở một số nơi thuộc tỉnh Lâm Đồng (Lạc Dương, Di Linh) và phân loài 2 ở Hà Tĩnh (Kỳ Anh), Thừa Thiên - Huế (A Lưới, Vùng núi Bạch Mã, và đèo Hải Vân).

Thế giới: Không có.

Giá trị:

Loài chim đặc sản quý ở Việt Nam. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.

Tình trạng:

Số lượng còn lại ít. Mức độ đe dọa: bậc T.

Đề nghị biện pháp bảo vệ:

Như đối với loài chim sống ở rừng đã nói đến. Chú ý bảo vệ tầng cây bụi dưới tán rừng.




Tên Việt Nam: Khướu mỏ dẹt lưng đen
Tên Latin: Paradoxornis davidiana tonkinensis
Họ: Khướu Timaliidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Nhóm: Chim

KHƯỚU MỎ DẸT LƯNG ĐEN

[Hình ảnh: 2685.JPG]

Họ: Khướu Timaliidae

Bộ: Sẻ Passeriformes

Mô tả:

Chim trưởng thành đầu hung nâu tươi. Trên cổ, lưng và hông xám đen nhạt hơi phớt vàng. Đuôi nâu thẫm. Cánh nâu có viền hung tươi. Cằm đen, họng đen với thân lông xám nhạt chuyển dần thành xám ở ngực và bụng. Dưới đuôi nâu đỏ nhạt. Mắt hung nâu, mỏ trắng sừng. Chân xám hồng.

Sinh học: Chưa có số liệu.

Nơi sống và sinh thái:

Nơi sống thích hợp là các khu vực cây bụi, tre nứa trên các vùng đồi núi có độ cao khoảng từ 600 - 1000m.

Phân bố:

Việt Nam: Phân loài này chỉ có ở miền Bắc và cũng chỉ tìm thấy ở Bắc Thái (Bắc Cạn).

Thế giới: Không có.

Giá trị:

Nguồn gen quý, loài đặc hữu Việt Nam. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.

Tình trạng:

Giống như các loài khướu sinh sống ở miền bắc Việt Nam đã nói tới. Mức độ đe dọa: bậc T.

Đề nghị biện pháp bảo vệ:

Tiếp tục nghiêm cứu hiện trạng, ranh giới vùng phân bố và số lượng của chúng để làm cơ sở đề xuất biện pháp bảo vệ thích hợp.


Tên Việt Nam: Khướu ngực đốm
Tên Latin: Garrulax merulinus obscurus
Họ: Khướu Timaliidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Nhóm: Chim

KHƯỚU NGỰC ĐỐM

Garrulax merulinus obscurus Delacoiur et Jabouille
Họ: Khướu Timaliidae

Bộ: Sẻ Passeriformes

Mô tả:

Chim trưởng thành:

Phân loài 1: dải lông mày hẹp hung vàng nhạt. Trán, trước mắt, cằm, họng và những vệt hình bầu dục hẹp ở ngực đen. Toàn bộ mặt lưng, hai bên đầu, sườn, cánh và đuôi hung nâu phớt lục vàng. Ngực, bụng và dưới đuôi hung vàng tươi.

Phân loài 2: có màu sắc gần tương tự, nhưng màu tối hơn, các vệt ở họng và ngực đen hơn. Mắt nâu hay nâu đỏ. Mỏ xám đen, chân nâu.

Sinh học:

Chim sống thành đôi riêng rẽ khi quan sát vào cuối tháng 5 và đầu tháng 6 ở Lâm Đồng

Nơi sống và sinh thái:

Nơi sống thích hợp là rừng thường xanh, trong tầng cây bụi gần mặt đất, cạnh vùng lau lách và nương rẫy. Quan sát ở Lạc Dương và Di Linh (Lâm Đồng) trên độ cao từ 1400m trở lên và ở Sapa, Hoàng Liên Sơn trên 1200m. Không gặp trong rừng thông.

Phân bố:

Việt Nam: Phân loài 1 Nam Trung bộ (Lạc Dương và Di Linh tỉnh Lâm Đồng). Phân loài 2 Tây Bắc Việt Nam như Lào Cai (Sapa, Hoàng Liên Sơn).

Thế giới: Bắc Lào (chỉ có phân loài 2).

Giá trị: Là các dạng chim đặc hữu qúy hiếm. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.

Tình trạng:

Nơi ở tự nhiên bị thu hẹp và bị tác động manh do việc khai thác rừng và đốt nương làm rẫy của đồng bào các dân tộc vùng cao. Mức độ đe dọa: bậc R.

Đề nghị biện pháp bảo vệ:

Giống như đối với loài khướu đầu đen và một số loài chim rừng khác.




Tên Việt Nam: Khướu vảy
Tên Latin: Garrulax squamatus
Họ: Khướu Timaliidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Nhóm: Chim

KHƯỚU VẢY

[Hình ảnh: 2688.JPG]

Họ: Khướu Timaliidae

Bộ: Sẻ Passeriformes

Mô tả:

Chim trưởng thành nhìn chung bộ lông có màu hung nâu phớt vàng và mút lông có vệt cong màu đen tạo thành vảy. Dải lông mày đen kéo dài đến gáy. Má, tai, trước mắt xám. Mép ngoài các lông cánh sơ cấp ngoài cùng xanh nhạt, phía trong đen. Đuôi đen có vệt hung nâu ở mút tạo thành viền. Dưới đuôi hung nâu có vảy đen rất mờ hay không có. Mắt trắng hay xanh nhạt.

Sinh học:

Ở Mianma đã tìm thấy tổ vào ngày ấp, có 3 trứng.

Nơi sống và sinh thái:

Nơi sống thích hợp là rừng cây bụi trên núi cao ở vùng Tây Bắc và dãy Hoàng Liên Sơn.

Phân bố:

Việt Nam: vùng Tây Bắc (chỉ mới tìm thấy ở Lào Cai, Lai Châu, dãy Hoàng Liên Sơn, ở độ cao 1500m).

Thế giới: phía đông Hymalaia, Nêpan, bắc Mianma, tây nam Trung Quốc (Vân Nam).

Giá trị:

Nguồn gen quý. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.

Tình trạng:

Tương tụ như loài khướu đuôi đỏ. Mức độ đe dọa: bậc R.

Đề nghị biện pháp bảo vệ:

Tương tụ như loài khướu đuôi đỏ. Trước hết cầm quản lý bảo vệ tốt các khu rừng cấm đã có qui hoạch ở vùng Tây Bắc

Nguồn Sưu tầm trên Internet

In mục này

  Khướu đầu đen má xám
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:17 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Khướu - Trả lời (1)

Nguồn Sưu tầm trên Internet

Tên Việt Nam: Khướu đầu đen má xám
Tên Latin: Garrulax yersini
Họ: Khướu Timaliidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Nhóm: Chim

[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/collared_laughingthrush_hdm.jpg"][Hình ảnh: collared_laughingthrush_hdm.jpg][/URL]

KHƯỚU ĐẦU ĐEN MÁ XÁM


Họ: Khướu Timaliidae

Bộ: Sẻ Passeriformes

Mô tả:

Chim trưởng thành đầu đen, tai và má có màu xám bạc. Cổ, ngực và cánh hung vàng, trừ lông bao cánh nhỏ và góc cánh tạo thành một vệt màu đen. Đuôi nâu hung vàng. Vai, lưng, bụng rên và dưới đuôi xám xanh thẫm.

Sinh học: Chưa có số liệu.

Nơi sống và sinh thái:

Thường gặp ở rừng trong tầng cây bụi gần mặt đất nơi có độ cao từ khoảng 1600 - 1700 đến 2500m. Có thể gặp ở rừng thường xanh cây lá rộng hoặc rừng thông, tập trung ở vùng Langbian.

Phân bố:

Việt Nam: chỉ có ở vùng Nam Trung bộ (Lâm Đồng).

Thế giới: Không có.

Giá trị:

Loài chim đặc sản quý hiếm ở Việt Nam. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.

Tình trạng:

Giống các loài khướu có ở Lâm Đồng. Mức độ đe dọa: bậc R.

Đề nghị biện pháp bảo vệ:

Tiếp tục nghiêm cứu hiện trạng, ranh giới vùng phân bố và số lượng của chúng để làm cơ sở đề xuất biện pháp bảo vệ thích hợp.



Tên Việt Nam: Khướu đầu xám
Tên Latin: Garrulax vassali
Họ: Khướu Timaliidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Nhóm: Chim

KHƯỚU ĐẦU XÁM



Họ: Khướu Timaliidae

Bộ: Sẻ Passeriformes

Mô tả:

Chim trưởng thành trán, tai và cằm đen, má trắng. Đỉnh đầu và sau cổ xám thẫm. Phía trên có màu nâu đến nâu hung. Cuối đuôi có dải đen rộng và tận cùng là dải trắng (trừ đôi lông đuôi ở giữa). Họng và ngực xám, sườn hung nâu. Giữa bụng màu nhạt dần và chuyển sang trắng ở giữa đuôi. Mắt hung nâu. Mỏ đen nhạt, mỏ dưới trắng đục. Chân xám thẫm.

Sinh học:

Chim non rời tổ vào nửa đầu tháng 6 (gặp ở Thừa Thiên - Huế)

Nơi sống và sinh thái:

Sống định cư và làm tổ ở rừng nguyên sinh, thứ sinh và rừng khai thác, trên độ cao khoảng 500m trở lên. Thường kiếm ăn trên mặt đất, nơi có nhiều cây bụi, dây leo ở trong rừng, vùng cửa rừng và cả ở nương rẫy. Ngoài mùa sinh sản thường gặp đàn đông tới vài chục con.

Phân bố:

Việt Nam: Trung bộ từ Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Khánh Hòa, Gia Lai, Kom Tum, Đắc Lắc đến Lâm Đồng.

Thế giới: Trung và Nam Lào.

Giá trị:

Dạng đặc sản ở Việt Nam và Đông Dương. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ

Tình trạng:

Nơi ở tự nhiên bị tác động do ảnh hưởng chung của việc khai thác rừng. Bị săn bắt. Mức độ đe dọa: bậc T.

Đề nghị biện pháp bảo vệ:

Giống như đối với các loài chim sống ở rừng đã nói tới. Nghiêm cấm việc săn bắt khướu

In mục này

  Khướu đuôi đỏ
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:16 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Khướu - Trả lời (4)

Nguồn Sưu tầm trên Internet

Garrulax formosus greenwayi Delacour et Jabouille, 1930

Họ: Khướu Timaliidae

Bộ: Sẻ Passeriformes

[URL="http://animaldiversity.ummz.umich.edu/site/resources/david_blank/Gformosus2.jpg/medium.jpg"][Hình ảnh: medium.jpg][/URL]

Mô tả:

Chim trưởng thành trán, đỉnh đầu và tai đen phớt xám nhạt. Đuôi vá cánh thẫm. Cằm và họng đen nhạt. Phần còn lại của bộ lông nâu vàng lục có vằn nâu thẫm chuyển thành xám lục nhạt ở lưng dưới, hông, bụng trên và dưới đuôi. Mắt nâu, mỏ đen, chân xám thẫm.

Sinh học: Chưa có số liệu.

Nơi sống và sinh thái:

Sống định cư và làm tổ ở rừng cây bụi trên độ cao từ khoảng 2100m ở vùng Tây Bắc Việt Nam.

Phân bố:

Việt Nam: Đã tìm thấy trên dãy Hoàng Liên Sơn ở độ cao 2800m.

Thế giới: Không có.

Giá trị:

Dạng chim đặc sản ở nước ta. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.

Tình trạng:

Nơi ở tự nhiên bị thu hẹp và bị tác động do tập quán du canh du cư phát rừng làm rẫy của đồng bào dân tộc vùng cao phía Bắc Việt Nam (người Hơmông, Mán). Số lượng của chúng bị giảm sút và hiếm. Mức độ đe dọa: bậc R.

Đề nghị biện pháp bảo vệ:

Cần qui hoạch quản lý và bảo vệ vùng rừng núi cao Hoàng Liên Sơn (từ khoảng 1400m trở lên). Sớm ổn định cuộc sống định canh định cư của đồng bào càc dân tộc trong vùng. Chấm rứt tình trạng chặt phá, đốt rừng và săn bắt bừa bãi.



Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam trang 179.

[URL="http://animaldiversity.ummz.umich.edu/site/resources/david_blank/Gformosus3.jpg/medium.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: medium.jpg][/URL]

In mục này

  Một vài thông tin về chim vẹt
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:15 PM - Diễn đàn: Vẹt - Két - Xích - Yến Phụng - Trả lời (4)

Nguồn Sưu tầm trên Internet

Hiện nay trên thế giới người ta phát hiện được tất cả 328 lòai vẹt, đa phần chúng sống ở các lục địa miền nam bán cầu. Kích thước các loài vẹt cũng rất khác biệt, có những loài vẹt to như Vẹt Ara có thể đạt đến 1m1 chiều dài, trong khi có những loài vẹt khác lại rất nhỏ bé, như loài vẹt mini vùng Tân tây lan chỉ dài tối đa 7,6cm (kể cả đuôi)! Phần lớn các loài vẹt tập trung ở 2 châu lục lớn: Châu Mĩ (Trung Mĩ và Nam Mĩ) và Châu Úc. Châu Âu và Bắc Mĩ hòan tòan không có vẹt. Trong khi đó, tổng số lượng các loài vẹt ở Châu Phi, Ấn độ và Đông Nam Á cộng lại chỉ có khoảng vài chục loài, chiếm số lượng rất nhỏ trong tổng số 328 loài vẹt trên thế giới.

Những chú vẹt đầu tiên xuât hiện tại Châu Âu vào khoảng năm 327 trước Công nguyên. Chúng được những người thủy thủ mang từ Ấn độ đến tặng hòang đế Alexander Makedonxki. Chỉ trong một thời gian ngắn, con vẹt đã trở thành một trong những biểu tượng quyền quí của đế chế Hi lạp cổ. Vào giai đoạn xuất hiện đế chế La mã, một con vẹt nhỏ có thể nhại được một vài từ đắt giá gấp đôi một nô lệ loại tốt! Còn vào thời Trung cổ người ta còn cho rằng loài vẹt, do khả năng bắt chước được tiếng người, là một đại diện động vật gần gũi của Chúa trời hơn hẳn những lòai động vật khác. Đến những năm cuối thế kỉ 14, người ta thậm chí còn săn lùng tổ vẹt chỉ vì một thông tin cho đến nay vẫn chưa được kiểm chứng: nhiều nhà nghiên cứu thời ấy cho rằng nơi nào có nhiều vẹt làm tổ thì nơi đó sẽ có nhiều vàng!

Bộ Vẹt Ở VN chỉ bao gồm 8 loài, tập trung ở các vùng rừng núi miền Trung và Nam bộ. Sau đây là danh sách tên của chúng (tên tiếng Anh-tên khoa học - tên Việt Nam):

Bộ Vẹt (ở VN) – PSITTACIFORMES

Parrots - PSITTACIDAE - Họ Vẹt

1. Blue-rumped Parrot – Psittinus cyanurus – Vẹt đuôi ngắn
[URL="http://3.bp.blogspot.com/_i9u1_OaCZM4/Ses9U1PCCLI/AAAAAAAADyU/s3CfOtmDdBM/s400/psittinus_cyanurus.jpg"][Hình ảnh: psittinus_cyanurus.jpg][/URL]
2. Vernal Hanging Parrot – Loriculus vernalis – Vẹt lùn
[URL="http://www.nowaexota.eu/uploads/26215.jpg"][Hình ảnh: 26215.jpg][/URL]
3. Alexandrine Parakeet – Psittacula eupatria – Vẹt má vàng
[URL="http://farm2.static.flickr.com/1217/1132738424_d860943ca7.jpg"][Hình ảnh: 1132738424_d860943ca7.jpg][/URL]
4. Rose-ringed Parakeet – Psittacula krameri – Vẹt cổ hồng
[URL="http://www.naturamediterraneo.com/Public/data7/giorsb/DSC09929cl.jpg_2009314165349_DSC09929cl.jpg"][Hình ảnh: DSC09929cl.jpg_2009314165349_DSC09929cl.jpg][/URL]
5. Slaty-headed Parakeet - Psittacula himalayana (finschii) – Vẹt đầu xám
[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/slatyheaded_parakeetaps.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: slatyheaded_parakeetaps.jpg][/URL]
6. Blossom-headed Parakeet – Psittacula roseata – Vẹt đầu hồng
[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/dsc_2909.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: dsc_2909.jpg][/URL]
7. Moustached Parakeet – Psittacula alexandri – Vẹt ngực đỏ
[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/redbreasted_parakeetp3270022.jpg"][Hình ảnh: redbreasted_parakeetp3270022.jpg][/URL]
8. Long-tail Parakeet – Psittacula longicauda – Vẹt đuôi dài
[URL="http://img86.exs.cx/img86/7660/vetduoidai.jpg"][Hình ảnh: vetduoidai.jpg][/URL]

Có thể khẳng định rằng, một trong những lí do khiến nhiều người thích nuôi vẹt chính là bộ lông sặc sỡ tuyệt đẹp của chúng. Đó là cả một sự pha trộn màu sắc thật tuyệt diệu, khiến người chơi cứ phải ngắm mãi không biết chán, say mê mãi không biết ngừng. Nhưng nếu chỉ thế thôi, thì con vẹt không thể gắn bó với cuộc sống của loài người hơn hẳn các loài chim khác như bấy lâu nay. Ấy bởi là vì ngoài sắc màu sặc sỡ của bộ lông, loài vẹt còn có một thần thái, tính cách đặc biệt, rất nhân tính, rất “người”, khiến ta luôn có cảm tưởng rằng chúng biết suy nghĩ, không những vậy, biết lắng nghe và cả cảm thông. Vẹt gần gũi với loài người đến mức độ tin cậy hòan toàn, chúng sẵn sàng ăn chung, ngủ chung… với con người, trung thành tuyệt đối và hơn thế, còn là một người bạn cực tốt có khả năng chia sẻ và xoa dịu những buồn đau. Đó cũng là lí do vì sao mà loài vẹt trở thành một trong những cộng sự đắc lực của ngành y trong việc điều trị các chấn thương về tâm lí, đặc biệt là ở trẻ nhỏ.

Khi bạn có một chú vẹt, không những là bạn có thêm một cơ hội bày tỏ tình yêu của mình với thiên nhiên, mà hơn thế nữa, bạn sẽ có thêm một sự an ủi mỗi khi phiền muộn. Bạn sẽ có thêm một tâm hồn đồng điệu biết sẻ chia cảm xúc, bạn sẽ biết vui, biết buồn, biết yêu, biết giận dỗi và thậm chí cả hờn ghen… Nghe có vẻ lạ mà thực ra không hề lạ, vì với loài vẹt, bạn sẽ cảm nhận được tình yêu đặc biệt mà con người gần như không thể có: một tình yêu hiến dâng tuyệt đối không đòi hỏi, không so đo tính tóan thiệt hơn!

In mục này

  Chim Vẹt
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:14 PM - Diễn đàn: Vẹt - Két - Xích - Yến Phụng - Trả lời (2)

Bạn thường chỉ thấy vẹt trong lồng, có lẽ bạn không biết rằng loài chim đáng lưu ý này sống một cuộc đời khác hẳn khi chúng ở ngoài thiên nhiên

Phần lớn lũ vẹt sống cặp đôi suốt đời. Một con vẹt độc thân sẽ cảm thấy cô đơn vô cùng. Cho dù ý định của chúng ta tốt đẹp đến đâu, chúng ta có thể vô cùng độc ác với con vẹt của mình mà không hay nếu chúng ta nhất định chỉ nuôi một con.
[URL="http://ngoisao.net/news/poster/2009/03/3b9c8b46/VNE_7882.jpg"][Hình ảnh: VNE_7882.jpg][/URL]

Gia đình họ vẹt là một gia đình đông đúc, gồm có chim trĩ, vẹt đuôi dài Nam Mỹ, vẹt mào, vẹt xanh, vẹt đuôi dài Úc châu, và nhiều loại khác. Mặc dù chúng ta thường nghĩ tất cả bọn chúng đều có bộ lông sặc sỡ xinh đẹp, rất nhiều loài vẹt chỉ khoác những bộ lông màu xám và nâu xỉn nhất. Loài chim có bộ lông ít phô trương chỉ có một lợi thế so với loài anh em có màu sặc sỡ: không ai nghĩ đến việc gắn lông nó lên mũ! Loài vẹt đẹp nhất đã từng chịu đau khổ khá nhiều khi bộ lông của nó bỗng trở thành mốt thời thượng ở New York, Paris hay London. Đã có một thời gian ngắn vào thế kỷ 19, cái mũ yểu điệu đúng mốt nhất của các bà có cả một con vẹt nhồi ngự trên vành mũ!

Dường như loài vẹt không thể không lôi kéo sự chú ý. Ngay từ năm thứ 200 trước Công Nguyên, người La Mã cổ đại đã nuôi vẹt làm cảnh. Thỉnh thoảng họ còn đem rôti chúng nữa và coi đó là một món ăn thơm ngon nhất. Nhưng chính tài năng của loài vẹt - khả năng kỳ lạ có thể lặp lại ngôn ngữ loài người - chứ không phải mùi vị của nó khiến nó trở nên đắt giá. Lần đầu tiên loài vẹt nói tiếng người là vào thời La Mã.
[URL="http://vuonchimviet.com/userfiles/image/vuon%20nuoi%20vet.JPG"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: vuon%20nuoi%20vet.JPG][/URL]

Có lẽ người La Mã đã bắt vẹt ở châu Phi, Vẹt ở khắp nơi trên thế giới, trừ châu Âu và hai miền cực. Phần lớn chúng ở vùng rừng nhiệt đới Nam Mỹ, châu Phi và Nam Á. Nhưng chúng còn sống ở vùng bờ biển và vùng núi cao. Một vài loài sống ở New Zealand, như loài Kea, đôi khi còn đi lang thang trên những băng hà vùng cao nguyên. Thực ra loài Kea coi đó là trò chơi rất thú vị. Điều duy nhất mà loài vẹt không chịu nổi là không khí quá khô. Tất cả loài vẹt đều cần độ ẩm rất lớn.

Gần như tất cả tám trăm mười sáu loài vẹt đều có thể nói ít nhất một hay hai từ khi được nuôi trong nhà. Không ai biết tại sao chúng lại nói. Chúng không có vẻ gì ham thích lặp lại những âm thanh quanh chúng trong thiên nhiên, nhưng chúng học nhại lại chúng ta rất nhanh. Và trong khi bạn chật vật chưa phát âm được một từ tiếng Nga hay Mandarin, vẹt có thể nhại lại bất kỳ ngôn ngữ nào. Không chỉ có thế, mà khi một con vẹt đã học được giai điệu nào đó, nó sẽ hát rất đúng nốt. Vẹt còn có thể nâng giọng hay hạ giọng đoạn nhạc đó - có lẽ nó muốn phô diễn - nhưng nó không bao giờ sai nhạc điệu. Loài người chúng ta gọi khả năng đó là "hát đúng giọng". Rõ ràng tất cả loài vẹt đều hát đúng giọng, nhưng chỉ một trong số vài trăm người có khả năng đó. Vẹt còn có thể nhớ nhịp rất chính xác và chúng không bao giờ trật nhịp.

Dĩ nhiên loài vẹt không thực sự hiểu chúng đang nói gì, hay hát gì. Các nhà khoa học cho rằng vẹt coi những âm thanh của con người như những tiếng gọi bạn, và khi chúng nhại lại giọng của bạn tức là chúng đang tỏ ra đặc biệt thân thiện. Nếu con vẹt nhại lại giọng ai đó trong số bạn bè của bạn, bạn sẽ nhận ra ngay kiểu nói của anh ta. Chúng ta đều có những câu nói đặc trưng và nhịp điệu riêng. Ngay cả những chi tiết đó cũng không qua được tài năng của bọn vẹt.

Bạn có thích một con vẹt biết nói không? Một số loài biết nói sõi hơn loài khác. Có lẽ vô địch là loài vẹt xám. Một vài trăm từ và vài bài hát không phải là thành tích đặc biệt của chúng! Nói cho chính xác, một vài con rất thông minh, có thể chào hỏi rất đúng lúc. Người ta đã từng dạy chúng đọc vài đoạn trích trong một vở kịch như thể chúng là một gánh hát. Điều không may là không ai dám đảm bảo một con vẹt nào đó có thích nói hay không. Và ngược lại nếu con vẹt của bạn thuộc loại lắm mồm, không ai dám đảm bảo rằng bạn sẽ bắt nó ngưng được khi bạn đã chán ngấy cái điệu lảm nhảm của nó. Hơn nữa, một vài chú vẹt dường như chỉ chọn những từ dễ gây lúng túng nhất và nói vào những lúc hoàn toàn không thích hợp.

Ngay cả khi bạn kiếm được một con thật dễ thương - và những con như thế không rẻ đâu - bạn cũng nên kiểm tra xem chúng có hợp pháp không. Vẹt không phải tội phạm, nhưng chúng mang nhiều bệnh mà con người dễ lây. Bệnh đó gọi là psittacosis hay "sốt vẹt", nhưng nay gọi là ornithosis hay "sốt chim". Bác sĩ phát hiện ra rằng không chỉ vẹt mang mầm bệnh phổi này, mà cả gà, bồ câu, bạch yến và vài loài chim biển đều có. Năm 1937, nước Mỹ đã cấm đưa vẹt vào nước họ, nhưng bây giờ luật pháp đã thay đổi. Hiện giờ vẹt bị giữ lại bốn mươi lăm ngày để tiêm phòng ngừa bệnh. Cẩn tắc vô ưu, điều đó giúp chúng - và cả bạn nữa - luôn luôn khỏe mạnh.

Nguồn Sưu tầm trên Internet

In mục này

  Mi đầu đen
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:13 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Họa Mi - Trả lời (1)

Nguồn Sưu tầm trên Internet
Mi đầu đen
Heterophasia melanoleuca Ảnh: Nguyễn minh Luyện


Tên Việt Nam:Mi đầu đen

Tên Latin : Heterophasia melanoleuca
Họ: Khướu Timaliidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Lớp (nhóm): Chim

Chim trưởng thành:

Đầu và gáy đen thẫm có ánh xanh. Lưng xám hơi phót nâu. Hông và trên đuôi xám. Lông cánh đen với phần gốc của phiến trong màu trắng nhạt. Lông đuôi đen với phần cuối lông xám, càng ra phía ngoài phần xám ở cuối lông càng lớn dần. Cằm và dưới đuôi trắng tinh. Phần còn lại của mặt bụng trắng hơi phớt xám. Loài này giống tương tự như phân loài H. m. tonkinnensis nhưng kích thước hơi lớn hơn.

Mắt nâu hay nâu đỏ. Mỏ đen. Chân nâu thẫm hay đen nhạt.

Kích thước:

Cánh: 89 - 106; đuôi: 110; giò: 32; mỏ: 17mm.

Phân bố:

Phần loài mi đầu đen chỉ mới tìm thấy ở Lào Cai và Hoàng Liên Sơn ở độ cao trên 1.500m.



Tài liệu dẫn: Chim Việt Nam hình thái và phân loại - Võ Qúi - tập 2 trang 247.

[URL="http://www.vncreatures.net/pictures/animal/5630s.jpg"][Hình ảnh: 5630s.jpg][/URL]

In mục này

  Họ Chào Mào
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:12 PM - Diễn đàn: Thảo luận chung - Trả lời (3)

Họ Chào mào (danh pháp khoa học: Pycnonotidae) là một họ chứa các loài chim biết hót kích thước trung bình thuộc bộ Sẻ, sinh sống tại châu Phi và nhiệt đới châu Á. Họ này chứa khoảng 130 loài. Tên gọi phổ biến trong tiếng Việt là chào mào, bông lau, hoành hoạch và cành cạch, trong đó tên gọi cành cạch được dùng cho các loài chim trong chi Criniger và Hypsipetes theo phân loại của Howard-Moore còn tên gọi chào mào là tên gọi dân dã cho 'chào mào ria đỏ' (Pycnonotus jocosus). Tên gọi này cũng áp dụng cho chi Spizixos và một vài loài khác trong chi Pycnonotus. Bông lau được sử dụng cho phần lớn các thành viên của chi Pycnonotus (ngoại trừ những loài nào gọi là chào mào). Tuy nhiên do không phải loài nào cũng có mặt tại Việt Nam nên trong bài gọi chung là chào mào khi có thể.

Các loài chim này chủ yếu là chim ăn quả. Một số có màu sặc sỡ với huyệt, má, họng, lông mày có màu vàng, đỏ hay da cam, nhưng phần lớn có bộ lông buồn tẻ với màu chủ đạo là đen hay nâu ô liu đồng nhất. Một số loài có mào rất đặc biệt.

Nhiều loài sinh sống trên phần ngọn của cây cối trong khi một số loài chỉ sống ở các tầng cây thấp. Chúng đẻ tới 5 trứng có màu hồng tía trong các tổ trên cây và chim mái ấp trứng.

Chào mào (Pycnonotus jocosus) sinh sống rộng rãi trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chẳng hạn ở miền nam Florida, Hoa Kỳ.
Hệ thống học

Các sắp đặt truyền thống chia các loài chào mào thành 4 nhóm, gọi là các nhóm Pycnonotus, Phyllastrephus, Criniger và Chlorocichla theo các chi đặc trưng này[1]. Tuy nhiên, các phân tích gần đây chứng minh rằng kiểu sắp xếp này có lẽ đã dựa trên diễn giải sai lầm các đặc trưng:

So sánh các chuỗi mtDNA cytochrome b phát hiện ra rằng 5 loài của chi Phyllastrephus không thuộc về nhóm chào mào, mà thuộc về nhóm kỳ dị chứa các loài chim biết hót ở Madagascar[2]. Xem thông tin dưới đây để biết thêm về 5 loài này. Tương tự, phân tích chuỗi các gen nDNA RAG1 và RAG2 cho thấy chi Nicator cũng không là chào mào [3]. Nghiên cứu của Pasquet và ctv. (2001)[4] chứng minh rằng sắp xếp trước đây thất bại trong việc tính toán tới địa sinh học. Nhóm này chứng minh rằng chi Criniger phải chia thành các dòng dõi châu Phi và châu Á (Alophoixus). Sử dụng phân tích 1 chuỗi nDNA và 2 chuỗi mtDNA, Moyle & Marks (2006)[5] phát hiện thấy một dòng dõi chủ yếu ở châu Á và một nhóm các loài greenbul và chim mỏ cứng ở châu Phi; Greenbul vàng kim dường như rất khác biệt và tạo thành nhóm của chính nó. Một vài đơn vị phân loại không là đơn ngành, và các nghiên cứu tiếp theo là cần thiết để xác định các mối quan hệ giữa các chi lớn.
Chào mào điển hình
Chi Pycnonotus (cận ngành)

* Chào mào châu Á "cổ đại"
* Chào mào vàng đầu đen, Pycnonotus atriceps[6]
* Bông lau họng vạch hay chào mào họng sọc, Pycnonotus finlaysoni[6]
* Chào mào ria đỏ hay chào mào, Pycnonotus jocosus[6]
* Bông lau ngực nâu hay chào mào ngực nâu, Pycnonotus xanthorrhous[6]
* Chào mào lưng bồng, Pycnonotus eutilotus
* Chào mào đen trắng, Pycnonotus melanoleucus
* Pycnonotus đích thực
* Chào mào vàng mào đen, Pycnonotus melanicterus[6]
* Chào mào bụng xám, Pycnonotus cyaniventris
* Bông lau nâu nhỏ hay chào mào bốn mắt, Pycnonotus erythropthalmos[6]
* Chào mào đầu vàng rơm, Pycnonotus zeylanicus
* Chào mào mắt đỏ, Pycnonotus brunneus
* Chào mào cánh ô liu, Pycnonotus plumosus
* Bông lau mày trắng hay chào mào huyệt vàng, Pycnonotus goiavier[6]
* Chào mào ngực đen, Pycnonotus nigricans
* Chào mào má trắng, Pycnonotus leucogenys
# Tranh cãi
# Chào mào thường, Pycnonotus barbatus
# Không gán
# Chào mào vạch hay chào mào vằn, Pycnonotus striatus[6]
# Chào mào sọc kem, Pycnonotus leucogrammicus
# Chào mào cổ đốm, Pycnonotus tympanistrigus
# Chào mào đầu xám, Pycnonotus priocephalus
# Chào mào Styan, Pycnonotus taivanus
# Chào mào ngực vảy, Pycnonotus squamatus
# Bông lau Trung Quốc hay chào mào huyệt sáng, Pycnonotus sinensis[6]
# Chào mào Cape, Pycnonotus capensis (loài điển hình)
# Chào mào kính trắng, Pycnonotus xanthopygos
# Chào mào tai trắng, Pycnonotus leucotis
# Bông lau đít đỏ hay chào mào huyệt đỏ, Pycnonotus cafer[6]
# Bông lau tai trắng hay chào mào đầu than hoặc bông lau đít đỏ, Pycnonotus aurigaster[6]
# Chào mào yếm lam, Pycnonotus nieuwenhuisii (tranh cãi)
# Chào mào yếm vàng, Pycnonotus urostictus
# Chào mào đốm cam, Pycnonotus bimaculatus
# Chào mào họng vàng, Pycnonotus xantholaemus
# Chào mào tai vàng, Pycnonotus penicillatus
# Bông lau vàng hay chào mào Flavescent, Pycnonotus flavescens[6]
# Chào mào trán trắng, Pycnonotus luteolus
# Bông lau tai vằn hay chào mào tai sọc, Pycnonotus blanfordi[6]
# Chào mào huyệt kem, Pycnonotus simplex
* Chi Spizixos
o Chào mào mỏ lớn, Spizixos canifrons[6]
o Chào mào khoang cổ, Spizixos semitorques[6]

* Chi Tricholestes
o Cành cạch lưng rậm lông, Tricholestes criniger

* Chi Setornis
o Cành cạch mỏ móc, Setornis criniger

* Chi Alophoixus – trước đây gộp trong chi Criniger, có thể là đa ngành
o Cành cạch Finsch, Alophoixus finschii
o Cành cạch họng trắng, Alophoixus flaveolus
o Cành cạch lớn hay cành cạch họng bồng, Alophoixus pallidus[6]
o Cành cạch bụng hung hay cành cạch đất son, Alophoixus ochraceus[6]
o Cành cạch má xám, Alophoixus bres
o Cành cạch bụng vàng, Alophoixus phaeocephalus
o Cành cạch vàng kim, Alophoixus affinis

* Chi Iole
o Cành cạch ô liu, Iole virescens
o Cành cạch nhỏ hay chào mào mắt xám, Iole propinqua[6]
o Cành cạch huyệt vàng da bò, Iole olivacea
o Cành cạch trán vàng, Iole indica

* Chi Hemixos
o Cành cạch xám hay chào mào xám tro, Hemixos flavala[6]
o Cành cạch hung hay chào mào nâu dẻ, Hemixos castanonotus[6]


* Chi Ixos (cận ngành)
o Gần với Hemixos
o Cành cạch Mã Lai hay chào mào sọc, Ixos malaccensis[6]
o Không gán
o Cành cạch bụng vàng, Ixos palawanensis - Hypsipetes?
o Cành cạch ngực sọc, Ixos siquijorensis - Hypsipetes?
o Cành cạch vàng nhạt, Ixos everetti
o Cành cạch Zamboanga, Ixos rufigularis
o Cành cạch núi hay chào mào núi, Ixos mcclellandii[6]
o Cành cạch Sunda, Ixos virescens

* Chi Microscelis
o Cành cạch tai nâu, Microscelis amaurotis (đôi khi gộp trong chi Ixos)

* Chi Hypsipetes
o Cành cạch Philippine, Hypsipetes philippinus – trước đây trong chi Ixos
o Cành cạch Madagascar, Hypsipetes madagascariensis
o Cành cạch đen hay chào mào đen, Hypsipetes leucocephalus[6]
o Cành cạch Seychelles, Hypsipetes crassirostris
o Cành cạch thông thường, Hypsipetes parvirostris
o Cành cạch Reunion, Hypsipetes borbonicus
o Cành cạch Mauritius, Hypsipetes olivaceus
o Cành cạch Nicobar, Hypsipetes virescens
o Cành cạch đầu trắng, Hypsipetes thompsoni

Greenbul điển hình và đồng minh

* Chi Phyllastrephus (19 loài)
* Chi Andropadus (12 loài; có thể đa ngành)
* Chi Criniger (5 loài)
* Chi Thescelocichla – Greenbul đầm lầy
* Chi Chlorocichla (6 loài)
* Chi Ixonotus - Greenbul đốm (đặt vào đây không chắc chắn)
* Chi Baeopogon (2 loài)
* Chi Bleda – chim mỏ cứng (3 loài)
Incertae sedis

* Chi Neolestes
o Chào mào vòng cổ đen, Neolestes torquatus

Nó có thể là đồng minh của chi Calyptocichla hay không phải là chào mào thật sự.
[sửa] Tách ra gần đây từ Pycnonotidae
Hiện nay trong chích Malagasy

* Chi Bernieria – trước đây trong chi Phyllastrephus
o Greenbul mỏ dài, Bernieria madagascariensis

* Chi Xanthomixis - trước đây trong chi Phyllastrephus; có thể đa ngành
o Greenbul khoang mắt, Xanthomixis zosterops
o Tetraka Appert, Xanthomixis apperti
o Greenbul tối màu, Xanthomixis tenebrosus
o Greenbul đầu xám, Xanthomixis cinereiceps

Incertae sedis

* Chi Nicator
o Nicator đốm vàng, Nicator chloris
o Nicator miền đông, Nicator gularis
o Nicator họng vàng, Nicator vireo

nguồn ( Wikipedia.org )

[URL="http://www.cbd-itb.org.vn/data/photos/130/Chao%20mao%20vang%20mao%20den%20-%20Pycnonotus%20melanicretus%20Photo%20Hoang%20Minh%20Duc_web.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Chao%20mao%20vang%20mao%20den%20-%20Pycn...uc_web.jpg][/URL]
Chào mào vàng đầu đen
[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/57/Red-whiskered_Bulbul-web.jpg/578px-Red-whiskered_Bulbul-web.jpg"][Hình ảnh: 578px-Red-whiskered_Bulbul-web.jpg][/URL]
Chào mào thuộc về nhóm Pycnonotus châu Á.
[URL="http://farm3.static.flickr.com/2398/2242103615_d454324a9e_m.jpg"][Hình ảnh: 2242103615_d454324a9e_m.jpg][/URL]
Bông lau họng vạch hay chào mào họng sọc, Pycnonotus finlaysoni
[URL="http://biomuseum.sysu.edu.cn/BioM/Animalia%5CChordata%5CAves%5CPycnonotus%20xanthorrhous%5Chtb_02.JPG"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Animalia%5CChordata%5CAves%5CPycnonotus%...htb_02.JPG][/URL]
Bông lau ngực nâu hay chào mào ngực nâu, Pycnonotus xanthorrhous
[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/_d235791.jpg"][Hình ảnh: _d235791.jpg][/URL]
# Chào mào lưng bồng, Pycnonotus eutilotus
[URL="http://www.pbase.com/liquidstone/image/74153033/medium.jpg"][Hình ảnh: medium.jpg][/URL]
# Chào mào cánh ô liu, Pycnonotus plumosus
[URL="http://ibc.lynxeds.com/files/pictures/Pycnonotus_zeylanicus_2JH.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Pycnonotus_zeylanicus_2JH.jpg][/URL]
# Chào mào đầu vàng rơm, Pycnonotus zeylanicus
[URL="http://farm3.static.flickr.com/2026/2423778145_316fc03051.jpg?v=0"][Hình ảnh: 2423778145_316fc03051.jpg?v=0][/URL]
# Chào mào mắt đỏ, Pycnonotus brunneus
[URL="http://i67.photobucket.com/albums/h285/phoenix108/phoenix108%20--chim%202010/mtrngmi.jpg"][Hình ảnh: mtrngmi.jpg][/URL]
Bông lau mày trắng hay chào mào huyệt vàng, Pycnonotus goiavier
[URL="http://image.shutterstock.com/display_pic_with_logo/276130/276130,1240515359,1/stock-photo-african-red-eyed-bulbul-pycnonotus-nigricans-in-the-etosha-national-park-namibia-29030833.jpg"][Hình ảnh: stock-photo-african-red-eyed-bulbul-pycn...030833.jpg][/URL]
# Chào mào ngực đen, Pycnonotus nigricans
[URL="http://www.haryana-online.com/images/Birds/RonSaldino/Himalayan_Bulbul.jpg"][Hình ảnh: Himalayan_Bulbul.jpg][/URL]
# Chào mào má trắng, Pycnonotus leucogenys
[URL="http://www.birdwatchingtours.co.uk/gallery/pix/eglenest-pix/striated_bulbul_l.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: striated_bulbul_l.jpg][/URL]
Chào mào vạch hay chào mào vằn, Pycnonotus striatus

[URL="http://orientalbirdimages.org/images/data/spotnecked_bulbul_pm.jpg"][Hình ảnh: spotnecked_bulbul_pm.jpg][/URL]
# Chào mào cổ đốm, Pycnonotus tympanistrigus
[URL="http://farm1.static.flickr.com/202/497530545_f7996d129d_m.jpg"][Hình ảnh: 497530545_f7996d129d_m.jpg][/URL]
# Chào mào đầu xám, Pycnonotus priocephalus
[URL="http://www.arkive.org/media/23/23E65810-AFDD-4392-8B7D-D303EC0A22C3/Presentation.Large/photo.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: photo.jpg][/URL]
# Chào mào Styan, Pycnonotus taivanus
[URL="http://farm4.static.flickr.com/3122/2752440485_78f8268543.jpg"][Hình ảnh: 2752440485_78f8268543.jpg][/URL]
# Chào mào ngực vảy, Pycnonotus squamatus
[URL="http://farm5.static.flickr.com/4052/4226895701_9d5b65a972.jpg"][Hình ảnh: 4226895701_9d5b65a972.jpg][/URL]
Bông lau Trung Quốc hay chào mào huyệt sáng, Pycnonotus sinensis
[URL="http://wildcliff.org/fauna/birds/pycnonotus_capensis_female.jpg"][Hình ảnh: pycnonotus_capensis_female.jpg][/URL]
Chào mào Cape, Pycnonotus capensis
[URL="http://www.arkive.org/media/40/407862FE-69D4-4BF0-A1F4-12591846A24C/Presentation.Large/photo.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: photo.jpg][/URL]
# Chào mào kính trắng, Pycnonotus xanthopygos
[URL="http://farm4.static.flickr.com/3384/3193807795_2f3682bba9.jpg"][Hình ảnh: 3193807795_2f3682bba9.jpg][/URL]
# Chào mào tai trắng, Pycnonotus leucotis
[URL="http://members.cox.net/arniesdca/birds3/red-vented%20bulbul%20r.jpg"][Hình ảnh: red-vented%20bulbul%20r.jpg][/URL]
Bông lau đít đỏ hay chào mào huyệt đỏ, Pycnonotus cafer

Nguồn Sưu tầm trên Internet

In mục này

  Cu gáy - loài chim của vùng quê yên tĩnh
Đăng bởi: ngoctuan - 09-13-2010, 12:11 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Cu Gáy - Trả lời (1)

[Hình ảnh: u2_files.jpg][Hình ảnh: chimcugay.jpg]
Chim Cu Gáy, còn gọi là chim Cu là loại chim thường gặp nhất ở vùng thôn quê yên tĩnh.

Chim Cu Gáy, còn gọi là chim Cu là loại chim thường gặp nhất ở vùng thôn quê yên tĩnh.

Từ Bắc chí Nam, ở đâu có đồng ruộng là ở đó có Cu gáy sinh sống. Chúng cần dựa vào người mà sống, vì thức ăn của Cu Gáy chủ yếu là lúa, đậu, mè, là những nông sản do nông dân làm ra.

Cu Gáy có hai loại :

- Cu Cườm, còn gọi là Cu Đất, có cườm ở cổ.
- Cu Ngói, thân hình nhỏ hơn Cu Cườm, toàn thân lông màu hung đỏ, cổ không cườm mà thay vào đó là một vạch đen quanh cổ.

Đúng ra phải kể thêm một loại Cu nữa là Cu Xanh, còn gọi là Cu rừng, vì chúng chỉ sống ở rừng. Cu Xanh thì toàn thân lông màu xanh lá cây, thân hình cũng lớn bằng Cu Gáy.

Thường thì những người thích nuôi Cu Gáy là những người già, những lão nông. Họ treo một vài lồng chim nhỏ ở trước hiên nhà để thỉnh thoảng nghe được vài câu “Cúc cu cu…” và lấy làm đắc ý.

Người chưa hề nuôi chim Cu, chưa hiểu rõ đặc tính của chim Cu ra sao, thì thường hay thắc mắc không hiểu loại chim này có gì đáng hấp dẫn đến độ có người mê nuôi chúng đến như thế.
Người ta thường kể cho nhau nghe những chuyện khó tin nhưng lại là chuyện có thật : nhưng có những người thương con Cu gáy đến độ nhà cháy không lo “chạy” đồ đạc đắt giá trong nhà mà chỉ vội vàng xách chiếc lồng Cu vì sợ chết con chim quí hóa. Có người chạy giặc mặc cho vợ con tay xách nách mang đồ đạc, còn mình thì chỉ khư khư giữ chiếc lồng chim Cu.

Như vậy thì loại chim tưởng là tầm thường này chắc hẳn cũng có những ưu điểm bất thường mà người đời chưa hiểu rõ nên cho là tầm thường chăng?

Hình dáng : Chim Cu Gáy hình dáng như một chú bồ câu sẻ, cổ có cườm bao hết vòng giáp cổ thì gọi là cườm liên hoàn. Cườm liên hoàn thì vô cùng quí hiếm, vài trăm con mới có được một con. Lông chim có màu xám hồng ở phần đầu, ức và bụng. Phần gián cánh lông màu đen, và trên cánh có những vệt đen nhỏ tạo thành những đốm vảy qui trên cánh.

Nhưng với một chim Cu thuộc vào loại tốt nhất mà người sành điệu lựa nuôi thì phải có những điểm đặc biệt sau:

- Nhất Huỳnh kiên: Tức là chim có cườm màu vàng. Cườm này phải xuống tận vai nhưng không đóng ở trên lưng. Dĩ nhiên loại chim này hiếm khi được gặp.

- Nhì Liên giáp: Tức là hình dáng của chim giống như một cái bắp chuối, hai đầu nhỏ, giữa phình ra, trông rắn chắc, gọn chặt.

- Tam Quá khóe: Có cái chỉ màu đen chạy dưới khóe mắt, dài quá khóe mắt một chút mới tốt.

- Tứ Chân khô: Có nghĩa là chân chim phải vuông cạnh và khô. Vảy đóng hai hàng trơn, đóng chặt, nổi mốc lên.

- Ngũ Liên hoàn: Cườm phải đóng giáp vòng hết cổ mới thật tốt. Thường thì chim chỉ có cườm đóng ở phần trên cổ mà thôi, phần ức không có cườm.

- Lục Cườm rựng: Tức là có cườm lót. Chim mà có cườm rựng là chim có gù hậu, tức là gáy dai dẳng.

Tất cả những con chim Cu nào có một trong những đặc điểm trên đây đều thuộc loại chim quí hiếm, dùng làm Cu mồi rất tốt.

Ngoài ra, cũng phải lưu ý tới những chi tiết quan trọng sau đây:

- Chim Cu mà đuôi vót, tức là ở bắp đuôi thì lót, chót đuôi thì nhỏ lại mới là con chim tốt và khôn.

- Chim có gián cánh, tức là có lông trắng ở trên một cánh hay ở cả hai cánh. Đó là chim tốt nên chọn nuôi.

-Chim có móng trắng gọi là Bạch Đề : chỉ cần có một móng trắng hay nhiều móng trắng là chim quí hiếm.

-Chim có màu đỏ là chim sát thủ : tức là chim rất dữ, chọn làm mồi thì chỉ toàn gặp may.
Ngoài ra, ta còn phải chọn chim có đầu nhỏ, có mỏ cong, có hình bầu, có cổ lãi (cổ cao), có chân thấp, có đuôi thon, có cánh phủ mình hay cánh chéo, lông phủ đầu gối…

Xem thế đủ thấy chọn một con chim Cu Gáy thật hay cũng khó khăn như chọn một gà nòi đá độ. Chọn gà nòi người ta cũng chọn đầu, cổ, lưng, lườn, ghim, chân, vảy, móng, đến cánh gà, đuôi lao… À thì ra đây là giống để đá. Con chim Cu gọi là hay là con chim dùng để làm cu mồi. Giống Cu mồi thì hung hăng ham đá, vì vậy mấy con khác mới thi nhau sa vào bẫy rập của người gác Cu.

Chim cu gáy - Biểu tượng mùa gặt thanh bình của nông thôn Việt!
Quê tôi ở miền Trung du Phú Thọ. Mỗi khi nắng trải vàng trên cánh đồng lúa mênh mông là lúc râm ran tiếng gù của chim cu gáy. Người sành chơi quê tôi thường nuôi chim trong lồng hẹp, cái cảnh bức bối tù hãm ấy mới dồn nén làm bật lên tiếng gù làm say đắm lòng người. Qua chú tôi, một lão nông tri điền cả một đời chỉ nuôi chim cu gáy, tôi hiểu thêm thú chơi cầu kì này.
Tiếng gáy của chim cu có nhiều giọng, nhiều cung bậc, nhưng người chơi thường chia làm hai loại: giọng kim (cao) và giạng thổ (trầm). Trong giọng thổ lại chia ra giọng thổ đồng và giọng thổ gầm. Được con chim có giọng thổ đồng đã quý, nhưng được giọng thổ gầm thì quý bội phần. Đó là giọng trầm trầm của thổ đồng xen lẫn tiếng rù...rù.... Giọng một con cu gáy hay phải đạt được những yêu cầu cơ bản như: chu ( nghe như tiếng sáo diều, tiếng gió thổi qua ống tre); mỏ ( nhẹ nhàng, xa xăm); vấp ( tiếng gáy nhưng lại như bị ngắt); thừa ( thêm một tiếng lạ bất kì); ***** ( gáy ***** các hồi trên); đảo ( gáy từ hồi một đến hồi năm rồi lại từ hồi năm đến hồi một), đảo đi đảo lại nhiều lần). Tiết tấu là đỉnh cao của một giọng gáy, lúc dồn dập, lúc khoan thai lúc nhẹ nhàng như lời tự tình, khi lại hùng dũng. Chú tôi rất quý một con cu gáy "cườm vưng" có giọng thổ gầm " hò tứ". Tiếng gù đang say sưa trầm ấm bỗng như ngưng lại rồi chợt bật lên tiếng "thừa" như một tiếng cười ngạo nghễ. Chú tôi thích thú bảo: - Cháu cứ nghe kĩ rồi nghiệm xem, có khác nào tiếng cười bi ai của chàng Từ Hải, hùm chót sa cơ nhưng chí khí ngất trời. Tôi tuy đã đi công tác xa, mỗi lần nghe tiếng gù của chim cu gáy lại da diết nhớ đồng quê một nắng hai sương; nhớ cồn cào manh áo gụ bạc sờn đọng trắng mồ hôi của bà, của mẹ; nhớ tuổi thơ cùng bạn bè đi học, trưa nắng ngồi nghỉ chân dưới gốc đa cổ thụ, nơi có đền thờ Mẹ Âu Cơ, nghe tiếng chim cu gáy mênh mang và thả hồn trong những ước mơ về ngày mai.
[Hình ảnh: 4437734711_d2ee6c3baf_o.jpg]
Nhớ chim cu gáy đồng xa

Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu, cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên cạnh lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt ai mà không cảm nhận lòng mình xao xuyến, gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội hương quê...
[Hình ảnh: chimcugay.jpg]
Người nuôi chim rành rẽ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay hoặc quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác. Hơn hai mươi năm trước, vùng Bình Ân, Gia Thuận... và miệt Tân Thành, Pháo Đài (Gò Công) chim cu nhiều lắm. Vào vườn mãng cầu mát rượi mắc võnh nằm lim dim mắt nghe chúng gù gù rồi gáy ngọt nhịp mà phát "phê". Nhiều đến nỗi dân nhậu coi chim cu là món mồi khoái khẩu, tìm cách săn bắt về rô ti, nướng muối ớt... Đồng lúa chín vàng, chim cu hợp đàn cút cù cu khắp lượt và tách đàn vào mùa thu. Chúng ưa đậu trên cành cao ít lá để phơi nắng, rỉa lông, tối tìm cành rậm lá để ngủ. Một số người cao tuổi có thú vui "gác cu" lâu năm thành thói quen khó bỏ. Con chim cu mồi phải có bộ lông nhuyễn mướt với vòng cườm đều, tiếng gáy nghe thật "êm tai". Nhốt cu mồi vào "lúp" có hai ngăn làm bằng tre sơn màu xanh lá cây, bọc vải che kín, chỉ chừa khoảng trống cửa bẫy. Dùng sào dài treo "lúp" trên cành tre cao rồi chịu khó ngồi nấp trong lùm rậm để theo dõi, tránh gây tiếng động, dù là nhỏ nhất. Người gác cu có sự kiên nhẫn chịu đựng thời gian dài nên trong ca dao dân gian xếp hạng chuyện này đứng hàng thứ ba trong bốn cái... "khổ". Chim cu mồi cứ rỉ rả cất tiếng gáy khiêu khích, lôi cuống con chim "bổi" bên ngoài gáy đáp lại như một cuộc tranh tài. Một lúc sau, cu bổi hăng máu xông vào "lúp" tấn công và thế là mắc bẫy. Coi vậy chú không dễ dàng chút nào, người gác cu hải trầm tính mới tận hưởng được niềm vui hồi hộp, căng thẳng và sau đó là nỗi hân hoan khó tả. Nhờ có lần ông cậu tôi xách sào, xách "lúp" đi từ sáng đến tối suốt mấy ngày về tay không. mặt mày quẹo đeo vì rình rập cực khổ mà ggặp phải con bổi quá khôn lanh, cảnh gíac không chịu vào lúp. Tới chừng bẫy được con bổi ấy, cậu tôi hả hê vui mừng, tất nhiên người trong nhà ai cũng thở phào nhẹ nhõm. Thấy vậy mới biết thú gác cu nó mê hoặc, hấp dẫn con người ta biết dường nào!

Bây giờ đồng lúa thâm canh tăng vụ, nhu cầu đời sống con người phát triển và lấn chiếm dần môi trường không gian thiên nhiên khiến cho giống chim cu nhạy cảm, ưa tự do phóng khoáng tản mát đâu đâu khó mà tìm gặp. Về quê, nhìn đồng lúa chín vàng, vườn cây trái sum suê bóng mát, bất giác thèm nghe tiếng chim cúc cù cu quá chừng. Lại nhớ một đọan trong bài thơ "Vòng cườm trên cổ chim cu" của nhà thơ Chế Lan Viên:
[Hình ảnh: 1e06d2c990c1f9b05c614da6d1c7c822.jpg]
"Chỗ cành xanh là cỗ chim gù

Hồn đất nước theo tiếng chim dân dã

Như chửa nghe bao giờ. Mà như đã

Nghe rồi. Tự đâu trời xa xửa xa xưa...

Nguồn Sưu tầm trên Internet

In mục này


Thành viên đang trực tuyến
Hiên tại có 455 thành viên đang trực tuyến » 0 Thành viên | 453 Khách
Bing, Google

Thẩm định giá bất động sản Thẩm định giá động Sản Thẩm định giá máy móc thiết bị Thẩm định dự án đầu tư Thẩm định giá tri doanh nghiệp
Thẩm Định Giá tài sản vô hình Thẩm định giá dự toán gói thầu Thẩm Định Giá Dự toán, dự án xây dựng Thẩm định giá trang thiết bị y tế Thẩm định giá Xử lý nợ Thẩm định giá nhà xưởng Thẩm định giá đầu tư
Mã nguồn bởi MyBB, © 2002-2026 Tài Trợ Bởi Thamdinh.com.vn.