Thông kê diễn đàn
» Thành viên: 176,918,   » Thành viên mưới nhất: admin,   » Chủ đề: 46,693,   » Bài viết: 420,659,  
Thống kê đầy đủ

  Nuôi sáo(Acridotheres cristatellus) như thế nào cho mau biết nói?
Đăng bởi: butchi - 09-13-2010, 02:52 PM - Diễn đàn: Nhồng-Yểng - Cưỡng - Sáo. - Trả lời (4)

[Hình ảnh: images?q=tbn:rzF0kVQOCo6EIM::&t=1&usg=__...0FBHij4kQ=]
Nếu con sáo của bạn còn nhỏ thì bạn hãy chăm sóc cẩn thận cho đến khi trưởng thành ( lông vũ mọc đầy đủ và có mào trên đầu). Lúc này bạn hãy chộn một ít ớt bột hoặc ớt tươi rã nhỏ vào thức ăn rồi cho sáo ăn ngày 2 lần. Nhớ là ban đầu cho ít một sau tăng dần cho đến khi sáo lột lưỡi xong.
Bây giờ đến giai đoạn tập nói: Bạn nên đưa sáo vào khu vực yên tĩnh ( tốt nhất là góc vườn), dùng một miếng vải đen che lồng lại, hằng ngày đến bữa cho sáo ăn thì tháo tấm vải ra và tập nói cho sáo khoảng 30 phút rồi mới cho ăn. Khi sáo ăn xong thì lại dùng miếng vải che lại. Lần cho ăn sau lại làm lại các thao tác như vậy ( nhớ chỉ tập cho sáo nói từng câu ngắn một, nói được câu này rồi mới tập câu khác) như: xin chào cậu chủ, nhà có khách, em đói rồi,....
Chúc bạn sẽ nuôi được cho mình một chú sáo như ý!
Lột Lưỡi

Lột lưỡi chim sáo là bóc bỏ lớp sừng cứng đệm phía dưới lưỡi của con chim ra. Lột ra vậy để lưỡi chim mềm hơn - dễ bắt chước phát âm hơn.
Khi bạch mỏ con chim ra bạn sẽ thấy phần mặt trên lưỡi rất bình thường, đầu lưỡi có dôi ra một mẩu sừng nhọn, trong - như móng tay vậy. Lớp sừng cứng nằm phía mặt dưới lưỡi của con chim, bạn sẽ lột bỏ nó đi.
[Hình ảnh: blackcollaredstarling14kb1.jpg]Cách lột lưỡi: Phải có 2 người. 1 người giữ chim rùi banh mỏ nó ra.
1 người lấy dấm, hoặc nước cốt chanh tươi bôi vào đầu lưỡi. 1l lát là chóp lưỡi mềm ra. Lấy móng tay khều nhẹ, thạtt nhẹ là ra liền. Có 1 chút ở đầu lưỡi thôi đấy nhé. Làm mạnh là chết chim liền.
Học nói thì phải kiên trì. Ngày nào cũng vậy vào 1 giờ nhất định chỉ cho học 1 câu ngắn: chào bác... sẽ nhanh có kết quả thôi.
Bóc lưỡi (cạy bỏ cái chỗ da dưới lưỡi) có thể giúp chim nói dễ hơn, rõ hơn, mặc dù không cần làm thế chim vẫn biết nói. Nếu làm bạn nên làm thận trọng vì chim sáo là giống nhớ dai, nó thấy bạn "làm ác" với nó một lần dễ sẽ sợ tới già và không nghe lời bạn nữa.

trong thiên nhiên có nhiều loại sáo như sáo nghệ, sáo đá, sáo Trung Quốc, sáo trâu, sáo sậu...nhưng trong số đó chỉ có sáo trâu và sáo sậu mới có khả năng biết nói thôi. Sáo trâu có bộ lông đen tuyền và có chóp lông trên đầu, còn sáo sậu có bộ lông màu nâu.

Nguồn Sưu tầm trên Internet

In mục này

  Bẫy chim cu gáy
Đăng bởi: butchi - 09-13-2010, 02:50 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Cu Gáy - Trả lời (4)

Gác cu là một hình thức bẫy chim cu bằng lồng bẫy có sử dụng chim mồi. Nó là một thú tiêu khiển nhưng cũng có thể là một nghề để kiếm sống ở Việt Nam.
Công cụ

* Lồng bẫy: lồng bẫy là lồng chim được ngăn thành hai phần, một phần để nhốt chim mồi và một phần có cửa được thiết kế lẫy để có thể sập xuống và nhốt chim sa bẫy. Thời xưa, lồng bẫy thường được làm bằng tre nhưng ngày nay làm bằng dây thép cho bền chắc và dễ chế tác hơn. Các mặt của lồng bẫy thường được che phủ bằng vải hoặc cành lá, chỉ để hở mặt có cửa sập nhằm dẫn dụ chim cu vào phía đó.
* Gậy: thường được làm bằng tre, trúc và có thể có nhiều đoạn nối dài được với nhau cho tiện dụng, ở đầu gậy có móc để tiện treo lồng bẫy và gạt cành, lá ở vị trí treo lồng.
* Ống kích: một số người bẫy chim cu còn có thêm một dụng cụ gọi là ống kích, tương tự như ống sáo nhưng ngắn hơn và khi thổi phát ra âm thanh giống tiếng cu gáy để dụ cho chim mồi gáy.
* Chim mồi: là chim cu gáy trống đã được thuần dưỡng, có tiếng gáy tốt để có thể dụ cho chim trời sa bẫy.

Cách thức

Người bẫy chim mang theo công cụ đến khu vực có chim trời và khi phát hiện tiếng chim trời gáy thì chọn vị trí để treo lồng bẫy. Vị trí treo lồng phải được lựa chọn cẩn thận sao cho các cành cây gần đó thuận tiện cho chim trời đậu trước khi tiếp cận chim mồi ở hướng dễ sa bẫy nhất. Sau khi treo lồng bẫy, người bẫy chim tìm chỗ kín để ẩn nấp và theo dõi kết quả. Chim cu gáy là loài sống định cư và vào mùa sinh sản, chim trống cạnh tranh nhau để giành chim mái nên khi phát hiện tiếng chim mồi gáy, chim trời gần đó sẽ phản ứng lại để khẳng định "chủ quyền". Trước tiên chim trời sẽ dùng tiếng gáy để gửi thông điệp cho chim mồi - kẻ xâm phạm lãnh địa và nếu tiếng gáy không giải quyết được vấn đề thì nó sẽ tiếp cận chim mồi để phân định thắng bại bằng sức mạnh cơ thể. Lồng bẫy đã được bố trí để chim trời tiếp cận ở hướng có cửa sập nên khi chạm vào lẫy, chim trời sẽ sập bẫy.

Người bẫy chim khi ẩn nấp phải tránh không gây ra tiếng động khiến chim trời sợ và bay đi đồng thời theo dõi diễn biến cuộc cạnh tranh giữa chim mồi và chim trời. Cảm giác căng thẳng, hồi hộp khi chờ đợi cũng như niềm vui khi bắt được hay nỗi thất vọng khi không bắt được chim trời chính là tính hấp dẫn của gác cu. Tuy nhiên, trên thực tế gác cu đòi hỏi nhiều thời gian và công sức vì ngoài các yếu tố ngoại cảnh khiến cho chim trời bị đánh động và bỏ đi, chim trời có thể chỉ sử dụng tiếng gáy chứ không tiếp cận chim mồi dẫn đến gác cu không đạt kết quả. Do đó để bẫy được một con chim cu gáy, người đánh bẫy có thể mất nhiều ngày nhưng những con chim bắt được theo cách này thường có tiếng gáy hay, giá trị cao.
Biến thể

* Gác cu theo truyền thống phải treo lồng trên cành cây, đặt lồng xuống đất tạo điều kiện cho chim trời dễ tiếp cận chim mồi ở hướng có cửa sập hơn nhưng người đánh bẫy thường không áp dụng vì như vậy sẽ mất đi cái thú và thậm chí coi đó là hạ thấp giá trị của gác cu.
* Một cách để bẫy chim cu còn gọi là "gác lưới" rất khác với cách trên, chim mồi được buộc dây để đậu trên mặt đất hoặc sát mặt đất và dùng lưới bố trí quanh đó. Khi chim trời bị dụ tới, người đánh bẫy giật cho lưới sập. Cách này có hiệu suất bắt chim cao vì nhanh chóng và có khi bắt được nhiều chim trời một lúc nhưng không được coi là thú chơi mà chỉ dùng bẫy chim làm thực phẩm.

Hiện nay, việc đánh bẫy chim cu gáy dưới mọi hình thức ở Việt Nam gần như chưa được kiểm soát.
Ca dao

Vì gác cu là một công việc vất vả, cực nhọc. Bản thân con cu là giống vật sống sâu trong rừng thiêng nước độc, cây lá um tùm, kín kẽ. Người gác cu phải nhiều phen nằm chồm hổm canh chừng trong bụi, chịu côn trùng cắn, lại phải canh chừng rắn độc. Việc này diễn ra có khi hằng ngày, hằng tháng mà chưa gác được con cu vừa ý, nếu gác được cu dở thì cũng như không vì cu thịt giá trị thấp, mà thường thường trong hàng trăm con cu mới tìm ra được một con cu tốt. Đã vậy cu lại là thứ bất trị, tính tình lúc lên lúc xuống, thiếu trung thành, có gác được con cu về nuôi rồi, thì dù nuôi lâu hay mau, chăm sóc đến mấy đi nữa, chỉ cần mình đủ lông, thân đủ cứng, thì cứ hễ thấy cái lỗ lồng hé mở, là cu chui tọt ra bay mất, vậy nên người đời coi việc gác cu là một việc dại, không ra gì. Ca dao xưa gom cái ngu gác cu với 3 cái ngu khác (làm mai, gánh nợ, cầm chầu) lại thành một câu lục bát nổi tiếng:

Ở đời có bốn cái ngu:
Làm mai, gánh nợ, gác cu, cầm chầu.
(wikipedia)

[URL="http://www.baophuyen.com.vn/Portals/0/2007/07/09-10/070709-gc2.jpg"][Hình ảnh: 070709-gc2.jpg][/URL]

In mục này

  Cách chọn chim gáy hay
Đăng bởi: butchi - 09-13-2010, 02:49 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Cu Gáy - Trả lời (7)

Cách chọn chim gáy hay:

Hình thức phải đẹp,thân mình cân đối,lông sáng màu,đầu nhỏ,mắt bé,ko được lồi,con ngươi đen nhiều,chân cao màu đỏ son đặc biệt lông che kín xuống qua đầu gối,lông hậu nở kéo gần hết đuôi,cườm dầy,hạt đen nhỏ quấn gần như kín cổ thì là đích thị là con cu gáy có hình thức quá đẹp

Đầu phải tròn, lông đầu màu xanh xám, mắt dữ, vệt lông đen phải kéo dài qua khoé mắt

Thân hình dáng như bắp chuối, ức nở, chót đuôi thu nhỏ lại ( Đuôi vót) Lông ép sát mình, Chân khô (có nhiều vảy môc trắng). Chân màu đỏ tươi là chim non đấy.

Quan trọng nhất là cườm và phao

Nhìn qua cườm ta có thể đoán được khá đúng chất giọng của chim: các cụ có câu "Kim nổ, thổ vừng" Nổ tức là hạt cươm màu trắng trên cổ chim to tròn chim có cườm này thường gáy giọng kim. Vừng là hạt cườm nhỏ li ti như hạt vừng chim có cườm này thường gáy giọng thổ. Chim mà nền lông đen trên cổ nhiều thì gù nhiêù. Chim mà có cườm giắt thường là chim hay. Những hạt cườm trên vai chim có màu vàng nhạt mà kéo càng cao lên phía trên cổ cũng tốt.

1- Về mầu lông:

- Thường ban đầu quan sát mầu lông của cu gáy để chọn người ta kết hợp quan sát cả mầu lông mình chim và mầu lông phao chim. Mầu lông phao chim đã được bạn Lộc abc đề cập khá kỹ. Còn mầu lông mình chim người ta phân làm 03 loại:

+ Mã kẻ mực: Mầu lông xám tối, chim dở nhát giong không hay, không nên chọn

+ Mã phấn hồng: Lông có sắc phớt hồng như có phấn, chim mau nổi, giong thường được nên chơi.

+ Mã sậm tía: là mầu ở giữa 2 mầu trên, lông chim có sắc sẫm tía, chim nuôi lâu nổi nhưng đã nổi rất bền, chim gan, thường làm chim mồi bẫy, chim gáy bất kỳ lúc nào.

Phao: ( Vùng lông phía dưới đuôi che phủ khu WC)

Có 3 loại phao chính: Xám, Hồng, Trắng ngoaì ra còn có loại phao pha trộn giữa 3 màu này

Chim phao xám lâu nổi nhưng khi đã nổi thì siêng gáy nếu chon làm mồi thì khi đi đánh bẫy không bỏ vệt (Lúc gáy lúc không)

Phao hồng: Chim phao hồng dễ nổi hơn phao xám nhưng không bền chim bắng loại phao xám

Phao trắng: Nhanh nổi nhưng không bền chim

2- Cách phân biệt chim trống mái:

- Chim trống:

+ Đầu nhỏ, tròn, lông đầu xanh.
+ Mỏ to, gồ.
+ Dáng đứng: khi đứng trên cầu đuôi hay cụp xuống (lưng gù, đuôi cụp).
+ Xương bụng phía dưới gần hậu môn chụm.
+ Khi gáy: Chim trống có khả năng đảo giọng.


3- Mầu chân chim:


- Thường người chơi cho rằng chim non là chân đỏ son. Điều này đúng nhưng không đủ, vì theo vùng có chim rất già nhưng chân vẫn đỏ son. Người chơi kỹ lại lấy tiêu chí chim già mà chân vẫn đỏ son để chọn.

- Chim có móng trắng, được cho là chim hay.

4- Hình dạng lông cách chim:

- Có hai loại chính:

+ Loại hình tròn (quy me?): chim nuôi mau nổi, không bền chim
+Loại hình nhọn đầu (quy tràng rên?): chim nuôi lâu nổi, những lại bền chim.

5- Đặc điểm của chim theo vùng:

- Thường người chơi (phía Bắc) chọn chim vùng: Phú Thọ, Thái Nguyên, Hà Nam Ninh (cũ). Chim ở miền Trung thường có mép cánh trắng, không phải không có chim có giọng gáy hay nhưng thật xuất sắc thường rất hiếm và chim thường không đẹp,lại nhỏ con hơn chim các vùng phía Bắc.

- Ở Miền Nam chim gáy sống ở các vùng rừng thường dữ hơn chim sống ở Đ ồng Bằng vì trong môi trường thiên nhiên chúng phải tranh đấu giành lãnh thổ, thức ăn khắc nghiệt hơn, tuy nhi ên nói vậy không phải là phủ nhận chim ở đồng bằng không có chim hay mà tỷ lệ chim dữ ở vùng đồng bằng rất thấp. Cụ thể là chim sống ở đồng bằng nước gù rất thấp. Chim ở Tây Ninh, Bù Đốp, Đà Nẵng, Huế… được đánh giá là chim dữ.

"... một chim Cu thuộc vào loại tốt nhất ... phải có những điểm đặc biệt sau:

- Nhứt Huỳnh kiên: Tức là chim có cườm màu vàng. Cườm này phải xuống tận vai, nhưng không đóng ở trên lưng.Loại này hiếm khi gặp được.

- Nhì Liên giáp: Tức là hình dáng của chim giống như một cái bắp chuối, hai đầu nhỏ, giữa phình ra, trông rắn chắc, gọn chặt.

- Tam Quá khoé: Có cái chỉ màu đen chạy dưới khoé mắt, dài quá khoé mắt một chút mới tốt.

- Tứ Chân khô: Có nghĩa là chân chim phải vuông cạnh, và khô. Vảy đóng hai hàng trơn, đóng chặt, nổi mốc lên.

- Ngủ Liên hoàn: Cườm phải đóng giáp vòng hết cổ mới thật tốt. Thường thì chim chỉ có cườm đóng ở phần trên cổ mà thôi, phần ức không có cườm.

- Lục Cườm rựng: tức là có cườm lót. Chim mà có cườm rựng là chim có gù hậu, tức là gáy dai dẳng.

Ngoài ra, cũng còn có những chi tiết quan trọng sau đây cũng phải lưu ý tới:

- Chim Cu mà đuôi vót, tức là ở bắp đuôi thì lớn, chót đuôi thì nhỏ lại, mới là con chim tốt và khôn.

- Chim có gián cánh, tức là có lông trắng ở trên một cánh hay cả hai cánh. Đó là chim tốt nên chọn nuôi.

- Chim có móng trắng gọi là bạch đề: chỉ cần có một móng trắng hay nhiều móng trắng, là chim quí hiếm.

- Chim có mỏ đỏ, là chim sát thủ, tức là chim rất dữ, chọn làm mồi thì chỉ toàn gặp may.

Ngoài ra, ta phải chọn chim có đầu nhỏ, có mỏ cong, có hình bầu, có cổ lãi (cổ cao), có chân thấp, đuôi nhọn, có cánh phủ mình hay cánh chéo, lông phủ đầu gối..."

Quan trọng nhất là nhìn tổng quát , chim nên đứng thẳng, lưng dọc, tránh chim đứng co rụt, lưng song song mặt đất.

Mỏ : độ dài vừa phải, không ngắn , không dài, độ cong vừa phải, chim mỏ cong hay phá thóc và thức ăn trong cóng lại còn không đẹp . đặc biệt nên chọn chim co mũi lớn, chim sẽ khỏe và bền hơi hơn.

Đầu :nhọn(như đầu rắn) chim sẽ dữ và khôn hơn, tránh chim trán vồ và cao, chim hay nhát và ngu, hay sợ chim ngoài. Ngoài ra nên chon chim mắt vàng lửa , chim này có tính khí hung hăng hơn, mau thuần hơn.

Cổ: cổ phải cao, chim sẽ gáy lớn tiếng.

Cườm :đặc biệt quan trọng, cườm trắng phải nhỏ(thường gọi là cườm cám) , đóng dày, càng dày càng tốt(chim này siêng gáy, bền hơi),

Ức : nên xẹp, không nên căng tròn.

Cánh: nên xếp gọn , dài quá phao câu (chim cực khỏe, lông đẹp), lông mao nhỏ(càng nhỏ càng tốt).

Đuôi: cuống đuôi lớn , đuôi dài, thường người nuôi hay cắt lông đuôi cho khỏi vướng (chim mồi).

Cẳng chân: nên thấp (mau thuần, chim ít nh ảy), vảy khô (càng khô chim càng dữ) đỏ.

Bệnh và cách chữa trị

Chim gáy nuôi thường mắc một số bệnh phổ biến như đau mắt, ỉa chảy... không chữa trị kịp thời chim sẽ chết.

Cu gáy khi đã bị bệnh như vậy phát ra ngoài là do 1 quá trình nuôi chim khá lâu ko được chăm sóc tốt( nước uống thiếu và bẩn ko vệ sinh,thức ăn lúc đủ lúc hết kéo dài ,lồng ít khi dc vệ sinh) vì vậy lúc đó sức khỏe của chim xuống cấp yếu nên chim sẽ mắc bệnh thôi >>> ĐI ỈA>ĐAU MẮT> RỤI ƯỚT LÔNG BẢ CÁNH>>MẮT CÀNG ĐAU>>LÊN HẠT ĐẬU quanh mép

Khi phát hiện chim bị như vậy hãy bình tĩnh xử trí từng bước,tỷ lệ thành công còn tùy thuộc vào thể trạng bệnh nặng hay nhẹ ,nếu phát hiện sớm để chữa thì chim khỏi bệnh khá cao.

Cách chữa:

Đầu tiên cần nâng thể trạng của chim lên vì lúc này thể trạng chim khá yếu bằng cách cho cu ăn cám con cò ở cóng riêng. Ngoài ra vẫn có cóng thóc+kê+đỗ xanh .

Nếu thấy chim ướt hai đầu cánh là chim bị đau mắt: vắt múi chanh lấy nước bơm vào mắt ngày 2 - 3 lần là khỏi.

Lấy thuốc chữa đau mắt cho người (chỉ cần dùng Cloramphenicol 9%o) nhỏ và thoa đều lên 2 bả cánh của chim và nhỏ trực tiết vào mắt cho chim vài giọt. Liều lượng dùng thì ngày làm 2 lần, thời gian thì khi nào thấy chim ko còn đau mắt nữa thì thôi. Bắt chim ra ngoài lấy bông y tế thấm nước sạch lau 2 bên bả cánh bị ướt của chim khi sạch rồi thì thấm khô đi. Nếu lông quanh mắt của chim cũng bị ướt bệt lại thì cũng làm vệ sinh như vậy.

Có cách trị dau mắt rất hay, hiệu quả đây: dùng lá khổ qua, đập dập bôi lên mắt và cho ăn luôn, đảm bảo hiệu quả.

Còn hạt đậu của chim thì lấy dao Lam (hơ lửa cồn vệ sinh trước khi phẫu thuật nha ),cứ thấy hạt đậu chỗ nào thì rạch mũi dao vào chỗ đó, nặn cho ra hết phần trắng như bã đậu đến khi nào ra toàn máu đen thì thôi. Lấy thuốc RIFAMPICIN còn gọi là thuốc nhộng chữa LAO màu đỏ rắc vào vết rạch vừa nặn .Cái này thì chỉ cần làm 1 lần là xong ko phải làm lần thứ 2 đâu.

Để chữa bệnh đi ỉa hãy pha Berberin hoặc là BISEPTOL 480mg (lấy1/2 viên-cách này hiệu quả hơn) hòa vào cóng nước cho chim uống thì sẽ cầm đi ngoài.

Thực tế khi cu gáy bị bệnh này thì cách chữa như vậy tỷ lệ thành công khá cao,bạn nào có chim bị như vậy thử áp dụng xem ,có khi lại thành công đối với chim của mình đó

Chim gáy bị đau mắt thường đi kèm với bệnh đi ỉa, để lâu không chữa trị sẽ chết.

Thông thường chim gáy khi đau mắt thường lấy cánh dụi (vì thế thường ướt ở vai cánh), trước đây thường hay lấy ớt xát vào cánh để con chim bị cay sẽ không lấy cánh dụi mắt nữa (ớt không tác dụng chữa mắt cho chim gáy), sau này sẽ còn làm hỏng giọng chim.

Không nên cho gáy uống các loại thuốc ( vì đây là các loại thuốc cho người, liều lượng theo trọng lượng cơ thể) , ở Việt nam cũng chưa có bác sỹ chuyên chữa cho chim cảnh.

Muốn chữa thì phải tìm hiểu nguyên nhân bị bệnh: Nuôi chim ít vệ sinh lồng, để lồng ở nơi thiếu mát, thiếu độ ẩm (nuôi trên độ cao quá), thiếu ánh sáng.

Bạn có thể chữa rất đơn giản: Bỏ đáy lồng chim và hạ thổ (đặt lồng vào góc vườn mát hoặc lên chậu cây , nếu không có vườn hoặc chậu cây thì có thể tạo một khay đựng đất to. Lưu ý: đất cần đánh tơi). Thức ăn : 1 giỏ thóc và 1 giỏ kê, thỉnh thoảng đào giun đỏ và cho ăn. Nuôi nhự vậy sau khoảng 15-20 ngày là tự khỏi.


Thức ăn và cách chăm sóc

Có một số kinh nghiệm làm chim gáy căng là cho chúng ăn thức ăn chính vẫn là thóc (luá) nhưng thêm hạt kê, đỗ xanh, vừng thỉnh thoảng 1 vài hạt lạc (khi thay đổi thức ăn thường là chim hay bị thay lông bất thường, đừng lo khi cho chế đọ ăn ổn định thường xuyên thì ko còn hiện tượng này nũa) nói lại là cho ăn thóc là phần nhiều nhất . Trong cóng thức ăn nên cho thêm sỏi nhỏ để kích thích tiêu hoá ( tăng thêm sự co bóp của dạ dày ). Có người thi thoảng còn cho thêm cục đất để Cu ăn ( khi Cu thiếu 1 chất gì đấy )
Cái quan trọng nhất nuôi Cu là phải hạ thổ để lấy sinh khí từ mặt đất. Tuần có thể hạ 1 hay 2 lần, mỗi lần khoảng 2 tiếng, tất nhiên càng nhiều và càng lâu càng tốt. Hạ thổ là để cả lồng chim ( có thể tháo máng đựng phân ) và để xuống mặt đất . Và cũng như các loại chim khác cũng cần phải tắm nước, tắm nắng, nhưng mật độ thưa hơn, 1 lần/ tuần vào mùa hè, 2 tuần/1 lần vào mùa đông là được rồi. Chim gáy thường rất ít khi cho tắm như họa mi được nhưng tháng vài lần ta cho tắm theo kiểu phun mưa nhẹ vào chim hay là gặp trời mưa ta cho chim tắm tự nhiên là hay nhất (thời gian độ 10'>15'), nên hạ vào chỗ có nhiều mùn giun, thỉnh thoảng cho ăn giun đất. Có thể tạo mùn giun bằng cách đặt một viên gạch lát nền lên mặt đất sau đó giun sẽ đùn nhiều mùn ở dưới viên gạch.

Nuôi cu gáy trống gần 1 chị cu mái nữa là làm chim cũng căng lên nhiều,ta cho lồng cu trống gần lồng cu cái 1 vài hôm xong lại dật ra vài ngày lại ghép gần (mất vợ anh nào chẳng kêu ầm lên).

Nuôi cu gáy bằng lồng Quả đào là ưu việt nhất (theo thuộc tính của chim và các cụ dạy lại từ ngày xưa rồi).

( Sưu Tầm )

In mục này

  Kinh Nghiệm Nuôi Chim Cu Gáy
Đăng bởi: butchi - 09-13-2010, 02:48 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Cu Gáy - Trả lời (3)

I. CHUẨN BỊ LỒNG NUÔI CHIM GÁY

Tuỳ mục đích nuôi chim gáy mà ta cần chuẩn bị lồng nuôi chim khác nhau. Bài viết này xin lần lượt đề cập những lồng nuôi chim gáy chơi (với mục đích nuôi nghe gáy), lồng nuôi và luyện chim mồi, lồng nuôi chim gáy sinh sản,...
I- Lồng nuôi chim luyện làm mồi, hay nuôi chim khách (chim khiển).
Tuỳ điều kiện kinh tế và sở thích của mỗi người, ta có thể chọn cho mình những chiếc lồng nuôi chim khác nhau. Từ những chiếc lồng có giá trị kinh tế thấp đến những chiếc lồng bạc triệu. Tuy nhiên, khi mới nuôi chim mộc (chim bổi)- tức là chim mới bắt từ rừng mang về, chim non mới bắt từ ổ hoặc chim non mới ấp nở ra ta chỉ cần những chiếc lồng ít tiền hoặc những chiếc lồng tự làm được là cũng có thể nuôi chim được rồi.
[URL="http://farm4.static.flickr.com/3452/3252966762_bd482094e3.jpg"][Hình ảnh: 3252966762_bd482094e3.jpg][/URL]
Yêu cầu: lồng chắc chắn, không để chim xổng lồng, có móc treo lên cây dễ dàng.
- Nan lồng nên làm bằng vật liệu tre, trúc để giảm thiểu tối đa việc tổn thương cho chim khi chim bổi (nhất là lúc mới bắt từ rừng về).
- Là loại lồng có thể lợp 3 mặt bằng lá cọ, hoặc phủ áo lồng bằng vải,...
Bên trong lồng phải có những coóng nước hình chén, coong ăn bằng mây, tre đan hình chum và một coóng nhỏ đựng khoáng, sỏi hoặc cho ăn vừng, lạc bổ sung khi cần thiết.
- Đáy lồng nên có một cái mẹt đan bằng tre, nứa để hứng chất thải của chim,...
Thông thường, người sành chơi chim gáy thường chọn lồng quả đào để nuôi chim gáy.
Đây là một số lồng nuôi chim gáy quả đào.
II- Cách chọn chim gáy nuôi làm chim mồi
1. Cách phân biệt chim gáy trống, mái
Dù nuôi làm chim mồi, hay chim chơi thì cũng đòi hỏi trong chú chim đó những tiêu chuẩn cao của nghề chơi chim gáy như: siêng gáy, giọng hay (thổ bầu, thổ rền, thổ sấm,.... kim vắt,...), có nhiều tiết tấu như: chu, lèo, dặm (dặt?), vấp, gù chồng đấu,... Càng tích hợp trong chú chim gáy này nhiều những đặc điểm quý trên thì chú chim càng có giá trị cao, càng làm chủ nhân thêm cao hứng và tự hào.
Nhưng trong loài chim gáy, thì chỉ có chim trống là hay gáy, phong độ luôn ổn định nếu đựoc chăm nom tốt. (cũng có con chim mái gáy hay, hay đến nỗi có con còn làm chim mồi được nữa đấy nhưng lúc nó lòi ra vài quả trứng là lại không gáy hoặc ít gáy hẳn đi, người sành chơi không ai chịu nuôi chim gáy mái làm cảnh hay làm mồi dù có gáy hay đến mấy)
Vậy làm thế nào để chọn chính xác một con chim bổi trống để nuôi?!
Cách nhanh nhất là nhờ những người có kinh nghiệm chọn hộ bằng cách bẫy những con bổi tốt và nhường cho nuôi (Nhưng không phải ai cũng có điều kiện như vậy vì có khi không quen biết, ngại nhờ,...). Nên thông thường, đa số các bác đều chọn cách mua ngoài hiệu bán chim cảnh.
Chim gáy thuộc họ bồ câu nên con chim trống đa phần đều có kích thước lớn hơn chim mái
- Mỏ chim trống thường có phần lỗ mũi to hơn (nâng cao hơn ở phần cánh mũi).
- Mắt chim trống dữ hơn (thông thường có phần viền vàng bên ngoài có diện tích rộng hơn, con ngươi như thu nhỏ lại)
- Chim trống khi đậu trên cầu (hoặc trên cành) có lưng gù, đuôi cụp.
- Chân chim gáy trống đa phần to mập hơn, chân chim mái mảnh mai hơn.

Tuy nhiên, những dấu hiệu trên khi phân biệt cũng chỉ là tương đối. Trong thực tế, có những con chim mái có ngoại hình khá đẹp, thậm chí còn đẹp hơn chim trống nữa đấy mấy bác à!
[URL="http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:G9RHhjJ3OGtXTM::&t=1&usg=__Z7ap4eICbx6RN5oPP85pChfV9rU="][Hình ảnh: images?q=tbn:G9RHhjJ3OGtXTM::&t=1&usg=__...5pChfV9rU=][/URL]
2. Tiếng gáy của loài chim gáy.

Theo các cụ nghệ nhân, giọng chim gáy thường chia ra nhiều cung bậc cao thấp khác nhau. Để cho dễ gọi các cụ đã đặt tên các loại giọng gáy theo âm vực như sau:
- Giọng thổ: âm trầm. Trong giọng thổ, được chia thành các giọng: thổ đồng, thổ rền, thổ sấm (thổ hùm?!), thổ nhệ,...
Thổ đồng: âm trầm ngân vang như tiếng chiêng cồng, nghe như trong tiếng gáy có độ rung (luyến láy), như có tiếng kim loại (đồng, vàng) ngân rung.
Thổ bầu: âm trầm mà ồm to lên. (nghe "tròn" hơn tiếng thổ đồng)
Thổ sấm: âm trầm mà rền như tiếng sấm.
Thổ rền: âm trầm mà rỉ rả nỉ non .

- Giọng kim (có nơi còn gọi là giọng còi, giọng son): âm cao. Trong giọng kim có kim đồng (kim chuông), kim vắt.
- Giữa các giọng gáy trên còn phân chia làm kim pha, thổ pha.
Việc nghe và xác định giọng gáy theo các thụât ngữ trên không thống nhất nhau giữa các vùng miền, vì thế nên có rất nhiều người ngại tranh luận trên các diễn đàn về giọng chim. Hoặc ngay giữa các cụ cao niên cũng có khi còn nhầm lẫn về các loại giọng này.
Giọng chim gáy vì có sự đa dạng, phong phú như trên nên không ai dám nói là mình biết hết tất cả các loại. Nhưng sẽ rất thú vị khi tìm hiểu, và giữa không gian bao la của thiên nhiên chợt nghe vọng từ đâu tới một tiếng chim gáy của nhà ai đó, hoặc của thiên nhiên. Người chơi lắng tai nghe rồi đặt tên giọng gáy của chú chim này,...
Và càng thú vị hơn khi có người còn ví von giọng gáy của loài chim này với các giọng ca của các ca sỹ.
Đặc thổ (giọng hát ca sỹ nghệ sỹ ưu tú Trung Đức )
Đặc còi (giọng hát nghệ sỹ nhân dân Thu hiền)
Thổ Pha (giọng hát ca sỹ Nguyễn Phi Hùng)
Còi Pha (giọng hát ca sỹ Mỹ Tâm).
Còn giọng thổ đồng xuất sắc là giọng của một MC nam dẫn chương trình Văn nghệ chủ nhật trên VTV3 trước đây mấy năm thì phải.
2. Tiết tấu của giọng gáy.
Nói về gáy gọi (bổ, rao,..):: là tiếng gáy tuyên bố chủ quyền lãnh thổ, nghe dõng dạc, khoan thai
chim gáy hụt (mổ ba, trơn lỡ); chỉ gáy có ba tiếng: cục cú cu...u!
Gáy đủ: cục cú cu....cu.
Bổ hai: cục cú cu...cu...cu.
Bổ ba: cục cú cu...cu...cu...cu.
Có chú chim còn gáy gọi bổ bốn, bổ năm thậm chí con bổ sáu nữa.
Tiếng gáy trận (thúc, ủ,...): là lúc chim gáy chiến đấu với nhau để tranh giành hoặc khẳng định chủ quyền lãnh thổ. Chim gáy gấp gáp, thúc giục như tiếng trống giục xung trận vậy.
cứ ba tiếng một: cục cù cù, cục cù cù, cục cù cù,.... liên tục vậy.
Trong gáy trận có thể có những tiết tấu kèm theo rất quý sau:
Tiếng chu: là khi gáy trận sau ba tiếng cúc cu cu thì thừa hơi và thêm 1 tiếng cu rất nhẹ (nhẹ nhàng, xa xăm)

VD Cúc cu cu, Cúc cu cu..cu Cúc cu cu..cu
Tiếng lèoà khi gáy trận sau ba tiếng cúc cu cu con chim gáy thêm 1 nhịp cục cù cù hoặc cục cù gần giống với tiếng gù nhưng nhanh hơn. VD Cúc cu cu, Cúc cu cu… Cục cù cù. hoặc cục cú cu, cù cu! cục cú cu. cù cu...cù cu. Đa số chim thỉnh thoảng mới ra lèo rất hiếm con có lèo dặm tức là gáy Cúc cu cu, cục cù cù, Cúc cu cu, Cục cù cù liên tục (nếu ra lèo liên tục thì người ta gọi là con có dặm (dặt) thì phải).
Tiếng vấp:Khi gáy tiếng trận, đột nhiên con chim ngừng như bị ai đó chẹp ngang cổ họng sau đó lại lên tiếng trận bình thường. Vd Cúc cu cu, cúc…….,cúc cu cu.
Tiếng gù:
Chim gù khi đã nói hết lời hơn lẽ thiệt với nhau bằng tiếng trận ở trên mà không anh nào chịu nhường anh nào cả và phải bật ra tiếgn gù thách thức, doạ nạt lẫn nhau:
- gù: cù cu, cù cu, cù cu, cù cu. (cứ hai tiếng gù cù cu là kèm theo một cái gật đầu)
- Gù chồng đấu: cù cu cục, cù cu cục, (ba tiếng một). có con gù chồng đấu ròng, có con gù lỡ (lúc chồng đấu, lúc gù bình thường)
Được chú chim gáy giọng thổ có đủ chu, lèo, dặm, vấp, gù chồng đấu thì coi như là người chơi đã rất có duyên với nghề chơi chim gáy rồi vậy.
3. chọn chim gáy có ngoại hình tốt để nuôi chim mồi hay chim khách.

[URL="http://files.myopera.com/viethoang0109/blog/chimcugay.jpg"][Hình ảnh: chimcugay.jpg][/URL]

Vì sao lại phải chọn chim có ngoại hình tốt?!
Bất kể chim chơi hay chim mồi, dù tiếng hay, giọng đẹp đến mấy ở ngoài rừng nhưng có ngoại hình xấu có khi nuôi rất khó nổi ( nổi = chim thuần thuộc, gáy ở nhà cũng như khi ở ngoài rừng vậy). Hơn nữa, còn gì quý hơn, tự hào hơn khi nuôi được một chú chim có cả thanh hay lẫn sắc đẹp. Như cô hoa hậu vừa đẹp người, đẹp nết mà còn hát hay nữa. ư
Trong nghề chơi, các bác có kinh nghiệm hoặc các nghệ nhân rất quan tâm đến vấn đề ngoaị hình của chim gáy. Không thế mà còn có cả một khoa xem tướng đoán tiền vận, hậu vận cho chim gáy nữa đấy.
Trước khi muốn chọn một con chim gáy có ngoại hình đẹp, mời các bác cùng làm quen với các thuật ngữ trong nghề chơi khi nói về các đặc điểm trên cơ thể chú chim gáy đã nhé.
3.1. Thuật ngữ, nghề chơi

Đầu: có các kiểu
Đầu bi (đầu tròn): Hình dáng đầu tròn.
Đầu xà: Đỉnh đầu hơi bằng, trông có vẽ hơi vuông và có góc cạnh.

Mắt
Mắt đóng (mắt sâu): đây là kiểu mắt của con mồi chiến, chim mồi có kiểu mắt này rất bản lĩnh, gan dạ và tính chiến đấu rất cao.
Mắt lộ: Chim có mắt lồi thì thường nhát nên ít người chọn nuôi.
Hai mắt khác nhau: còn gọi là Lưỡng nhãn (lưỡng nhãn ắt kỳ tài) có người đánh giá rất cao cón chim mồi có mắt này. Bao hàm cả con chim mắt lé: một bên mắt bình thường, một bên mắt méo.
Màu mắt: có màu đỏ (nhìn giống màu máu), con có màu mắt đỏ thì được cho là sát bổi, chim có màu mắt vàng nghệ (cũng đựoc cho là chim sát bổi), màu mắt vàng nhạt (nhìn như có màu trắng) chim không ra gì không nên nuôi.
Mỏ
Mỏ đinh: thẳng, nhỏ (chim có mỏ này thường được xem là nhặt nước tức là gáy nhanh, thúc dồn, mau miệng)
Mỏ quặp: có nhiều con mồi mỏ quặp thì thấy rất hay, tuy nhiên không phải là tất cả.
Mỏ sẻ: ngắn mỏ, mỏng mỏ (nhìn như to, rộng và mỏng vậy), con này mau miệng, nhặt nước, mau sào.
Mỏ đỏ: chim có mỏ đỏ được xem là chim sát thủ, các cụ quan niệm là có chú chim này thì chủ nhân của chim sẽ hay gặp những điều may mắn vậy.

Nguồn : [URL="http://caycanhviet.vn/"]http://caycanhviet.vn[/URL] (do NAMNHI sưu tập từ các nghệ nhân chơi chim gáy của tỉnh Thanh Hoá)

In mục này

  Kền kền Ai Cập
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:48 PM - Diễn đàn: Dinh Dưỡng và Luyện Tập - Trả lời (1)

Kền kền Ai Cập (danh pháp khoa học: Neophron percnopterus) hay còn gọi là Kền kền ăn xác thối là một loài kền kền nhỏ thuộc nhóm kền kền Cựu thế giới, được tìm thấy từ miền bắc châu Phi cho đến miền tây nam châu Á. Nó là thành viên duy nhất của chi Neophron.

Kền kền Ai Cập là một loài chuyên ăn xác thối, nhưng thỉnh thoảng chúng cũng bắt các loại thú nhỏ và các loại trứng.

[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/47/Egyptian_vulture.jpg"][Hình ảnh: Egyptian_vulture.jpg][/URL]

Miêu tả

Bộ lông của con trưởng thành có hai màu đen và trắng. Lớp da ở vùng mặt có màu vàng (biến thành màu cam trong thời kỳ làm tổ) và không có lông. Đuôi có hình dạng của viên kim cương nên rất dễ phân biệt khi đang bay. Chim non có màu nâu đậm và từ từ nhạt dần khi được 5 tuổi.

Kền kền Ai Cập trưởng thành thường có chiều dài 85cm từ mỏ đến đuôi và 1.7m giữa đôi cánh. Chúng cân nặng khoảng 2.1kgs. Chúng còn được biết đến như là gà Pharaoh vì chúng trông giống như con gà với những vảy mốc.

[URL="http://www.animalpicturesarchive.com/ArchOLD-6/1166849907.jpg"][Hình ảnh: 1166849907.jpg][/URL]

Sự phân bố

Kền kền Ai Cập được phân bố rộng rãi và chúng có thể được tìm thấy tại phía Nam Âu châu, Bắc Phi châu, Tây và Nam Á châu. Chúng là loài chim di cư tùy theo điều kiện khí hậu. Nếu Kền kền Ai Cập có thể chịu đựng được khí hậu mùa Đông, thông thường thì chúng sẽ không di cư.

Giai đoạn làm tổ

Kền kền Ai Cập đạt đến tuổi trưởng thành giới tính lúc 5 tuổi và sinh sản giống như đa số các loài chim săn mồi khác. Tổ của chúng được xây ở vách đá, mỏm núi hoặc những vách đá cheo leo khó đến gần. Cả hai loài trống và mái đều tham gia xây tổ. Chúng xây tổ bằng cành cây, rác rưởi và thức ăn thừa của chúng (như là xương của các loài thú nhỏ, mai rùa, ...). Chúng tha vật liệu làm tổ bằng mỏ của chúng, không giống các loài chim săn mồi khác thường sử dụng móng vuốt. Tổ của chúng được tiếp tục củng cố trong suốt thời gian xây tổ và sinh sản. Chim mái đẻ hai trứng màu trắng với đốm màu nâu cách nhau vài ngày (trọng lượng 94 grams, dài 65mm và rộng 55mm). Thời kỳ sinh sản thường từ cuối tháng Ba đến cuối tháng Tư.

[URL="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/3e/Neophron_percnopterus_feeding_in_Belgrade_Zoo.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Neophron_percnopterus_feeding_in_Belgrade_Zoo.jpg][/URL]

Thức ăn


Thức ăn chính của kền kền Ai Cập là xác thối. Vì vóc dáng nhỏ bé nên chúng phải chờ đợi ăn thừa của các loài thú săn mồi khác to lớn hơn (như loài kền kền Gyps và loài linh cẩu). Đầu và mỏ của chúng rất thích hợp trong trường hợp này. Cũng giống như các loài kền kền khác, phần da trọc ngăn ngừa thức ăn thừa bám dính vào. (Chúng sẽ không cất cánh bay được nếu thức ăn thừa bám vào lông của chúng). Với chiếc mỏ dài và dẹp, kền kền Ai Cập có thể xé nhỏ những mảng thịt thức ăn còn thừa lại của các loài thú săn mồi lớn hơn, hoặc có thể rỉa những khe hở giữa các đốt xương mà các loài kền kền mỏ to không với được.

[URL="http://farm4.static.flickr.com/3578/3570926298_13a054ac44.jpg"][Hình ảnh: 3570926298_13a054ac44.jpg][/URL]

Thỉnh thoảng kền kền Ai Cập cũng săn bắt những loài động vật nhỏ bé chậm chạp và các loài bò sát, đặc biệt là loài rùa. Chúng thường cắp con rùa lên cao rồi thả xuống nơi có nhiều đá để mai rùa vỡ ra từng mảnh. Cũng giống như quạ và một vài loài chim khác, kền kền Ai Cập là một trong các loài có thể sử dụng công cụ. Chúng thường đập vỡ trứng đà điểu bằng cách dùng mỏ cắp hòn đá nhỏ và đập vào trứng bằng một cú lúc lắc đầu và cổ thật mạnh.

[YOUTB]http://www.youtube.com/watch?v=Ffuk1U2AVj0&feature=player_embedded[/YOUTB]

In mục này

  Cách Chọn Chim Vành Khuyên Hót
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:47 PM - Diễn đàn: Các vấn đề chung về VK - Trả lời (33)

Chim Vành Khuyên ( Thuộc bộ Sẽ) được phân bố đều trên thế giới . Tại Việt Nam có 3 họ:

1 -Chim Vành Khuyên Nâu - Sống tại các tỉnh miền nam Trung Quốc(Giáp các tỉnh miền Bắc nước ta) và các tỉnh phía Bắc. Chim có hình giáng to (Trường chim) nhưng giọng hót không hay chính vì vậy rất ít người nuôi.
2 - Chim Vành khuyên Xanh - Sống tại hầu hết các tỉnh bắc Trung bộ , Trung bộ, Nam Trung Bộ. Chim có hình dáng thon nhỏ và có giọng hót rất hay ( Do là bộ Sẽ lên ngoài giọng hót của Khuyên. Chim còn học được các giọng hót của các loài chim khác ví dụ như Chích chòe )
2 - Chim Vành khuyên Vàng - Sống tại các tỉnh miền Nam nước ta. Chim có giọng hót rất hay nhưng tinh thần hót đấu không bằng chim Vành khuyên Xanh.
[URL="http://www.thanhnienbrvt.com/data/news/khuyen_chau_phi1_153.jpg"][Hình ảnh: khuyen_chau_phi1_153.jpg][/URL]
[URL="http://img63.imageshack.us/img63/8290/3229535672af77ede76fo.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: 3229535672af77ede76fo.jpg][/URL]
[URL="http://i297.photobucket.com/albums/mm224/IulianORG/Beautiful%20Birds/beautiful-birds-18.jpg"][Hình ảnh: beautiful-birds-18.jpg][/URL]
Để chọn được chim Vành khuyên hót dân chơi chim thường chọn chim theo bộ ( Bộ đầu quả táo, bộ đầu xà, bộ lưng quy đầu xà, bộ đuôi chuột nhưng phải ngắn vì khi líu chim thường líu xòe rất đẹp)

Cách chọn chim trong lồng mộc: Ngoài chợ chim người bán chim thường nhốt hàng trăm con chim mộc vào 1 lồng làm sao có thể chọn được 1 con chim hay thật là rất khó nhưng theo kinh nghiệm của người nuôi lâu năm. người ta thường bắt ra khoảng 10 con chim nhanh nhẹn khỏe mạnh trong lồng có bộ gần giống như kể trên sau đó tách ra những con có mỏ mỏng có giọng quát to( vì hầu hết những con có giọng quát to là chim đực). Nếu còn nghi ngờ thì phải bắt ra tay để thổi tu nếu con nào có tu cuồn cuộn thì là chim đực, chim cái hoàn toàn không hót tu nhỏ. Chú ý những con mái già tu cũng cuồn cuộn đấy (tôi đã bắt phải 1 con khuyên mơ đẹp khủng khiếp giáng bộ miễn chê tu cuồn cuộn thế mà là chim mái sau biếu tặng Anh Hùng Nguyễn Siêu để Anh ghép đẻ nhưng không thành công).
Còn cách phân biệt chim già và chim bánh tẻ cũng rất cần thiết vì chim bánh tẻ thường thuần dưỡng dễ hơn chim già thường rất lâu công và khó nhưng ngược lại chim già thường có giọng hót hay hơn có vần có điệu và líu rất dài khoảng từ 15 mỏ trở lên tối đa lên đến 40 mỏ.Cách phân biệt ta lên nhìn vào chân chim con nào chân có vẩy sừng cứng và nhiều là chim già.
Ngoài ra yếu tố may mắn đóng góp 10%

In mục này

  Phòng,Chữa Bệnh Cho Chim Vành Khuyên ( Khoen )
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:46 PM - Diễn đàn: Dinh dưỡng, sức khỏe. - Trả lời (8)

Chim vành khuyên còn gọi là chim khoen. Chim vành khuyên rất bé nhỏ yếu ớt chỉ cân nặng khoảng 10g. Một khi đã bị bệnh rất khó chữa trị, làm bối rối cho người nuôi. Nhất chim bị bệnh lại là chú chim khuyên luyến láy tuyệt vờ imê hoặc, thì chủ chim lại càng ăn không ngon, ngủ không yên, lo tìm chạy thuốc để cứu con chim yêu quý của mình.
Khổ nỗi, ở nước ngoài điều kiện chữa trị cho chim có Bác sĩ thú y giúp sức rất thuận lợi, còn ở ta, chủ nuôi chim tự tìm cách chữa lấy có khi không biết hỏi ai, mỗi người chữa mỗi cách rất khó có kết quả tốt được, thường là thất bại nhiều hơn thành công.
Chim vành khuyên bị tiêu chảy, biểu hiện chim bị bệnh đường tiêu hóa với rất nhiều nguyên nhân, vì thế cũng có rất nhiều cách điều trị khác nhau.
Triệu chứng và chữa trị
[URL="http://www.dcvonline.net/php/images/092009/vanhkhuyen.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: vanhkhuyen.jpg][/URL]

1. Bênh ký sinh trùng :
Chim bị giun sán sống ký sinh ở đường ruột. Chim kém ăn,ốm, khát nước, xù lông, xệ cánh, đi phân lỏng có mùi hôi không màu. Cách chữa :
- 1- 2 mg Pipérazine hoặc 2mg bột trái cau già ( cau ăn trầu );
- 15ml nước pha đường 25% ;
Cho chim uống liên tục trong 2 ngày ( liều trên dùng trong 1 ngày ).
2. Bệnh tiêu chảy do E.coli :
Do chim đề kháng kém, dư đạm, béo, tiêu hóa không hết tạo cho chủng E.coli gây bệnh tiêu chảy, phân thay đổi màu. Cách chữa :
- 1 – 2 mg Ampicilin;
- 15ml nước pha đường 25%;
Cho chim uống liên tục trong 3 ngày .
3. Bệnh tụ huyết trùng ( vi khuẩn ):
Chim cứ rũ, lim rim, khó thở, chân co rút, đi phân chảy có nhớt và màu xanh. Cách chữa :
- 1 – 2 mg Streptomycine hay Kanamycine hoặc Teramycine;
- 15ml nước pha đường 25%;
Cho chim uống liên tục trong 4 ngày .
4. Bệnh do vi rút :
Chim bệnh thường rút cổ, ngủ gục, bỏ ăn, khó thở, sút cân nhanh, run rẩy, đi phân lỏng, trắng, dính xung quanh hậu môn. Cách chữa :
- Chủng ngừa bằng vaccin;
- Điều trị bằng vitamin hoặc mật ong pha loãng dùng cho tới khi chim hết bệnh.
5. Bệnh do bị “ Sốc “ :
Chim phản ứng với bất kỳ lý do nào bằng việc đi phân lỏng, nhưng sức khỏe trông như bình thường. Điều trị bằng cách đưa chim trở lại tinh thần ổn định và bồi dưỡng cho chim sẽ hết bệnh mà không phải dùng thuốc, như dùng thêm sữa, đường, mật ong .
Ghi nhớ :

- Việc sử dụng thuốc khánh sinh đều cẩn trọng về liều lượng và theo dõi kỹ lưỡng, tránh bị phạm thuốc hay quá liều.
- Khi cho chim uống thuốc để ý chim có uống không, nếu không chim sẽ chết khát.
- Vài lần khuấy thuốc bị lắng đọng ở đáy cóng.
- Nếu cho chim uống hết thuốc thì cho thêm nước tuyệt đối không để thiếu nước.
- Cho chim ăn bình thường, không cho ăn trái cây xanh, chua hoặc giảm chất đạm, béo như bột có nhiều trứng để chim sớm bình phục.
- Tách chim bệnh nuôi riêng ra nếu ở lồng tập thể để tránh lây lan qua chim khỏe mạnh.
- Làm vệ sinh lồng và khu vực nuôi chim.
- Cho các chim khỏe mạnh còn lại uống liều thuốc phòng ngừa .
[URL="http://cuocsongviet.com.vn/upload/image/Thumbs_bv/201112134633.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: 201112134633.jpg][/URL]

Nguyên nhân và phòng ngừa
Chim khuyên bị tiêu chảy do nhiều nguyên nhân như bị nhiễm vi khuẩn, E.coli và những nguyên nhân tổng hợp phải chích ngừa bằng vaccin hay điều trị bằng kháng sinh mới khỏi, và phòng ngừa bằng cách vệ sinh, khử trùng lồng nuôi nhốt, khử khu vực tập trung chim để duy trì sức khỏe của chim .
Ngoài ra còn có các nguyên nhân tưởng như không có gì ăn nhập mà cũng có thể gây bệnh tiêu chảy cho chim, chim bị “ Sốc “ mà phản ứng lại bằng tiêu lỏng .
- Do ăn uống, chim ăn thức ăn bị chua mốc, nước uống bị thối, thay đổi thức ăn đột ngột, cho ăn quá bổ hoặc thiếu chất, đói no thất thường như bỏ đói bỏ khát .
- Do kém vệ sinh, chim thiếu tắm nước, tắm nắng, lồng nuôi nhốt không vệ sinh, ô nhiễm môi trường do bụi bậm, khí độc hại .
- - Do khí hậu, đem chim từ vùng này qua vùng khác có khí hậu khác nhau, để chim ngoài trời ngoài sương, để chim dưới mái tole hay phòng có máy lạnh .
- Do môi trường, chuyển chỗ ở chim từ yên tĩnh qua ồn ào, gần chợ, gần đường xá đông người qua lại, gần chó mèo, chuột thằn lằn quấy phá .
- Do suy kiệt, cho chim tắm chiều tối bị cảm lạnh, hay tắm nắng gắt lâu bị cảm nắng, cho chim thức khuya không trùm lồng cho chim ngủ sớm, thi đấu hót sáng chiều thiếu nghỉ ngơi ăn uống, chim đang thay lông thiếu chăm sóc bị suy .

1. Liều phòng bệnh cho chim khuyên :
- 50mg chloraphénicol hoặc Teramycine;
- 1 lít nước chín
Cho chim uống liên tục 3 – 4 ngày .
2. Tiêu độc, tẩy trùng :
Dùng thuốc sát trùng phổ thông để diệt khuẩn, virur, nấm mốc, ngừa cảm cúm H5N1 có thể dùng thuốc bột Solamid hay Biodin 10g pha với nước phun xịt lồng và pha nước cho chim tắm .
Kết luận
Chim vành khuyên rất dễ mắc bệnh tiêu chảy, làm cho người nuôi bận tâm rất nhiều. Con chim đang líu lo bỗng dưng im bặt, chim mình nuôi mà không nghe hót hỏi làm sao mà không buồn . Tóm lại chim vành khuyên bị bệnh do bị sốc, bởi thay đổi chủ nuôi, thay đổi bột đột ngột . Vì vậy khi mua chim khuyên nên xin bột cũ chim đang ăn, hỏi thành phần chế biến hoặc nhãn hiệu người bán .
Trước khi mua chim khuyên, nên khám sức khỏe chim bằng cách nhìn sắc thái biểu hiện sự khỏe mạnh linh hoạt. Điều quan trọng nhìn phân chim hoặc vạch bụng chim xem , nếu chim bệnh bụng bị sưng đỏ, ruột sưng nổi lên thấy rõ, chim ốm lườn bén ngọt, phân trắng dính hậu môn .
Khi đã biết cách phân biệt chim khỏe, chim bệnh, biết cách định bệnh và điều trị thì việc chữa bệnh không còn khó khăn và đáng lo ngại nữa .
Chừng đó, khi ta có con chim khuyên quý hay lỡ mua con chim khuyên hay cực kỳ bị bệnh, tốt nhất nên chữa trị càng sớm càng tốt, không nên bán đi vô tình làm lây lan bệnh hay kéo dài làm tồi tệ thêm sức khỏe dẫn tới chim bị chết oan uổng. Hơn nữa ta cứu được một con chim quý hết bệnh, chim mạnh khỏe trở lại líu lo cho ta thưởng thức, thì Niềm vui đó còn gì sung sướng hơn

In mục này

  3 Loài Vành Khuyên (Khoen) Ở Việt Nam
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:41 PM - Diễn đàn: Các vấn đề chung về VK - Trả lời (16)

Có 96 loài trên thế giới, trong đó tại Việt Nam có 3 loài.

[Hình ảnh: japanese_whiteye_2605_ml.jpg]



Khoen Vàng

Tên Tiếng Anh : Oriental White-eye
Danh Pháp Khoa Học : Zosterops palpebrosus


[Hình ảnh: dsc_0340_1832.jpg]


Khoen Vàng (Zosterops palpebrosus), là một loài chim thuộc bộ Sẻ trong họ Vanh Khuyên (white-eye) là loài chim thường trú ở rừng nhiệt đới châu Á từ Ấn Độ đến Trung Quốc và Indonesia. ăn mật hoa và côn trùng nhỏ. Điểm nhận dạng đặc biệt là vòng trắng chung quanh mắt (white eye-ring) và phần trên lưng có màu vàng chanh (overall yellowish). Một số của loài này được đặt tên phân loài phổ biến rộng rãi (widespread species)và một số có các biến thể khác biệt về sắc thái màu vàng trong bộ lông của chúng

chim này nhỏ (khoảng 8-9 cm) với phần màu vàng ô liu trên, mắt có một vòng (khoen)màu trắng bao quanh mắt, cổ họng màu vàng. bụng màu trắng là màu xám nhưng có thể có màu vàng ở một số phân loài. Các loại nhìn tương tự giống nhau Các loài phổ biến và siêu phân loài (superspecies) bao gồm trong chi Zosterops japonicus, Zosterops meyeni và có thể cũng có loài khác vì Phân loại của nhóm này vẫn còn chưa rõ ràng với một số loài trên các quần đảo đang được nghiên cứu và trong đó một số phân loài chưa được phân loài. ví dụ loài ở Flores, Indonesia có mắt trắng nhạt. nguoi ta vẫn chưa xác định vì chúng có những điểm giống với loài họa mi Stachyris (Stachyris babblers).

Hiện nay có 11 loài đã được công nhận (bao gồm các loài ở Bengal, Ấn Độ) được tìm thấy từ Oman, Ả Rập, Afghanistan, miền bắc Ấn Độ và mở rộng vào Trung Quốc và miền bắc Myanmar. Loài ở Western Ghats, và miền nam Ấn Độ được đặt trong chi nilgiriensis trong khi loài ở Eastern Ghats (Shevaroy, Chitteri, Seshachalam, Nallamalai) lại được xếp vào chi salimalii đôi khi còn được xếp vào các chi khác. Các loài của vùng đồng bằng của Ấn Độ, Sri Lanka Laccadives đôi khi được đặt trong chi egregius (= egregia) nhưng bị hạn chế bởi các công trình nghiên cứu khác. Những loài ở miền nam Myanmar, Thái Lan và Lào đặt trong siamensis. Các loài trên quần đảo Nicobar là nicobaricus và đôi khi tên này cũng được sử dụng cho loài trên quần đảo Andaman, tuy nhiên nét đặc biệt và khác biệt không rõ ràng trong tên loài. Các loài từ miền nam Thái Lan tới miền tây Campuchia được đặt trong williamsoni.. Các loài ở các đảo Đông Nam Á được đặt trong auriventer (= aureiventer), buxtoni, melanurus và unicus.

Nhóm occidentis ở phía tây của dãy Himalaya có phần trên màu xanh đậm và hông được nhuốm màu nâu. Các loài trong chi salimalii có mỏ ngắn hơn và phần bụng có màu vàng-xanh lá cây(brighter yellow-green) tươi sáng hơn phần trên.

Tên tiếng Anh và tên khoa học là dựa vào vòng trắng quanh mắt, Zosterops là tiếng Hy Lạp nghĩa là ''Mắt Trắng''

Tên tiếng Anh và khoa học tham khảo các vòng dễ thấy của lông trắng quanh mắt, Zosterops là Hy Lạp cho 'tráng mắt.

Môi trường sống tự nhiên của chúng hầu như là khắp nơi. Đôi khi chúng sống ngay tại các khu vực rừng ngập mặn và trên các đảo nơi mà nguồn thức ăn phong phú hơn .... Chúng chỉ hơi hiếm ở khu vực sa mạc khô của miền tây Ấn Độ

Có một loài đã được phát hiện ở San Diego, California trong thập niên 1980 và sau đó đã tuyệt chủng

Vành Khuyên sống rất hòa đồng thường sống thành đàn chỉ tách cặp trong mùa sinh sản. Chúng chỉ sống trên cây và chỉ ít khi xuống đến mặt đất. Mùa sinh sản là tháng hai-Tháng chín nhưng tháng tư là mùa sinh sản cao điểm. Chúng xây dựng tổ hình dáng như cái chén nhỏ gọn và đặt trên ngã ba của một nhánh cây nhỏ. Tổ được làm bằng mạng Nhện, địa y và chất xơ thực vật. Tổ được xây dựng trong khoảng 4 ngày và đẻ hai trứng màu xanh nhạt. Trứng nở trong khoảng 10 ngày. Cả chim trống và chim mái đều ấp trứng và cham sóc con. Mặc dù chủ yếu là ăn côn trùng., Các loài Khoen Vàng cũng ăn mật hoa và trái cây các loại.

Khi làm tổ chúng thường phải đối mặt với nhiều kẻ thù, nhưng là loài chim nhỏ nên chúng thường phải phòng thủ. kẻ thù của chúng bao gồm những con dơi (đặc biệt là Megaderma Lyra) và các loài chim như White-throated Kingfisher, Endoparasitic Haemosporidia of chi Haemoproteus......Khi xây dựng các tổ, chúng thường lấy (steal (ăn cắp)) vật liệu từ các tổ chim khác


[Hình ảnh: Oriental_White_Eye_I_IMG_0655.jpg]


Khoen Xanh
Tên Tiếng Anh : Japanese White-eye
Danh Pháp Khoa Học : Zosterops japonicus


[Hình ảnh: we0001.jpg]


Khoen Xanh hay còn gọi là Khoen Nhật Bản (Zosterops japonicus), còn được gọi là mejiro (メジロ, 目 白), là chim thuộc bộ trong họ Vành Khuyên. Thỉnh thoảng người ta viết tên loài chim này(Specific name)bằng japonica, nhưng điều này không đúng, do sự phân loài của chi. phạm vi bản xứ của nó bao gồm phần lớn phía đông châu Á, bao gồm cả Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, và Philippines. Chúng đã được biết đến hầu như khắp thế giới như một loài chim cảnh. Là một trong những loài bản địa của quần đảo Nhật Bản, chúng đã được miêu tả trong nghệ thuật Nhật Bản rất nhiều.

Chiều dài trung bình từ 4-4,5 cm. Phần trán và cổ họng màu vàng, lưng một màu xanh lục, đuôi có màu nâu tối. Giống như loài Vành Khuyên khác, loài này cũng có viền mắt trắng(mejiro cũng có nghĩa là "mắt trắng" trong tiếng Nhật). Nó là loài ăn tạp, thức ăn chủ yếu là côn trùng và mật hoa. Khi xây dựng các tổ, chúng thường lấy (steal (ăn cắp)) vật liệu từ các tổ chim khác.

Chúng được đưa đến Hawaii vào năm 1929 như là một phương tiện để kiểm soát côn trùng và đã trở thành loài chim phổ biến trên các quần đảo Hawaii.


[Hình ảnh: Bird-04.jpg]


Khoen Hông Nâu
Tên Tiếng Anh : Chestnut-flanked White-eye
Danh Pháp Khoa Học : Zosterops erythropleurus


[Hình ảnh: chestnutflankedwhiteeye2_iw.jpg]


Khoen Hông Nâu(Zosterops erythropleurus) là một loài chim trong họ Vành Khuyên (Zosteropidae). được tìm thấy tại Campuchia, Trung Quốc, Hong Kong, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc, Lào, Myanmar, Nga, Thái Lan, và Việt Nam. loài này là di cư, sinh sản ở miền bắc Trung Quốc và di cư tới Đông Nam Á trong mùa đông. Đây là loài di cư nhất trong họ Vành Khuyên. Chúng thường sống ở các vùng có độ cao trên 1.000 m.


[Hình ảnh: 800px-Zosterops_erythropleurus.jpg]

In mục này

  Họ Chim thiên đường
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:40 PM - Diễn đàn: Kiến Thức Chung Về Chim Rừng. - Trả lời (6)

Chim thiên đường, một số tài liệu bằng tiếng Việt còn gọi là chim thiên hà, là các loài chim thuộc họ Paradisaeidae, sống ở một số khu vực thuộc Australasia, bao gồm miền đông Indonesia, New Guinea và đông bắc Australia. Các thành viên của họ Thiên đường được biết đến nhiều nhất có lẽ là từ những bộ lông sặc sỡ, đẹp của các con trống thuộc phần lớn các loài, được chúng sử dụng để hấp dẫn con mái (con mái có bộ lông bình thường) bằng những điệu nhảy và xòe cánh, múa đuôi. Con trống có đuôi dài và đẹp. Một số còn có chỏm lông trên đầu hay lông cánh dài sặc sỡ. Các loài chim thiên đường là một trong những loại chim biết hót cổ xưa nhất.

[URL="http://img.xcitefun.net/users/2009/03/38400,xcitefun-birds-of-paradise-paradisaeidae.jpg"][Hình ảnh: 38400,xcitefun-birds-of-paradise-paradisaeidae.jpg][/URL]

Họ Chim thiên đường dao động về kích thước từ nhỏ như ở chim thiên đường vua chỉ nặng 50 gam (1,8 oz) và dài 15 cm (6 inch) tới mỏ liềm đen dài 110 cm (43 inch) và manucode mào quăn nặng 430 gam (15,2 oz).

Được biết đến nhiều nhất là các thành viên của chi Paradisaea, bao gồm cả loài điển hình, chim thiên đường lớn (Paradisaea apoda). Loài này được miêu tả từ các mẫu vật được các thương nhân mang về châu Âu. Các mẫu vật này được các thương nhân bản địa tạo ra bằng cách tháo bỏ cánh và chân sao cho chúng có thể dùng như là vật trang trí. Các nhà thám hiểm thương mại đã không biết được điều này và dẫn tới niềm tin rằng chúng không bao giờ đậu xuống đất mà luôn được giữ lơ lửng trong không trung nhờ bộ lông. Đây là nguồn gốc cả cả tên gọi "chim thiên đường" lẫn tên khoa học apoda - không chân.

[URL="http://k41.pbase.com/o6/33/205833/1/28512366.7K13Kzg0.LesserBOPPB.jpg"][Hình ảnh: 28512366.7K13Kzg0.LesserBOPPB.jpg][/URL]

Sinh học

Các loài trong họ Thiên đường nói chung trông giống như quạ về hình thái cơ thể chung, và trên thực tế là nhóm có quan hệ chị-em với họ Quạ. Chúng có mỏ chắc mập hoặc dài và chân khỏe, với khoảng hai phần ba số loài là dị hình giới tính mạnh.

Chúng sống trong các khu rừng nhiệt đới, bao gồm rừng mưa nhiệt đới, rừng đầm lầy và rừng rêu. Ở phần lớn các loài, thức ăn chủ yếu là trái cây, mặc dù các loài súng trường và mỏ liềm cũng thích ăn cả sâu bọ và các động vật chân khớp khác.

Phần lớn các loài có nghi thức kết đôi phức tạp, với các loài Paradisaea sử dụng cách thức kết đôi kiểu cầu ngẫu trường. Các loài khác, chẳng hạn như các chi Cicinnurus và Parotia, có các kiểu nhảy kết đôi mang tính chất nghi thức cao. Các con trống là đa thê ở các loài dị hình giới tính, nhưng là đơn thê ở ít nhất là một số loài đồng hình giới tính. Sự lai tạp là phổ biến ở các loài chim này. Nhiều dạng lai ghép đã được miêu tả như là các loài mới, và nghi ngờ liên quan tới một vài dạng, như chim thiên đường mỏ thùy Rothschild, là có cơ sở.

Các loài trong họ này xây tổ từ các vật liệu mềm, như lá, dương xỉ, tua dây leo, thường là trên các chạc cây. Số lượng trứng đẻ mỗi lần là chưa chắc chắn. Ở các loài to lớn hơn, gần như chỉ là một quả. Các loài nhỏ hơn có thể đẻ 2-3 trứng. Trứng được ấp nở trong 16-22 ngày, và chim non rời tổ trong khoảng từ 16 tới 30 ngày tuổi

[URL="http://3.bp.blogspot.com/_KKjMMKe4XGQ/TBEIUA-HGVI/AAAAAAAAGVM/cjm6gGnA-uY/s1600/redbop.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: redbop.jpg][/URL]

Các loài

Chi Lycocorax

* Chim thiên đường quạ đen, Lycocorax pyrrhopterus

Chi Manucodia

* Manucode lông mượt, Manucodia atra
* Manucode đảo Jobi, Manucodia jobiensis
* Manucode vòng lông cổ nhăn, Manucodia chalybata

* Manucode mào quăn, Manucodia comrii
[URL="http://fwmail.teenee.com/strange/img1/m187926.jpg"][Hình ảnh: m187926.jpg][/URL]

* Manucode trumpet, Manucodia keraudrenii

Chi Paradigalla

* Paradigalla đuôi dài, Paradigalla carunculata

* Paradigalla đuôi ngắn, Paradigalla brevicauda
[URL="http://www.sunature.com/bbs/photos/200912191112550.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: 200912191112550.jpg][/URL]

Chi Astrapia

* Astrapia núi Arfak, Astrapia nigra
* Astrapia tráng lệ, Astrapia splendidissima
* Astrapia đuôi mảnh, Astrapia mayeri
* Astrapia Stephanie, Astrapia stephaniae

* Astrapia bán đảo Huon, Astrapia rothschildi
[URL="http://www.avianweb.com/images/birds/birdsofparadise/HuonAstrapia.jpg"][Hình ảnh: HuonAstrapia.jpg][/URL]

Chi Parotia

* Parotia phương tây, Parotia sefilata
* Parotia Carola, Parotia carolae
* Parotia Berlepsch, Parotia berlepschi
* Parotia Lawes, Parotia lawesii
* Parotia phương đông, Parotia helenae

* Parotia Wahnes, Parotia wahnesi
[URL="http://apscience.org.au/projects/PBF_01_4/PBF_01_4_image_07_full.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: PBF_01_4_image_07_full.jpg][/URL]

Chi Pteridophora

* Chim thiên đường vua Saxony, Pteridophora alberti
[URL="http://www.arkive.org/media/63/63A3C534-C549-420F-A68B-E16BED1FC9A8/Presentation.Large/photo.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: photo.jpg][/URL]

Chi Lophorina

* Chim thiên đường hùng vĩ, Lophorina superba
[URL="http://birdwatcher.ru/wp-content/uploads/2008/03/birds_of_paradise.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: birds_of_paradise.jpg][/URL]

Chi Ptiloris

* Súng trường tráng lệ, Ptiloris magnificus
* Súng trường phương đông, Ptiloris intercedens
* Súng trường thiên đường, Ptiloris paradiseus

* Súng trường Victoria, Ptiloris victoriae
[URL="http://www.nqbirds.com/images/endemic/RiflebirdVicC01226F.jpg"][Hình ảnh: RiflebirdVicC01226F.jpg][/URL]

Chi Epimachus

* Mỏ liềm đen, Epimachus fastuosus
* Mỏ liềm nâu, Epimachus meyeri
* Mỏ liềm mỏ đen, Epimachus albertisi

* Mỏ liềm mỏ nhạt, Epimachus bruijnii
[URL="http://www.birdforum.net/opus/images/thumb/a/a8/Pale-billed_Sicklebill.jpg/550px-Pale-billed_Sicklebill.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: 550px-Pale-billed_Sicklebill.jpg][/URL]

Chi Cicinnurus

* Chim thiên đường tráng lệ, Cicinnurus magnificus
* Chim thiên đường Wilson, Cicinnurus respublica

* Chim thiên đường vua, Cicinnurus regius
[URL="http://ibc.lynxeds.com/files/pictures/Seleucidis_melanoleuca_5JH.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Seleucidis_melanoleuca_5JH.jpg][/URL]

Chi Semioptera

* Cánh chuẩn Wallace, Semioptera wallacii

Chi Seleucidis

* Chim thiên đường mười hai dây, Seleucidis melanoleuca
[URL="http://lh5.ggpht.com/_swaK41_hNqk/ScMVmDYFdTI/AAAAAAAABVw/Y29eS8exjMc/s800/1189133852.jpg"][Hình ảnh: 1189133852.jpg][/URL]

Chi Paradisaea

* Chim thiên đường nhỏ, Paradisaea minor
* Chim thiên đường lớn, Paradisaea apoda
* Chim thiên đường Raggiana, Paradisaea raggiana
* Chim thiên đường Goldie, Paradisaea decora
* Chim thiên đường đỏ, Paradisaea rubra
* Chim thiên đường hoàng đế, Paradisaea guilielmi

* Chim thiên đường lam, Paradisaea rudolphi
[URL="http://2.bp.blogspot.com/_-URyicD-JEQ/TBgvnwx41OI/AAAAAAAAAg4/3pIoRqK2ugU/s1600/Paradisaea+rudolphi00.jpg"][Hình ảnh: wol_error.gif]This image has been resized.Click to view original image[Hình ảnh: Paradisaea+rudolphi00.jpg][/URL]


Tranh cãi

* Melampitta lớn, Melampitta gigantea- đặt vào đây không chắc chắn, có lẽ thuộc họ Orthonychidae.

Đã từng hiểu lầm

* Chim thiên đường Loria, Cnemophilus loriae - chắc chắn là gần với họ Melanocharitidae.
* Chim thiên đường mào, Cnemophilus macgregorii - chắc chắn là gần với họ Melanocharitidae .
* Chim thiên đường ngực vàng, Loboparadisea sericea - chắc chắn là gần với họ Melanocharitidae .
* Chim thiên đường Macgregor, Macgregoria pulchra - chắc chắn là gần với họ Melanocharitidae .
* Melampitta nhỏ, Melampitta lugubris - đôi lúc nằm trong họ chim thiên đường, nhưng nhiều phần nghiêng về họ Orthonychidae.

In mục này

  Diều hâu
Đăng bởi: chuoivn - 09-13-2010, 01:38 PM - Diễn đàn: Dinh Dưỡng và Luyện Tập - Không có trả lời

Thuật ngữ diều hâu hay chim ưng hoặc chim cắt dùng để chỉ tới các loài chim săn mồi trong một trên ba ngữ cảnh sau:

[URL="http://monacoeye.com/birds/index_files/milvus_migrans_black_kite_01.jpg"][Hình ảnh: milvus_migrans_black_kite_01.jpg][/URL]

* Một cách chặt chẽ, nó dùng để chỉ tới bất kỳ loài nào trong các chi Accipiter, Micronisus, Melierax, Urotriorchis và Megatriorchis. Chi phổ biến Accipiter bao gồm cả ó, cắt, cắt vuốt sắc và nhiều loài khác. Chúng chủ yếu là các loài chim sống tại các khu vực miền rừng và đi săn mồi bằng cách lao đột ngột xuống từ chỗ nấp kín đáo. Thông thường chúng có đuôi dài và thị lực rất sắc bén.
* Một cách nói chung, để chỉ các loài chim có kích thước từ nhỏ tới trung bình thuộc về họ Accipitridae, họ bao gồm cả diều hâu thực thụ, ưng (chi Accipiter) cũng như các loài chim khác như đại bàng, diều, diều mướp, ó buteo và kên kên Cựu thế giới.
* Một cách lỏng lẻo, để chỉ gần như bất kỳ loài chim săn mồi nào.

[URL="http://www.peregrine-foundation.ca/Photos/raptors/Hawks/goshawk43.jpg"][Hình ảnh: goshawk43.jpg][/URL]

Tên gọi thông thường của các loài chim này tại các khu vực khác nhau trên thế giới thường sử dụng từ diều hâu, ưng, cắt một cách lỏng lẻo. Ví dụ, tại Bắc Mỹ, ó buteo (Buteo) thông thường chỉ gọi là "hawk" (diều hâu, chim cắt, chim ưng).

Các loài diều hâu thực thụ, ưng tạo thành phân họ Accipitrinae và phần lớn nằm trong chi Accipiter.

Vào tháng Hai năm 2005, nhà khoa học người Canada, tiến sĩ Louis Lefebvre thông báo phương pháp đo IQ của chim chóc theo sự sáng tạo của chúng trong thói quen ăn uống. Diều hâu đã được coi là một trong những loài chim thông minh nhất trên cơ sở của thang đo này.

[URL="http://worldanimalfoundation.homestead.com/000802_c707_0056_csls.jpg"][Hình ảnh: 000802_c707_0056_csls.jpg][/URL]

Người ta còn cho rằng diều hâu có thị lực rất tốt, đạt tới 20/2, vào khoảng 8 lần sắc bén hơn những người có thị lực tốt.

Các loài

* Phân họ Accipitrinae:
o Chi Accipiter
+ Ó ngỗng, A. gentilis
+ Cắt hỏa mai hay bồ cắt, A. nisus
+ Ó bụng xám, A. poliogaster
+ Ó mào, A. trivirgatus
+ Ó Sulawesi, A. griseiceps
+ Ó ngực đỏ, A. toussenelii
+ Ó châu Phi, A. tachiro
+ Ó Trung Quốc, A. soloensis
+ Ó Pháp, A. francesii

+ Ó đuôi đốm, [URL="http://pic.tiexue.net/pics/2007_4_21_73080_5273080.jpg"][Hình ảnh: 2007_4_21_73080_5273080.jpg][/URL]

+ Ó xám, A. novaehollandiae
+ Ó nâu, A. fasciatus
+ Ó choàng đen, A. melanochlamys
+ Ó ác là, A. albogularis
+ Ó Fiji, A. rufitorques
+ Ó bụng trắng, A. haplochrous
+ Ó Molucca, A. henicogrammus
+ Ó đầu xám, A. poliocephalus
+ Ó New Britain, A. princeps
+ Ó đen, A. melanoleucus
+ Ó Henst, A. henstii
+ Ó Meyer, A. meyerianus
+ Cắt sườn hạt dẻ, A. castanilius
+ Cắt Nicobar, A. butleri
+ Cắt Levant, A. brevipes
+ Cắt đá phiến, A. luteoschistaceus
+ Bồ cắt giả, A. imitator
+ Cắt đùi đỏ, A. erythropus
+ Cắt bé, A. minullus
+ Cắt Nhật Bản, A. gularis
+ Cắt nhỏ, A. nanus
+ Cắt cổ nâu đỏ, A. erythrauchen
+ Cắt cổ áo, A. cirrocephalus
+ Cắt New Britain, A. brachyurus
+ Cắt ngực màu rượu vang, A. rhodogaster
+ Cắt Madagascar, A. madagascariensis
+ Cắt Ovampo, A. ovampensis
+ Cắt ngực hung, A. rufiventris

+ Ưng xám, A. badius
[URL="http://www.birdsisaw.com/Photographs/Shikra_76737.jpg"][Hình ảnh: Shikra_76737.jpg][/URL]
+ Diều hâu nhỏ, A. superciliosus
+ Diều hâu bán cổ áo, A. collaris
+ Diều hâu vuốt sắc, A. striatus
+ Diều hâu ngực trắng, A. chionogaster
+ Diều hâu ngực phẳng, A. ventralis
+ Diều hâu chân hung, A. erythronemius
+ Diều hâu Cooper, A. cooperii
+ Diều hâu Gundlach, A. gundlachi
+ Diều hâu khoang, A. bicolor
+ Ưng bụng hung, A. virgatus
o Chi Micronisus
+ Ó Gabar, M. gabar
o Chi Melierax
+ Ó sẫm hót trầm bổng, M. metabates
+ Ó phương đông hót trầm bổng, M. poliopterus
+ Ó nhạt hót trầm bổng, M. canorus
o Chi Urotriorchis
+ Diều hâu đuôi dài, U. macrourus
o Chi Erythrotriorchis
+ Ó đỏ, E. radiatus
+ Ó vai hạt dẻ, E. buergersi
o Chi Megatriorchis
+ Ó Doria, M. doriae

In mục này


Thành viên đang trực tuyến
Hiên tại có 262 thành viên đang trực tuyến » 0 Thành viên | 259 Khách
Baidu, Bing, Google

Mã nguồn bởi MyBB, © 2002-2026 Tài Trợ Bởi Thamdinh.com.vn.