Thông kê diễn đàn
» Thành viên: 176,918,   » Thành viên mưới nhất: admin,   » Chủ đề: 46,693,   » Bài viết: 420,657,  
Thống kê đầy đủ

  Tự động thay nước, cấp thoát nước qua bể lọc dưới (sump tank)
Đăng bởi: kid.1412 - 04-16-2014, 11:53 AM - Diễn đàn: Cá Rồng - Phụ kiện - Trả lời (1)

Bổ sung Mô hình 2, tôi đang dùng mô hình 1 nhưng không có ý cổ súy cho mô hình 1, tùy theo hoàn cảnh mà các bạn chọn mô hình cho phù hợp.

Mô hình 1:
[Hình ảnh: thienduongcacanh.com-sodo1.jpg]
Hình trên là sơ đồ nguyên lý cấp và thoát nước cho bể lọc dưới:

Cấu tạo:

(a): Đường nước vào tự động bổ sung nước khi nước bị hao hụt trong khoang bơm được gắn với phao nổi khống chế mực nước thấp hơn mực nước xả (đáy của ống xả (b))
(b): Ống xả nước (đường kính 34mm) mép dưới trong lòng ống cao bằng mép tràn vách ngăn bên trái của khoang bơm.
©: Đường thay nước nhỏ giọt liên tục lên bể chính. Nước mới vào sẽ đầy nước cũ thoát dần qua đường (b)

Hoạt động:

1. Thay nước tự động: Đường nước cấp nhỏ giọt © có thể chảy liên lục vào bể chính (ví dụ 100 lít nước/ngày), nước trong bể lọc dâng cao dần lên và tràn ra ngoài qua đường xả nước (b)
2. Bổ sung nước tự động: Khi mất nước do bay hơi, nước trong ngăn bơm cạn xuống, phao nổi hạ xuống và nước tự chảy vào (nguyên lý giống như xả nước bồn cầu [Hình ảnh: 13.gif])
3. Bổ sung nước cấp tập: Khi mất điện, nước trên bể chính và các khoang lọc bên cạnh tràn xuống và sang khoang bơm, nước sẽ dềnh lên và tràn ra ngoài qua đường (b) chứ không tràn ra nhà [Hình ảnh: thumbup.gif]. Khi có điện lại, nước bơm lên bể chính làm cạn khoang bơm, làm phao nổi hạ xuống, nước tự động bổ sung.

Ưu nhược điểm của Mô hình 1 như sau:
Ưu điểm:
- Nói chung không bị tắc, thỉnh thoảng cần điều chỉnh lại van điều tiết.
- Xử lý được váng mặt của khoang bơm
- Công cần khoảng không nhiều để chứa nước, tăng được phần lọc và dễ thao tác do không cần làm thành bể lọc cao.

Nhược điểm:
- Khi mất điện và có lại, bể chính sẽ bị/được thay khoảng 5%, nếu đường cấp cho phao nổi (bể trên nóc) hết nước >> cháy bơm.


Kết luận:

Đây chính là mô hình tôi làm cho bể cá ở nhà và cho một vài Bros khác, đơn giản, không tốn tiền mua các loại dụng cụ canh đo mực nước, vận hành ổn định không tốn điện và đáng tin cậy. Cá khỏe,xung ít bệnh vì được thay nước 24/7/365. Các bros thử xem nhá! Nếu có bro nào định khoan bể lọc tràn hiện tại thì phải rất cẩn thận. Vỡ bể tôi không chịu trách nhiệm đâu nhá!!! [Hình ảnh: hysterical.gif][Hình ảnh: hysterical.gif][Hình ảnh: hysterical.gif]


Mô hình 2
[Hình ảnh: thienduongcacanh.com-sodo2.png]
Mô hình 2 được trích nước từ đường hút mặt (để tránh bị cặn bẩn tắc và sẽ khó bị tắc hơn so với trích từ đường hút đáy). Cũng giống như Mô hình 1, phao nổi ở khoang bơm là điều tối cần thiết. Nước sẽ được điều chỉnh để nhỏ giọt và thoát ra ngoài, nước bù sẽ qua phao nổi bổ sung vào khoang bơm... tự động. Lưu ý, van điều chỉnh nhỏ giọt nên để ở ngoài gần đầu xả để có thể chỉnh được chính xác lưu lượng.

Ưu nhược điểm của Mô hình 2 như sau:
Ưu điểm:
- Mất điện bơm ngừng nước không bị thất thoát ra ngoài, khi có điện lại không cần bổ sung nhiều nước.

Nhược điểm:
- Có thể bị tắc do đường nước xuống là đường nước chưa qua lọc, tuy nhiên xử lý dễ chỉ cần xả van.
- Trong quá trình vận hành, nếu đường cấp nước cho phao nổi (bể chính cạn nước) sẽ cạn nước bể lọc >> cháy bơm
- Khó khống chế qua điều chỉnh phao nổi để nước tràn ngang vách như mặt sông cho khoang bơm
- Không xử lý được váng mặt của khoang bơm
- Khoảng không chứa nước của khoang bơm cần nhiều hơn
- Hở phao nổi nước sẽ... tràn bể lọc

Lợi ích chung của hệ thống nhỏ giọt cho cả 2 mô hình:

1. Không sợ cạn nước do không bổ sung nước bay hơi
2. Không sợ nước tràn ra nhà khi mất điện và tự bổ sung nước đã bị xả ra ngoài khi có điện
3. Tự động thay nước, ví dụ mỗi giờ 5 lít nước bằng cách cho nước vào nhỏ giọt trên bể chính, nước tự động chảy ra. Không mất công thay nước, không sợ cá shock nước mới, không sợ nhiệt độ thay đổi đột ngột.
4. Tự động bổ sung nước khi bạn không có hệ thống hút đắy mà dùng ống siphon để hút cặn bẩn ra, nước bẩn hút ra bao nhiêu thì nước mới được bổ sung qua đường phao nổi bấy nhiêu. Ống xả 34mm có thể chế thêm để cho ống siphon xả vào để thoát ra ngoài, không cần luồn qua cửa sổ hay kéo ống siphon vào nhà vệ sinh [Hình ảnh: clear.png]
5. Không sợ cháy sưởi trong khoang bơm khi cạn nước do mực nước luôn được khống chế.
6. Nước thay ra ngoài hứng vào chậu để giặt giẻ lọc, tưới cây... và vật liệu lọc, vừa tiết kiệm nước vừa không sợ chết vi sinh giẻ lọc [Hình ảnh: thumbup.gif][Hình ảnh: thumbup.gif]
7. Cá vấn được thay nước khi ông chủ đi vắng nhiều ngày mà không cần làm phiền người khác [Hình ảnh: clear.png]

Trân trọng cảm ơn anh haips về thông tin bổ ích này!

Theo: Thiên Đường Cá Cảnh

In mục này

  Nuôi dưỡng và chăm sóc Cá đĩa
Đăng bởi: kid.1412 - 04-16-2014, 11:47 AM - Diễn đàn: Cá Đĩa - Discus - Trả lời (4)

Bài viết này dựa trên 1 số kinh nghiệm đúc kết được của cá nhân tôi sau 1 thời gian dài ăn cá đĩa, ngủ cá đĩa [Hình ảnh: smile.png] , nhằm mục đích cung cấp cho những người thích nuôi cá đĩa nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng cá đĩa một số thông tin và kinh nghiệm cơ bản nhất để tham khảo. Lời văn không phải của dân chuyên nghiệp nên mong mọi người thông cảm!

Cá đĩa, tên gọi quốc tế là DISCUS, là 1 loài cá đẹp nếu không muốn nói là rất đẹp trong số các loài cá nước ngọt do tính đa dạng trong màu sắc của chúng. Đặc biệt loài này đã được con người thuần dưỡng và lai tạo trong điều kiện nhân tạo nên đã phát huy tối đa đặc tính đa dạng mầu sắc đó. Trong thiên nhiên, cá đĩa phân bố nhiều ở các vùng sông suối có khí hậu nhiệt đới như Nam Mỹ, Châu Phi, Châu Á. Chúng có đặc biệt nhiều tại lưu vực sông Amazon ở Trung và Nam Mỹ. Tuy nhiên, cá đĩa tự nhiên có kích thước và màu sắc không sặc sỡ, đa dạng như được nuôi nhân tạo. Ngoài tự nhiên, kích thước tối đa mà chúng đạt được thường từ 15 - 18 cm (tuỳ loài và tuỳ khu vực sinh trưởng) trong khi cá đĩa được con người thuần dưỡng, chăm sóc có thể đạt kích thước 20 - 22 cm hoặc hơn.
Tuy nhiên, với cá có kích thước 12-13 cm thì đã được coi là cá trưởng thành rồi và có một vẻ đẹp lộng lẫy cũng như có 1 gía trị kinh tế rất cao. Giá trung bình của một đôi cá đĩa trên thị trường VN với kích cỡ là cá trưởng thành khoảng 300 - 500 K tuỳ chủng loại, cá biệt có loài giá hàng triệu đồng một đôi (ở Miền Nam giá mềm hơn 1 chút do thời tiết thích hợp và nuôi sinh sản được). Còn ở nước ngoài, đặc biệt là các nước châu Âu và Mỹ, giá rất cao, khoảng từ 60 đến vài trăm USD /1 con. Chính vì lý do đó nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường VN vì hiện tại các trung tâm sản xuất cá đĩa tại miền Nam đã bắt đầu xuất khẩu được ra thị trường nước ngoài. Hiện nay, con người đã lai tạo được rất nhiều chủng loại cá đĩa có mầu sắc vô cùng phong phú và hấp dẫn. Hiện ở miền nam VN đã lai tạo và sản xuất được khá nhiều chủng loại cá đĩa đẹp được đánh giá cao trên thế giới như cá đĩa Bồ câu đỏ, xanh đức, xanh nước biển (miền nam gọi là đĩa Lam A, Lam [Hình ảnh: cool.png], đĩa bông cúc, da rắn đỏ .v.v.
Tuy vậy, ngành cá cảnh VN vẫn chưa thể so sánh được với các trung tâm sản xuất cá cảnh lớn nổi tiếng thế giới như Thái Lan, Indonesia, Hong Kong, Nam Mỹ .v.v. nơi đã lai tạo được hàng trăm chủng loại cá đĩa quí hiếm khác nhau với giá cả cùng vô cùng "hiếm". Nhưng bù lại, chúng ta lại có ưu điểm là giá rẻ, dễ nuôi nên được thị trường chấp nhận.
Một số chủng loại đang thông dụng trên thị trường để pà con tham khảo:

Đĩa đỏ Malboro
[Hình ảnh: Malboro1.jpg]
Loại này khá đắt, nhưng cũng xắt ra miếng các pác nhỉ [Hình ảnh: rolleyes.png]

Đĩa bồ câu: Loại này tương đối thông dụng và giá mềm
[Hình ảnh: Bocau3.jpg]

Đỏ Da rắn, một loài đĩa đỏ bồ câu đã được lai tạo đẹp
[Hình ảnh: Diado2.jpg]

Da rắn vân đỏ, loài đĩa được lai tạo từ đĩa vân xanh
[Hình ảnh: Diadaran.jpg]

Đĩa xanh đức, đĩa lam.
[Hình ảnh: Xanhduc.jpg]

Đĩa vân xanh thường
[Hình ảnh: Diaxanh1.jpg]

Đĩa nâu
[Hình ảnh: Diaxanh2.jpg]

Các thông tin chung nhất cho những người chưa hiểu nhiều về loài cá này và hướng dẫn cơ bản cách chăm sóc như: Nguồn nước, độ pH, ánh sáng, lọc nước, phân biệt giới tính, chế độ dinh dưỡng cơ bản, ... thì đã có bài viết trước đây trong diễn đàn giới thiệu, ai chưa biết có thể tham khảo trong bài Cá Đĩa, phần cá nước ngọt.
Bài viết này tập trung chủ yếu và đi sâu hơn vào các cách lựa chọn, chăm sóc, nuôi dưỡng và chữa trị một số loại bệnh thông thường của cá.

CÁCH LỰA CHỌN CÁ NUÔI

Việc lựa chọn được những con cá khoẻ mạnh, không bệnh tật khi mua ở cửa hàng là một điều rất quan trọng trong quá trình nuôi dưỡng bởi vì nó quyết định đến 90% sự phát triển thể chất và mầu sắc sau này của con cá của bạn. Tất nhiên, trừ trường hợp bạn sắm ngay 1 con cá đã trưởng thành hoặc đã nghỉ hưu [Hình ảnh: smile.png]) thì không phải lo lắng lắm về điều này. Tuy nhiên, với trường hợp như vậy, vẫn cần 1 sự tinh ý quan sát nhất định để chọn mua được 1 con cá khoẻ mạnh, như vậy mới đảm bảo sau khi về với bể nhà bạn, con cá mới không bị ốm, chết và giữ được mầu sắc vốn có của nó.
Nhưng như một số anh em trong diễn đàn đã chia sẻ, cái thú chơi cá cảnh không hẳn chỉ giới hạn là bạn đang sở hữu 1 con vật giá trị bao nhiêu mà người chơi cá còn có 1 cái thú riêng, đó là được tự tay chăm sóc và hàng ngày theo dõi cái thành quả lao động đó của mình với con vật mình yêu quí. Các bạn có đồng ý với quan điểm này không? Tôi thì chỉ thích nuôi cá bé rồi đợi nó lớn thôi, để thử lòng kiên nhẫn mà [Hình ảnh: smile.png]).
Với những người mới nuôi loại cá này, thì việc nhận biết một con cá khoẻ mạnh ngay ở cửa hàng là điều rất khó. Tôi có một số kinh nghiệm sau đây:

1) Độ tuổi và mầu sắc của cá:

Với những người có ý định nuôi dưỡng cá nhỏ, hãy nên mua cá trong khoảng từ 4-6 tháng tuổi, tức là lúc đó chúng có đường kính thân (kể cả vây) được khoảng 6-7 cm. Đây là giai đoạn cá còn đang phát triển rất nhanh về kích thước, thể trạng khá khoẻ mạnh và có thể chịu được một vài cú sốc ban đầu khi thay đổi môi trường nước, nhiệt độ, thức ăn .v.v. ; Các bạn nên nhớ rằng khi nuôi dưỡng ở nhà chúng ta, cá sẽ không thể có được 1 điều kiện chăm sóc lý tưởng để phát triển tối đa do thiếu sự ổn định về môi trường sống (lười thay nước chẳng hạn hoặc sự giảm nhiệt độ trong mùa đông ở các tỉnh miền Bắc), do thiếu đa dạng trong nguồn dinh dưỡng ... vì vậy, nếu chọn mua cá quá non tuổi, chúng sẽ rất khó khăn trong việc phát triển sau này. Kiểu như mình vẫn nói "Yếu mà cứ đòi ra gió ấy mà " [Hình ảnh: smile.png])
Con bồ câu này của mình mới được 6 tháng tuổi, chưa lên mầu nhưng đã đạt 8cm rồi.
[Hình ảnh: Picture042.jpg]

Còn con này 4,5 tháng, mới khoảng 6cm
[Hình ảnh: Picture051.jpg]


Với những con cá khoẻ, không bị còi thì ở kích thước như vậy chúng chưa thể có được mầu sắc sặc sỡ của cá trưởng thành. Vậy nên con cá nào ở kích thước như vậy đã có mầu sắc sặc sỡ, đậm nét thì rất có thể là cá đã già tuổi nhưng bị còi cọc. Chúng ta không nên chọn loại này vì chỉ đẹp được trước mắt, chứ nuôi mãi cũng khó mà to lên được. Ngoài ra, cũng cần kể đến trường hợp hiện nay các trung tâm nuôi dưỡng và sản xuất cá đĩa cung cấp cho thị trường thường trước khi xuất hàng ra thị trường 1 tháng thì cho cá ăn các loại thức ăn kích thích mầu sắc hoặc có các thủ thuật nhuộm mầu làm con cá có mầu sắc đẹp, nổi bật nhưng không phù hợp với mầu sắc thật sự tương ứng với độ tuổi của cá. Những trường hợp này, người nuôi sẽ rất dễ bị thất vọng vì thấy càng nuôi, càng thấy mầu sắc cá của mình nhạt bớt đi. Bản chất hiện tượng này sẽ được trình bày ở phần sau (chăm sóc cá đĩa).
Có 1 cách khác là có thể căn cứ vào đường kính mắt cá to hay bé để đoán tuổi cá, nhưng cách này càng khó hơn, đòi hỏi bạn phải là người rất nhiều kinh nghiệm và có thâm niên trong nghề [Hình ảnh: smile.png].

2) Quan sát dáng vẻ cá:

- Con cá khoẻ mạnh sẽ có biểu hiện nhanh nhẹn, hoạt bát và luôn bơi chậm rãi, khoan thai và thường thích bơi ở tầm nước trung (giữa bể), vây luôn căng, mầu không bị sẫm đen, không nổi nhiều sọc ở mình. Tránh không chọn những con có biểu hiện cụp vây, mầu sẫm và nép sát đáy bể hoặc nép sát các góc bể vì đó là những con cá đang có dấu hiệu bị bệnh hoặc ốm.
- Mình cá phải càng dầy càng tốt, chú ý phần bụng cá phải luôn căng vừa phải chứ không bị lép: Có những con do bị nhiễm sán hoặc bị hỏng đường ruột nên không thể tiêu hoá được nhiều thức ăn, do đó bụng cá luôn không có nhiều thức ăn, lâu ngày 2 lớp da dính sát vào nhau nhìn mỏng dính. Những con cá này rất khó nuôi lớn đạt kích thước 12cm trở lên được.
- Vây trên dưới của cá phải phát triển đều cả 2 phía và hình dáng phải có hình tròn mới là cá đẹp và khoẻ. Thông thường cá đĩa khi phát triển tốt thì mình cá sẽ tròn, trừ loài cá Xanh đức là có dáng hơi dài, vì vậy nếu thấy con cá nào có mình hơi dài thì cũng không nên chọn.

3) Thử cho ăn mồi:

- Nên bảo chủ cửa hàng cho mồi vào bể để thử phản xạ ăn mồi của cá. Với những con khoẻ mạnh, nếu đang ở độ tuổi đã nói ở trên sẽ rất háu ăn và những con khoẻ nhất đàn sẽ tranh ăn của những con khác rất mãnh liệt, ta nên chọn những con đó.
- Chú ý rằng: cá đĩa rất hay đớp mồi ngậm trong miệng nhưng lại nhả ra, vì vậy cá được đánh giá là khoẻ khi chúng ăn mồi thật sự chứ không phun hết thức ăn ra ngoài.

Theo: carongvietnam.com

In mục này

  Cá đĩa - nuôi và chăm sóc Thảo luận trong 'Sức Khỏe - Dinh Dưỡng'
Đăng bởi: kid.1412 - 04-16-2014, 11:46 AM - Diễn đàn: Cá Đĩa - Discus - Không có trả lời

Cá dĩa là loại cá có tính ôn hòa , và có thể miễn cững thích nghi chung với cá loài cá khác , nhưng tốt nhất bây giờ là ta nên nuôi riêng để tiện việc quan sát theo dõi cá .CÁ dĩa thích nước mềm 3-6dh ,hơi axit yếu ph=5-6,5. CÁ hầu như ko sống ở nơi có nước kiềm ph.7,5. LÀ loài thích ứng với nhiệt độ cao trên 20 độ C , ưa thích và sống tốt ở nhiệt độ 27-32 độ C .
CÁCH NUÔI CÁ DĨA :
So với 1 số loài cá khác cá dĩa tương đối khó nuôi , cá hay tỏ ra nhút nhát khi nghe thấy tiếng động hay thấy bóng người hay vật gì đó 1 cách đột ngột và cá hay trốn đi như thế ở chổ tối hay trốn vào trong bầy đàn của mình , nên ta cần chú ý nhiều đến vấn đề này và cách tốt nhất là nên đặt cá nơi yên tĩnh .
Nếu nuôi 1 cập cá bố mẹ cỡ 14-15 cm có thể dùng bể có kích thước 45x45x45cm hay 50x50x50 , nhưng tốt hơn là nên dùng bể 60x45x45 cm hay 90x45x45 cm ( bể cá sinh sản) mỗi ngày cần chiếu sáng từ 5-6 tiếng , cá sẽ có màu sắc tốt và sinh trưởng tốt hơn .Nước dùng để nuôi cá phải có chất lượng tốt , nếu ko đạt độ ph ha nhiệt độ thì ta phải đều chỉnh .Hàng ngày nên thay nước từ 1/4-1/3 bể ,và bồ sung vào đó lượng nước mới bằng lượng nước được thay ra .Nước mới được thay vào phải có nhiệt độ và độ ph bằng vối nước cũ , nếu ta dùng nước mày thì ta phải phơi cho nước bay hết clo và chỉnh ph vì nước máy là nước trung tính hoặc hơi kiềm .
Nhiệt độ trong bể cần thích ứng với tập tính của cá dĩa , nên trang bị máy điều hòa nhiệt độ ,lọc nước sục khí ,....lúc cá sinh sản yêu cầu nhiệt độ >24-25 độ C , nếu nhhiệt độ thấp hơn phạm vi thcióh ứng của cá thì cá sẽ chậm chạp và bắt mồi kém hiệu quả .Nuôi cá dĩa dưới 10 tháng tuổi ởp nhiệt độ 28-31 đô ko những kích thích sự tăng trưởng của cá mà còn giúp môi trướng cá sống ít mang mầm bệnh .
THỨC ĂN CỦA CÁ DĨA :
Người nuoi cá thường cho cá dĩa ăn các loại giáp xác giúp cấu trúc xương và da như MOINA , DAPHINIA, trùn chỉ , cung quăn , luân trùng,....các nghệ nhân thường dùng vợt lọc những con cung quăng lớn cho cá dĩa lớn ăn còn con nhỏ thì cá nhỏ hưởng .Cần chú ý là khi cho cá ăn ta nên tắt hết các thiết bị lọc đi để thức ăn ko bị hút ngước lên máy .Lượng thức ăn cho vào hồ nên được cá giải quyết sau 10-15 phút , khi cho cá ăn trùn nhớ phải ngâm kĩ và cách tốt nhất là cho trùn lội qua dung dịch muối trước khi cho cá ăn , khi thấy cá ăn trùn mà tiêu ra phân trắng thì ngưng cho cá ăn và chữa ngay cho cá ..Ngoia 2ra người ta còn cho cá dĩa ăn các loại thức ăn chế biếtn theo công thức như tim bò , tảo , tép ,....với những loại thức ăn khi cho vào hồ nên cho vửa đủ , hết cho thêm chứ không cho dư vì mau làm hư nươc1 tạo điều kiện phát sinh bệnh .NGoài ra cá dĩa cũng có thể thích nghi được với thức ăn viên nhưng với loại thức ăn này ta phải tập từ từ cho cá quen .
CHỌN CÁ BỐ MẸ VÀ CHO SINH SẢN:
D9ể có cập ác đúng trống mái người nuơi phải chọn cập cá thật tốt về hầu như là tất cả , nhưng do chưa chũa cho lắm về mặt phân biệt giới tính của cá nên nhiều người thường nuôi 1 bầy từ nhỏ và đến lớn thì cho chúng tự tìm đến nhau .Cá nhỏ 3-4cm là lúc cá đang đả phát triển nên lúc này ta nên có chế độ thức ăn cho cá thích hợp và ổn dịnh cách tốt nhất và phải liên tục thay nước 2-3 lần ngày sau 3-5 tháng cá có thể đạt 7-9 cm có khi hơn .
Đến khi cập ác đã chọn được nhau thì chúng bắt cập ''rất say'' ( ko muốn rời nhau và bảo vệ cho nhau).Tốt nhất trong bể cá đẻ ko nên trải sỏi dưới đáy , từng cập cá bố mẹ khi sắp sinh luôn tích cực trong việc nhà của , lúc nào cũng hăng hái dòn vệ sinh nơi cá muốn đẻ ,lúc này 2 con thường quấn quýt bện nhau và cũng khi này lỗ hậu môn cũng hiện rõ .NHiệt độ tốt nhất nên để ở 28-30 độ C ,ph=5,5-6,5.Sau 1 thời gian ve vãn cá cái bắt đầu tiến hành sinh sản và cá tor6ng1 theo sau hoàn thành công việc .Cần lưu ý thêm là trong bể ép cá dĩa cần có các loại giá thể cho cá sinh sản như gạch ống , gạch mem, giá thể trụ , giá thể chữ nhật , giá thể tam giác ,....nếu ko có giá thể thì bắt buộc cập cá sẽ đẻ trên ''vách tường '', ở đa số các trường hợp cá sinh sản trên gia1 thể thì ta đễ quan sát và kịp thởi xoay trở hơn khi cá sinhsản trên ''vách ''.
Sau khi đẻ xong cá bố mẹ làm nhiệm vụ bảo vệ trứng và luân phiên quạt cung cấp oxy cho trứng . Trứng thụ tinh và nở sau 55-60 giờ ( tùy vào nhiệt độ _tuy nhiên cũng ko nên lạm dụng việc này vì nhiệt cao quá gây hư trứng).VÀ lúc này lá lúc quan trọng , khi cá bố mẹ đang canh trứng mà làm cá giật mình thì cơ hội thoát chết của đám trứng rất mỏng mang , thường thì cá cha mẹ quay sang ăn ổ trứng hay ko giữ làm trứng hư.Vì vậy người ta thường dùng giấy báo hay vải che bợt 1 phầan nào đó của hồ hay che bớt anh sáng chiếu vào hồ , trong thời gian cá đẻ ko dúng máy lọc mà chỉ cho máy oxy chạy nhẹ.
ƯƠNG NUÔI CÁ BỘT :
trứng cá nở sau 60 giờ (...) khi này cá con vẫn còn bám trên giá thể(..) và sang nang2-3 hôm sau cá con bắt đầu có thể bám lên cơ thể cá cha mẹ rồi .Lúc này cá con rất khó nuôi nên chúng ta cần chú ý trước hết là về nước sau đó đến nhiệt độ , trong lúc này ta có thể thay it1 nước trong hồ nhưng phài rất nhẹ tay ,nhưng tốt nhất là ko thay nước ( nếu hồ ko quá bẩn) vì khi thay nước lúc này cá cha mẹ vẫn có thể xơi cá con .Sau 2-3 ngày cá con sẽ bám vào cá bố mẹ vàlúc này cá con sống nhờ vào chất nhớt ( hay sữa) trên cơ thể cá bố mẹ và trong thời gian này cá lớn rất nhanh ta có thể nhận ra sau khi cá con bám vào cá cha mẹ sau 3 ngày.CẦN CHÚY Ý LÀ CÁ CON KHÔNG THỂ SỐNG THIẾU CÁ CHA MẸ TRONG THỜI GIAN NÀY. Lúc này người ta để đèn 24/24 để cá cha mẹ thấy và giữ cá con , tùy theo lượng cá con ít hay nhhiều mà ta tính thời gian và ngày để tách cá con ra khỏi cá bố mẹ để cá bố mẹ chuẫn bị cho lứa tiếp theo .THường cập cá cha mẹ giữ ít con thì số lượng con đó có thể tách ra sau 15 ngày nếu nhiều hơn thì ta sẽ cố găáng tách ra sau 10-12 ngày nhưng cũng đừng dực vào đó mà lạm dụng cá cha mẹ vì nếu cho cá giữ con lâu có thể gây còi và ảnh hưởng đến sức sinhsản cá ( nhất là cá mái) .
CÁ con sau khi tách ra vấn đề về nước và nhiat5 phải bảo đảm tốt vá trên tốt sao đó đén độ ph,ấu trùng cá con sau khi tách ra ta có thể cho cá ăn ít atemia trong 1 ngày và tăng dần lên đến mức cho phép .Khi ta tách cá bố mẹ ra nên nuôi riêng biệt với cá khác có cùng kích thước và nên có chế độ chăm sóc thất đạc biệt để chúng nhanh chóng hồi phục sức khỏe sau thời gian sinh sản và giữ cá con , sau thời gian được chăm sóc đạc biệt thì 10-15 ngày sau có sinh sảnh tiếp tục , có trường hợp cá sinhsản khi mới 7-8 ngày chăm sóc đặc biệt .Cá con sau khi tách khỏi cá bố mẹ ta nên nuôi theo mật độ 20-50con cho 1 bể 60x45x45cm tất nhiên ta có thể nuôi nhiều con chung 1 hồ với điều kiện kích thước hồ phải dày .Thay 20-25 % nước mới cho nước thay ra và nhiệt độ ,độ ph vẫn giống như trong hồ .Được chăm sóc chu đáo cá con sẽ lớn sau 2-3 tháng tuổi và đạt kích thước là 3-4cm , torng quá trình này nên quan sát thấy con nào yếu về thể chất ta nên tách riêng ra và chăm sóc riêng , nhiệt độ bể nên để ở 30 độ là tốt vì nhiệt độ này kích thích cá tăng trưởng hạng chế sự phát sinh bệnh tật , độ chiếu sáng 18 giờ /ngày , thức ăn phải giàu đạm hay thức ăn theo công thức , cho cá ăn tốt nhất al2 3 lần ngày , nhưng ta cũng có thể cho ăn 3-4 lần ngày.

Theo: carongvietnam.com

In mục này

  Cách nuôi cá dĩa bột nhanh lớn
Đăng bởi: kid.1412 - 04-16-2014, 11:44 AM - Diễn đàn: Cá Đĩa - Discus - Không có trả lời

Hiện nay nuôi cá dĩa sinh sản đã đơn giản hơn trước rất nhiều, tuy nhiên để đạt hiệu quả kinh tế cao thì lại rất ít người thành công. Để làm giàu từ việc nuôi nhân tạo cá dĩa đòi hỏi mỗi người cần có nhiều kinh nghiệm bản thân, nhiều bí quyết... Dưới đây là 1 vài kinh nghiệm để các bạn tham khảo áp dụng để nâng cao hiệu quả trong việc nuôi lai tạo dòng cá dĩa.

1. Cách thay nước
Những người nuôi cá dĩa chuyên nghiệp thường nuôi mật độ cao và thay nước với tần suất 2-3 lần/ngày, mỗi lần từ 50-100% nước hồ. Nhà lai tạo cá dĩa tiên phong Jack Wattley cho rằng cá dĩa tiết ra một loại hormon hạn chế tốc độ tăng trưởng của đồng loại. Nồng độ nitrate cao cũng làm cá dĩa tăng trưởng chậm. Chế độ thay nước này loại bỏ những chất trên một cách nhanh chóng để cá lớn nhanh hơn. Lưu ý rằng nước sạch trước khi thay cần được xử lý thích hợp (chẳng hạn clor, pH, gH; xử lý nước lại là một đề tài lớn khác).

2. Tách cá nhỏ nuôi riêng
Những con cá nhỏ thường không tranh ăn nổi với cá lớn. Chúng ta nên tách những con cá nhỏ trong bầy ra nuôi riêng để chúng phát triển tốt hơn.

[Hình ảnh: ca-dia-de-con_zps488f9a6e.jpg]

3. Sục khí
Trong một thí nghiệm về tác dụng của sục khí với cá dĩa. Bầy cá được tách nuôi trong hai hồ, một hồ dùng cục sủi và hồ kia dùng bộ lọc khí. Chế độ thức ăn là như nhau. Sau 6 tháng, cá bên hồ dùng cục sủi lớn gấp đôi hồ bên kia. Như vậy, sự trao đổi khí càng mạnh thì cá càng lớn mau.

Lưu ý rằng việc trao đổi khí diễn ra chủ yếu ở bề mặt hồ nên chúng ta cần bố trí cục sủi ở một độ sâu vừa phải sao cho xáo động trên mặt nước là mạnh nhất.

4. Tần suất cho ăn
Nhiều người nghĩ rằng nhồi cho cá ăn càng nhiều thì chúng càng lớn mau, điều này không đúng. Cá chỉ có thể hấp thu một lượng dinh dưỡng nhất định, phần còn lại chúng sẽ thải ra ngoài cơ thể. Do đó, cho cá ăn thật nhiều một lần không có tác dụng. Hãy cho cá ăn một lượng vừa phải nhưng trải ra làm nhiều lần trong ngày. Thông thường, người ta cho cá ăn 3-4 lần mỗi ngày: sáng, trưa, chiều và tối. Có người siêng hơn còn bật đèn cho cá ăn thêm bữa đêm!

5. Thành phần thức ăn
Chúng ta thường nghĩ rằng cá dĩa là loài ăn thịt thuần túy. Điều này không hoàn toàn đúng vì những nghiên cứu gần đây về thành phần thức ăn của cá dĩa hoang dã cho thấy chúng ăn rất nhiều thực vật (40% - 60%). Bởi vậy, người ta đã thử bổ sung rau vào thức ăn của cá dĩa và thấy tác dụng tốt. Phát hiện này ít ra cũng giúp giảm chi phí thức ăn.

Công thức: tim bò xay (loại bỏ sạch gân, mỡ), rau luộc xay (cải bó xôi, củ cải, cải bông, cà rốt), phụ gia (can-xi, vitamin, tỏi, tảo spirulina) và chất kết dính. Trong khi trùn chỉ giúp cá lớn mau thì tim bò giúp cá dày mình. Có thể kết hợp thức ăn với tần suất cho ăn và thay nước, chẳng hạn sáng cho ăn trùn chỉ, ăn xong thay nước 50%, trưa cho ăn tim bò, ăn xong thay nước 100%, tối cho ăn trùn chỉ hoặc thức ăn viên, ăn xong thay nước 50%.

6. Tăng độ cứng
Theo một số thông tin trên mạng thì cá dĩa phát triển tốt (nhanh và to hơn) trong điều kiện nước cứng. Độ cứng của nước nuôi cá dĩa nên từ 3 đến 15 dH (từ mềm đến hơi cứng), cá dĩa vẫn có thể thích nghi với nước cứng hơn nhưng chúng sẽ bị stress. Cần tăng độ cứng lên từ từ để cá dĩa quen dần. Chất tăng độ cứng (không ảnh hưởng đến pH) mà mọi người thường dùng là clorua can-xi CaCl2.

Thông số nuôi cá dĩa mà trại Stendker (Đức) khuyên dùng:
Độ cứng gH 15
Độ kiềm kH 8
Độ pH 7
Độ dẫn (conductivity) 800 μSiemens
Nhiệt độ 30 độ C



Theo : Thiên Đường Cá Cảnh

In mục này

  Những loại thức ăn của cá dĩa hoang dã
Đăng bởi: kid.1412 - 04-16-2014, 11:41 AM - Diễn đàn: Cá Đĩa - Discus - Không có trả lời

Hồi còn nhỏ, con trai tôi có một cái bàn nhỏ đặt cạnh hồ cá. Nó bỏ hàng giờ để vẽ, viết và làm bài tập về nhà trên cái bàn này. Cá cũng quen với sự hiện diện của nó và nhiều lần tôi phải nhắc nhở đừng cho cá ăn đủ thứ từ vụn bánh mì cho đến mì spaghetti. Phản ứng của con trai tôi là “Chúng trông rất đói bụng. Nhìn kìa, chúng nhao nhao khi con đang ăn”. Cho dù tôi có nhắc bao nhiêu lần rằng “Không được tự tiện cho cá ăn” thì lời nói cũng chẳng bao giờ lọt vào tai nó. Thức ăn nó bỏ vào không bao giờ được tiêu thụ và tôi đều phải vớt ra – ngoại trừ một lần.



[Hình ảnh: 174-10.jpeg]

Loại trái lạ
Khoảng hai năm trước, tiệm cá địa phương có nhập về một số cá dĩa xanh dương (Symphysodon aequifasciata haraldi) rất đẹp. Sự hấp dẫn quá lớn khiến tôi không thể cưỡng nổi và mua bốn con. Giống như mọi người, tôi không có sẵn chỗ để nuôi chúng. Việc này đòi hỏi phải dời cá lòng vòng. Hồ được chọn nuôi là cái gần bàn học của con tôi. Nó đang chứa 6 con cá dĩa bồ câu cỡ trung bình mà sau đó được dời ra hồ bên ngoài. Cá dĩa xanh dương được thả riêng vào hồ này. Ban đầu chúng rất nhát nhưng sau vài ngày đã quen với hoạt động của con trai tôi.

Ba tuần sau, tôi tình cờ nói chuyện với hàng xóm, người có một hàng cây cherry acerola/cherry Mỹ (Malpighia glabra) còn gọi là cherry Barbados hay bách nhật hồng (crapemyrtle) hoang dã, trồng ở trước sân nhà. Loại cây nhỏ hay cây bụi thuộc họ Malpighiaceae này phân bố ở West Indies và phía bắc Nam Mỹ, cao đến 3 mét với tán lá rậm rạm và gai nhọn. Lá cây luôn xanh và có hình dạng từ bầu cho đến nhọn.



[Hình ảnh: 174-01.jpg]



Trái có màu đỏ tươi, đường kính 1 cm và chứa từ hai đến 3 hạt cứng. Trái cây có vị ngọt và thơm, rất giàu vitamin C và những dưỡng chất khác. Cũng được gọi là cherry nhưng loài này không có họ hàng gì với loài cherry chính hiệu, tức cây mận (Prunus). Một số người cực kỳ thích các loại cherry nhưng tôi lại không thích vị của chúng. Con trai tôi cũng là một trong số những người thích chúng.

Trong khi tôi đang nói chuyện với người hàng xóm thì con trai tôi chạy qua và hái đầy một túi cherry đỏ tươi. Theo lịch thì hôm sau là ngày thay nước cho cái hồ ở cạnh bàn học. Tôi thấy nhiều hạt cherry trong hồ. Tôi liền gọi con trai và nhắc nó đừng thả hạt vào hồ. Nó khẳng định rằng cá ăn trái cây. Tôi không tin nhưng rồi nhận được hai bài học quan trọng: 1) tôi phải lắng nghe, thậm chí là lời nói từ một đứa bé và 2) đúng là cá dĩa ăn trái cây.

Con trai đi theo tôi sang phòng khác, lấy vài trái cherry Mỹ và nhân lúc tôi không để ý, thả chúng vào hồ. Ngay lập tức cá nhao lại và khi tôi quay vào thì chúng bắt đầu ăn trái cây trong khi con trai tôi hét lên “Thấy chưa, con đã nói mà”.
Khẩu phần khác thường
Những con cá này từng từ chối mọi loại thức ăn ngoại trù trùn đen (blackworm). Hành vi này là bất thường. Thường thì cá dĩa hoang được cách ly vài tuần để được làm quen với thức ăn chế biến. Tuy nhiên, cách mà chúng ăn cherry Mỹ cho thấy rằng chúng quen thuộc với loại trái cây này. Tôi phải tìm hiểu xem sao. Tôi bước qua phòng bên, lấy một nắm trái cây và thả vào hồ nuôi cá dĩa bồ câu, cá dĩa bông và cá dĩa vàng.

Lũ cá nhìn lướt qua trái cây và rồi bơi lên mặt nước chờ được cho ăn những thứ quen thuộc với chúng. Tôi đành bỏ cuộc, với cảm giác rằng việc cá dĩa hoang ăn trái cây chỉ là sự tình cờ.

Vài chục năm trước, ở Brazil tôi đã nghe nói rằng cá dĩa ăn tảo và Wil Crampton, nhà nghiên cứu môi trường tự nhiên của cá dĩa, viết thư cho tôi rằng cá dĩa ăn nhiều tảo, đặc biệt là vào mùa khô (2005). Hiện tại, tôi đã tin rằng cá dĩa phần nào ăn thực vật vào mùa khô. Nhưng còn trái cây?

Điều này thực khó để chấp nhận mặc dù tôi từng thấy cá pacu ăn trái cây rụng trên mặt nước. Mọi người đều biết cá pacu là loài ăn thực vật và trái cây, nhưng cá dĩa được coi là loài ăn thịt thuần túy, chúng ăn côn trùng, giáp xác và cá nhỏ ngoài tự nhiên. Trong hồ cảnh, khẩu phần của chúng bao gồm tim bò, trùn đỏ và thậm chí cả cá mồi.

Sự cố với trái cherry Mỹ hoàn toàn bị quên lãng cho đến khi tôi đọc quyển sách mới phát hành của Heiko Bleher, Bleher’ s Discus, Volume 1 (nhà xuất bản Aquapress ở Ý). Trong sách này, Bleher gọi trái cherry Mỹ là cerejado-Cametá, cùng với những loại trái khác. Ông viết “cá dĩa nâu ăn trái cây”. Phát biểu đơn giản này giải thích hành vi của những con cá dĩa của tôi.

Theo : carongvietnam.com

In mục này

  Hướng dẫn cách nuôi cá dĩa sinh sản
Đăng bởi: kid.1412 - 04-16-2014, 11:40 AM - Diễn đàn: Cá Đĩa - Discus - Không có trả lời

Kỹ thuật nuôi cá dĩa sinh sản là chủ để luôn được nhiều thành viên mới bắt đầu tham gia chơi cá dĩa và có ý định chinh phục cái thú ép cá dĩa sinh sản này. Hôm nay Lân sẽ chia sẻ 1 số kinh nghiệm nuôi và chăm sóc cá dĩa sinh sản toàn tập. Hi vọng sẽ giúp các bạn có thêm kinh nghiệm.

1. Chuẩn bị hồ và các thiết bị nuôi cá dĩa sinh sản
- Hồ nuôi cá dĩa sinh sản khoảng 60x40x40 (dài 60cm, cao 50cm, rộng 40cm) có thể chênh lệch 1 tí, tuy nhiên đừng quá rộng. Trong bể không nên trang trí bất cứ vật trang trí nào hết. Không nhất thiết phải dán phong nền kín các mặt bể, cứ để tự nhiên cho cá dạn dĩ

- Trong hồ cần đặt 1 giá thể cho cá dĩa sinh sản dạng hình trụ, các giá thể này có bán ở ngoài tiệm cá cảnh giá khoảng 20 - 25k. Nếu không kiếm ra được, các bạn có thể đặt tấm gạch ngói dựa vào thành hồ theo chiều nghiêng 45 độ

- Sắm 1 cây sưởi nhiệt độ, đặc biệt là khu vực miền bắc cần sử dụng rất nhiều vì thời tiết lạnh. Nhiệt độ thích hợp cho cá dĩa sinh sản khoảng 26 - 30 độ C

- Sắm cái lọc vi sinh vì giai đoạn cá con mới nở ra dùng lọc vi sinh sẽ tốt hơn, nước ít bị động mạnh, Thậm chí không cần sử dụng lọc vi sinh mà chỉ cần máy sủi oxi có tác dụng tốt hơn nhiều so với lọc vi sinh

- 1 bóng đèn ớt, bật 24/24h để cá dĩa cha mẹ thấy đường chăm sóc trứng cũng như cá dĩa con thấy đường mà bám vào thân cá cha mẹ

- PH hồ cá dĩa sinh sản tốt khoảng 5,5 - 6.5


2. Cặp cá dĩa bắt đầu sinh sản
- Khi cặp cá sắp sinh sản, chúng sẽ thay phiên nhau rỉa sạch giá thể, và bộ phận sinh dục của cá mái bắt đầu lồi ra to hẳn hơn so với bình thường, còn bộ phận sinh dục cá trống cũng hiện rõ hơn nhưng không to và rõ như cá mái

- Cá mái bắt đầu lướt trên giá thể và đẻ trứng, cá trống theo sau tưới tinh lên trứng, quá trình như thế kéo dài khoảng 15 phút đến 45 phút, thường thì 20 phút là hoàn thành rồi. Lúc cá đẻ trứng ta nên tắt máy lọc chỉ để sủi oxi nhẹ thôi, hoặc thậm chí tắt hẳn luôn oxi, để cho trứng được thụ tinh dễ dàng.
[Hình ảnh: hinh-anh-ca-dia-de-trung.jpg]
[Hình ảnh: hinh-anh-ca-dia-de-trung--3.jpg]


- Số lượng trứng đẻ ra hoảng 200 đến 500 trứng, tùy thuộc vào độ tuổi của cá dĩa mái
[Hình ảnh: hinh-anh-ca-dia-de-trung--7.jpg]

- Sau khi đẻ trứng xong thì cá trống mái sẽ thay phiên nhau quạt trứng. Sau 48h trứng những trứng chuyển sang màu trắng đục là trứng hư, cá dĩa cha mẹ có thể ăn trong ngày hôm đó, hoặc ngày sau. Các trứng còn lại sẽ có màu đỏ sậm hơn, đến ngày thứ 3 sẽ thấy có đốm đen trên quả trứng, khoảng ngày thứ 4 là thấy cá con đã ngọa nguậy
[Hình ảnh: hinh-anh-ca-dia-de-trung--5.jpg]
[Hình ảnh: hinh-anh-ca-dia-de-trung--9.jpg]
[Hình ảnh: hinh-anh-ca-dia-de-trung--8.jpg]

- Lúc này cá cha mẹ sẽ dùng miệng thổi vào cá con để cung cấp oxi
[Hình ảnh: hinh-anh-ca-dia-de-trung--11.jpg]
[Hình ảnh: hinh-anh-ca-dia-de-trung--12.jpg]


- Cá con bám vào giá thể vài ngày sau đó chúng tách ra khỏi giá thể và bám lên cơ thể cá cha mẹ để ăn chất nhờn trên cơ thể cá cha mẹ. Trong giai đoạn này ta vẫn cho cá cha mẹ ăn bình thường để cá cha mẹ có sức tiết chất nhờn nuôi con. Nếu những con cá con nào không bám, hoặc ít bám vào thân mình cá cha mẹ thì chúng sẽ chết dần


- Từ lúc cá con bám lên cơ thể cá cha mẹ 1 tuần đến 20 ngày ta có thể tách chúng ra nuôi riêng, dùng ống nhựa xi phong có đường kính lớn để hút cá con sang bể khác.

- Giai đoạn này ta có thể cho cá con ăn bobo, thức ăn bột atermia... Cho ăn ngày 3 - 4 lần/ngày và thay nước khoảng 2 lần/ngày. Thay50 đến 90% nước

- Sau khoảng 20 ngày là có thể cho ăn trùng chỉ

Lưu ý:
- Từ lúc cá đẻ trứng cho đến lúc tách cá con ra riêng cần để đèn 24/24h, tức là luôn cung cấp đủ ánh sáng cho hồ cá.
- Lúc cá chăm sóc trứng thì cho cá cha mẹ ăn ít lại để tránh bẩn nước, và cấm thay nước lúc cá cha mẹ đang chăm sóc trứng
- Sau khi tách cá con ra riêng thì cá cha mẹ vài ngay sau đó sẽ tiếp tục sinh sản, nhanh thì 3 ngày, chậm thì 1 tháng




Theo: Thiên Đường Cá Cảnh

In mục này

  Bí quyết nuôi cá đĩa đẻ - Ấp trứng và nuôi cá con.
Đăng bởi: kid.1412 - 04-16-2014, 11:37 AM - Diễn đàn: Cá Đĩa - Discus - Không có trả lời

GHT chép từ sách kỹ thuật nuôi cá kiểng của tác giả Trần Văn Bảo.
Tài liệu này lưu hành nội bộ Hội cá đĩa Hà nội, không sao chép với bất cứ hình thức nào khi chưa có ý kiến của Hội trưởng Hội cá đĩa Hà nội.

Cá của Chị cá - Hội viên Hội cá đĩa Hà nội

Chỉ vài năm trước, việc cho cá đĩa đẻ còn là công việc và là bí quyết của một số không nhiều các nhà chuyên môn tầm cỡ. Ngay cả với các nghệ nhân cá cảnh, dùng kinh nghiệm cho sinh sản nhiều cá, cũng không dễ gì với cá đĩa, chưa mấy khi đạt thành quả mỹ mãn. Kết quả thường hạn chế và rất không ổn định.
Nay nhờ có nhiều tài liệu được công bố trong tạp chí hoặc các cuộc Hội thảo chuyên ngành ở nhiều quốc gia hoặc có tính quốc tế.
Chính vì vậy nên đã có một sự thực khó tin là: đã có không ít những người “ngoài ngành” – các nhà chơi cá nghiệp dư mới vào cuộc mà “đã thắng ngay trận đầu”! có thể nói hầu như không có thất bại. Đó chẳng phải bí quyết hay sao?
Dưới đây là một trong những tài liệu được công bố trong một chuyên san về cá đĩa mới nhất (brand new). Điều quan trọng là tính khả thi của kinh nghiệm đã được đúc kết thành phương pháp cơ bản này lại từ một nước nằm trong vùng mà điều kiện thời tiết và khí hậu không khác Việt Nam ta quá nhiều.

I./ Chọn cá giống
Muốn có một cặp cá đẻ tốt, trước hết phải nuôi được cá trưởng thành tốt và thật tốt. Nhiều người do mua cá trưởng thành về cho đẻ, do không nắm chắc được “lai lịch” và đặc tính nên không có cách gì ứng phó kịp thời và hữu hiệu với các khuyết tật khi cá đã bộc lộ, những sự cố đã phát sinh. Cho nên chỉ mua cá con về nuôi đến trưởng thành là tốt nhất. Cơ hội thành công cao nhất, và có thể nói không quá rằng đây là bí quyết hàng đầu.
Xét về mặt khác: vốn đầu tư, 1 cặp cá trưởng thành có giá bằng 1 số lượng lớn cá con.
Mà với cá con, thì có thể áp dụng phương pháp nuôi phổ thông là được. 1 đến 3 ngày thay nước 1 lần, dùng thức ăn chế biến là chính, có tăng thêm lượng thức ăn sống như trùng đỏ và thức ăn khô. Cách nuôi dưỡng hết sức đơn giản – nuôi cá nhỏ như vậy không những có thể thường xuyên quan sát mọi biến hoá về thể sắc mà còn có thể bồi dưỡng, luyện tập cho chúng trở thành cá lớn, khoẻ mạnh. Điều này sẽ tạo tiền đề cho nuôi cá đẻ thành công.
Cá con từ 6 – 7 cm thì chỉ cần 3 - 5 tháng sau đã trưởng thành nên phát dục, chúng bắt đầu tự động cặp đôi. Trước khi chúng đạt size10cm ta cần tăng thêm lượng thức ăn và thường xuyên thay nước.
Trong giai đoạn này cần phải luyện tập cho chúng tiếp xúc thường xuyên với người và tiếng ồn, cho chúng nhận biết được con người chăm sóc chúng và làm những diều tốt chứ không bao giờ hại chúng. Nếu không như vậy khi chúng đẻ trứng, chỉ cần 1 kích động nhỏ, làm chúng hoảng sợ là chúng sẽ ăn hết trứng, có khi do tiếng động, tiếng ồn cũng vậy, không sao bảo vệ được trứng và cá con.
Chỉ cần cho chúng dạn người, cho ăn tốt và thay nước đều sẽ không có vấn đề gì.
Vậy có thể nói bí quyết thứ 2 là luyện tập!
II/. Ghép đôi
Muốn cho chúng ghép đôi, cần lựa chọn 5 – 10 con size12 cm trở lên, cho vào bể từ 0,6 – 1,2m dài. Trong môi trường mới này chúng sẽ bám nhau và dần bắt cặp thành đôi. Đến lúc này cần đặt các góc bể 1 số vật liệu chuyên dùng cho cá đẻ trứng trên đó, nếu không có gì chúng sẽ đẻ lên thành bể, các đường ống nước, tất nhiên chúng vẫn dẻ nhưng không mấy thuận tiện và dễ dàng như trên giá thể, vậy cần cung cấp cho chúng vật dụng không mấy khó khăn này.
Trong bể, thường thì chú đực nào mạnh nhất sẽ có thế lực và chúng được chọn làm cá bố. Con này sẽ bảo vệ cái nôi đẻ trứng của cá mẹ và săn đuổi hết những con đực khác mon men đến gần tổ. Cũng có khi chúng tấn công cả các con cá cái, khi bị tình trạng như vậy chúng ta nên giảm thay nước về cả tần suất và số lượng nước thay, chỉ thay nước khi nước bị ô nhiễm nặng.
Thay nước 3-4 ngày/ 1 lần và chỉ thay ¼ - 1/3 lượng nước có trong bể. Riêng việc giảm thay nước độ Ph sẽ giảm và kích thích cho cá đẻ trứng. Cho đến lúc này cá bố, mẹ luôn gần tổ ấm của chúng.
Việc phân biệt cá đực, cá mái với loài cá đĩa này thực sự khó khăn. Mặc dầu vậy các chỉ dẫn cụ thể hình vẽ dưới đây sẽ giúp các bạn có thể nhận biết được hoặc ít ra biết dược cách phân loại. Tất nhiên công việc không chỉ là lý thuyết, có một số cá đĩa Xanh lục cá cái lại đẹp hơn cá đực về cả màu sắc lẫn hình thể. Cho nên cũng cần quan sát thêm ít ngày: Nếu chúng đích thực là 1 đôi bạn tình thì chúng sẽ có cử chỉ đeo bám nhau. Đến lúc này chúng ta có thể vớt cá ra bể riêng để cho đẻ.

Hình minh họa (trái đực - phải là cá mái)
Trong bể nuôi cũ, khi cặp thứ nhất được đưa đi rồi thì sẽ xuất hiện cặp thứ 2, thứ 3....
1. Bể chuyên dùng cho cá đẻ
Khi đã có được 1 cặp đực cái cỡ 14 - 15cm. Tốt nhất nên dùng bể cỡ 45x45x45cm hoặc 50x50x45 hoặc 60x45x45. Loại 70 - 90cm tuy vẫn dùng được nhưng việc thay nước, cho ăn... sau này khi trứng nở có phần nào bất tiện. Lý tưởng vẫn là bể 60cm.
2. Ghép đôi như thế nào?
Trước hết phải chọn giống cá nào đẹp (được ưa chuộng) trừ những con đã đẻ được và lứa đẻ tốt rồi còn không thể chọn 1 con đã 3 năm tuổi mới đạt 15cm. Loại cá già này rất khó tìm được đối tượng tương xứng để ghép đôi.
Tốt nhất là chọn trong đám đã được nuôi từ nhỏ, đã được theo dõi chặt chẽ (thường có sự đăng ký tình hình khá cụ thể về đặc tính hay cá tính, tốc độ phát triển của từng con) như vậy rất có lợi.
Bể nuôi cần lựa chọn 90x45x45cm. Tuy bể 60x45x45 rất tiện cho sinh sản nhưng lại không tiện cho việc ghép đôi, bể 60 lại là quá nhỏ.
Ban đầu chỉ nên thả vào bể 7-8 con. Nếu cá còn non phải chú ý. Mẹ quá trẻ dễ sợ và khi thay đổi môi trường có thể kém ăn. Vì vậy trước khi cho chúng ghép đôi phải cho chúng có thời gian thích ứng.

Quá 1 -2 tuần lễ, có những con vẫn hờ hững nằm riêng 1 góc nào đó hoặc lượn lờ gần mặt nước thì nên vớt chúng ra nơi khác, có khi còn 4-5 con hoặc 3 con trong bể chúng ta bắt đầu quan sát tỉ mỉ.
Lúc đầu mỗi con đều tỏ ra muốn gây sự công kích lẫn nhau, nhưng dần sẽ xuất hiện 1 con nào đó lại không gây sự với một con khác, mà còn dùng miệng đụng nhẹ vào con kia. Chưa thể kết luận ngay chúng có cảm tình với nhau chưa nhưng có thể phán đoán chúng đang muốn cặp đôi.
Cũng có khi có con không chịu gần gũi con khác, tỏ ra rất hung hăng, kiểu này cũng cần loại ra những con quá yếu đuối.
Việc ghép đôi thường trái ngược với việc nuôi dưỡng bình thường là phải căn cứ trạng thái sức khỏe mạnh yếu trong 1 bể để phân loại (trong khi để nuôi thì chỉ cần cùng cỡ).


Theo: carongvietnam.com

In mục này

  Nguyên tắc đánh giá cá dĩa
Đăng bởi: kid.1412 - 04-16-2014, 11:36 AM - Diễn đàn: Cá Đĩa - Discus - Không có trả lời

[Hình ảnh: show_duisburgchampion.jpg]
Cá hạng nhất lớp bồ câu (1st pigeon blood class) tại triển lãm cá dĩa Duisburg (Đức) năm 2008.

Nguyên tắc đánh giá
Hiện tại, chưa hề có một hệ thống phân loại, đánh giá và chấm điểm cá dĩa nào được công nhận và áp dụng trên bình diện quốc tế. Các câu lạc bộ địa phương, tổ chức hay đơn vị triển lãm ở mỗi vùng tự đề ra cách phân loại và tiêu chí chấm điểm của riêng mình.

Nhìn chung, có hai mục đánh giá chính là Tổng thể và Màu sắc & Hoa văn. Mỗi mục chính lại chia thành nhiều tiêu chí nhỏ với thang điểm riêng. Đa số các tổ chức đều có xu hướng coi trọng phần Tổng thể qua tổng điểm số cao hơn. Cách mà các trọng tài đánh giá cũng tương tự như cách mà người chơi lựa chọn cá dĩa đẹp nhưng được cụ thể hóa bằng điểm số. Các trọng tài có kinh nghiệm thường không cho điểm tối đa mà dành ra một hay hai điểm thưởng ở mỗi tiêu chí để ghi nhận những cá thể cực kỳ xuất sắc ở tiêu chí đó.

Điểm nữa cần nhấn mạnh rằng cá đoạt giải là con gần giống nhất với “cá dĩa hoàn hảo” trong số những con cùng dự thi. Cá dĩa hoàn hảo - lý tưởng - toàn mỹ là con cá tưởng tượng và cũng là mục tiêu để các nhà lai tạo và nuôi dưỡng phấn đấu. Vì vậy những con đoạt giải khi bị săm soi kỹ vẫn phát hiện ra chút lỗi là điều rất bình thường!

Tổng thể
Trình diễn – đây là tiêu chí cực kỳ quan trọng khi đánh giá một cá thể. Nó thể hiện điều kiện sức khỏe và sự dạn dĩ của cá thể đó. Cá dĩa có thể rất đẹp nhưng nếu nó nhút nhát và trốn vào một góc hồ thì cũng coi như không đạt. Điểm nữa là những con cá dĩa có lỗi, dị tật hay bệnh lý rõ ràng sẽ bị loại ngay từ vòng đầu cho dù màu sắc và hoa văn có đẹp đến đâu.

Kích thước – được tính từ chóp miệng cho đến gốc đuôi. Cá dự thi phải có kích thước trên 10 cm. Cá dưới 10 cm là cá non mà màu sắc và hoa văn vẫn chưa phát triển tối đa. Cá trên 16 cm được cho điểm tối đa.

Dạng thân – có hai dạng được chấp nhận là tròn và cao. Ngoại lệ đôi khi được dành cho cá dĩa hoang thân hơi dài. Thân phải đầy đặn, trơn láng và không được chấn thương hay sẹo. Lỗi phổ biến là tật vẹo cột sống thể hiện qua bướu ở giữa thân hay gốc đuôi.

Vây – vây theo cặp như vây ngực, vây bụng (kỳ) phải đối xứng và đồng màu. Các tia vây phải thẳng, không được gãy, cong vẹo hay tổn thương. Màng vây phải trong suốt, không được rách. Vây lưng và vây hậu môn phải có kích thước tương đương, các gai vây phải bắt đầu ở cùng một khoảng cách so với miệng ở viền trên và dưới của thân. Tật phổ biến là vây lưng hay vây hậu môn bị teo. Các gai vây phải liền lạc, tăng đều về kích thước để tạo ra đường cong trơn tru cân xứng với dáng tròn tổng thể của cá dĩa. Chúng không được cong vẹo hay ngả về một bên (dấu hiệu hậu chấn thương). Chóp vây lưng và vây hậu môn, nếu có, phải hơi cong và xuôi theo dáng vây. Phần gốc vây ngực và đuôi không được có màu bất thường như đỏ và xanh (dấu hiệu của việc kích màu quá mức). Viền các vây phải trơn tru. Nước hồ nuôi không thích hợp có thể khiến vây bị răng cưa. Quá trình vận chuyển khó khăn cũng có thể khiến vây bị răng cưa và rách. Một số ban tổ chức triển lãm yêu cầu các trọng tài châm chước cho lỗi nhẹ này.

Đầu/mang – phải trơn tru, liền lạc từ miệng cho đến gai vây lưng đầu tiên. Đầu không được có gù, bướu hay lõm. Không được có vết trầy xước hay lở loét, nhất là ở vùng xung quanh mắt và đường bên. Nắp mang phải bằng phẳng, khép và phủ kín phần lá mang bên trong. Mang không được cong hay vênh. Lá mang không được lòi ra ngoài. Môi phải đều, không được móm hay hô. Miệng không được lệch khi nhìn từ phía chính diện.

Mắt – phải tròn, nhãn cầu trong suốt, màu tròng mắt phải đỏ và đồng nhất. Hai mắt phải tương đương về kích thước và vị trí, và phù hợp với kích thước và độ tuổi của cá. Mắt phải khép sát và không được lồi. Không được có can chạy qua mắt. Tròng mắt đỏ bầm hay có màu khác sẽ bị chấm điểm thấp.

[Hình ảnh: show_judgingform.jpg]
Mẫu đánh giá cá dĩa.

Download tại đây: mẫu đánh giá

Màu sắc & Hoa văn
Phần này đánh giá các đặc điểm đặc thù của từng dòng cá dĩa. Một số triển lãm xây dựng mẫu đánh giá riêng cho từng lớp dự thi. Dù gộp chung hay tách riêng, phần này thường bao gồm 4 tiêu chí - Hoa văn thân, Hoa văn đầu/vây, Màu của hoa văn thân và Màu nền. Để đánh giá, các trọng tài phải am hiểu về đặc điểm của các dòng và lớp dự thi bởi vì đặc điểm cần thiết ở lớp này có thể là lỗi ở lớp kia. Chẳng hạn, chỉ trên vây lưng và vây hậu môn là đặc điểm phải có ở lớp chỉ nhưng là lỗi ở lớp đơn sắc.

Hoa văn thân – chỉ, hoa văn và đốm phải rõ ràng, kích thước và phân bố đều đặn. Các vùng bụng, giữa thân và gốc đuôi được lưu ý đặc biệt. Đấy là những vùng mà mức độ đồng nhất của hoa văn rất khó đạt. Với cá đơn sắc, mức độ đồng nhất và cường độ màu là điều quan trọng nhất. Màu thân phải đồng nhất mà không được có gợn hay vệt chỉ.

Hoa văn đầu/vây – đầu, vây lưng và vây hậu môn phải đều, đồng nhất và hài hòa với thân. Ở một số dòng, rất khó đạt được sự hài hòa giữa các vùng này với thân; trong khi ở những dòng khác, chẳng hạn như beo, mục đích này có thể đạt được. Ở cá đơn sắc, vùng đầu và vây nên có màu đơn sắc và càng ít chỉ càng tốt.

Màu của hoa văn thân – chỉ, hoa văn, vệt trên thân phải có màu ánh kim đậm và đốm đỏ. Với cá đơn sắc, toàn thân phải có màu đậm và đồng nhất. Đây là lãnh vực mà sự am hiểu của trọng tài về các dòng cá đóng một vai trò quan trọng. Chẳng hạn, màu đồng nhất ở cá đỏ và vàng khó đạt hơn nhiều so với cá xanh, và những con đạt đến mức độ tương đương với cá xanh nên được thưởng thêm điểm.

Màu nền – đối với các lớp chỉ, hoa văn và đốm, màu nền phải đều và làm nổi bật màu của chỉ và đốm.

[Hình ảnh: show_discusprague2009.jpg]
Gian trưng bày cá dĩa ở triển lãm cá cảnh Praha (Czech) - năm 2009.

Quy trình đánh giá
Quy trình đánh giá trong một triển lãm cá dĩa nhìn chung bao gồm 4 bước. Bước đầu tiên và quan trọng nhất là thảo luận giữa ban tổ chức và các trọng tài về quy tắc đánh giá cũng như các vấn đề đặc thù của triển lãm. Mọi người sẽ thảo luận cách xử lý những con cá dĩa tham dự nhầm lớp cũng như các sự cố khác khiến cá bị loại. Ở một số triển lãm, cá bị thương hay dị tật nghiêm trọng sẽ bị loại ngay từ đầu. Một chủ đề cũng thường được đề cập là làm thế nào để đánh giá cá dĩa hoang hay cá dĩa lai. Chẳng hạn có nên đặc biệt châm chước cho con cá dĩa hoang có vây không đạt? Có nên đánh giá cá lai theo tiêu chí của dòng cá hoang mà nó phát xuất?

Bước thứ hai là chấm điểm cá dự thi qua mẫu đánh giá do ban tổ chức cung cấp. Với những triển lãm lớn bao gồm hàng trăm ứng viên, các trọng tài không thể đánh giá chi tiết từng ứng viên. Cần phải có vòng sơ loại. Các trọng tài được yêu cầu chọn ra từ 6 đến 8 ứng viên từ mỗi lớp trong khi những ứng viên còn lại không được quan tâm nữa. Đây là thời điểm mà một lỗi dù nhỏ nhưng dễ nhận thấy có thể khiến cá bị loại khỏi vòng sau. Các trọng tài thường nhanh chóng loại chúng. Một khi các trọng tài quyết định xong, danh sách cá lọt vào vòng sau được tổng kết cho mỗi lớp. Quá trình chấm điểm dài và căng thẳng cho từng con cá vào vòng sau bắt đầu.

Bước kế tiếp, thu thập mẫu đánh giá của các trọng tài và tính tổng số điểm cho từng ứng viên. Điểm số sẽ xác định các vị trí nhất, nhì và ba ở từng lớp. Trưởng ban trọng tài so sánh thang điểm của từng trọng tài. Hy vọng rằng các trọng tài đánh giá tương tự như nhau với đôi chút khác biệt nhỏ. Trường hợp có bất đồng giữa các trọng tài về một ứng viên nhất định, hoặc hai ứng viên có cùng điểm số, các trọng tài sẽ được yêu cầu đánh giá lại lần nữa. Quy trình tương tự được áp dụng cho từng lớp trong triển lãm.

Bước thứ tư và sau cùng là chọn ra cá vô địch (Grand Champion). Các trọng tài được yêu cầu kiểm tra lại đánh giá của mình về cá hạng nhất ở mỗi bảng và chọn ra cá vô địch. Việc bầu chọn danh hiệu này được tiến hành một cách độc lập nhưng thường kéo theo những tranh cãi dữ dội giữa các trọng tài trước khi danh hiệu được thông qua và công bố.

[Hình ảnh: show_barcelona2007.jpg]
Ban trọng tài tại triển lãm cá dĩa Barcelona (Tây Ban Nha) - năm 2007. Thảo luận điều lệ và chấm điểm.

Chuẩn bị cá dự thi
Với hầu hết người chơi cá dĩa, nắm vững cách đánh giá cá dĩa sẽ gia tăng mức độ thú vị về thú chơi. Nói cách khác, có những người yêu thích việc tham dự vào các triển lãm cá dĩa. Nếu bạn là một người trong số đó, bạn cần chuẩn bị một số thứ để gia tăng khả năng đoạt giải.

Nếu bạn chưa từng đem cá dự thi bao giờ thì tốt nhất nên tham quan vài triển lãm trước khi tham gia. Liên hệ với cộng đồng cá dĩa địa phương để tìm hiểu thông tin về các triển lãm gần nhất. Khi viếng thăm họ, bạn có thể thu thập thông tin và xin lời khuyên.

Sau khi tìm hiểu, nếu bạn vẫn muốn tham dự triển lãm thì hãy yêu cầu ban tổ chức cung cấp bản điều lệ triển lãm và mẫu đánh giá. Điều lệ triển lãm phải giải thích rõ số lượng lớp dự thi và nguyên tắc đánh giá. Nghiên cứu điều lệ kỹ càng để quyết định lớp mà bạn tham gia dự thi và nắm vững những điều kiện bị loại. Liên hệ ban tổ chức để tìm hiểu điều kiện môi trường tại triển lãm. Nếu bạn luyện cá dĩa của mình quen với môi trường tương tự tại triển lãm thì cá của bạn sẽ thể hiện được phong độ tốt nhất tại triển lãm. Bạn cần tìm hiểu độ cao của kệ đặt hồ, kích thước hồ, nắp đậy, tấm phản chiếu, màu của phông nền và đáy hồ và quan trọng nhất là các thông số nước như độ pH và độ cứng.

Nhiều tuần trước triển lãm, cách ly cá dĩa dự thi của bạn trong hồ riêng với điều kiện môi trường càng giống với triển lãm càng tốt. Bốn thông số quan trọng nhất cần giả lập là nhiệt độ, độ pH, độ cứng và chiếu sáng. Nếu điều kiện môi trường tại triển lãm quá khác biệt với điều kiện ở nhà bạn thì cá của bạn sẽ không thể hiện được phong độ tối đa. Nếu có thể, bạn nên chuẩn bị một ứng viên dự phòng trong trường hợp có sự cố bất ngờ khiến bạn không thể đem ứng viên dự kiến tham dự triển lãm. Cho cá nhịn ăn một ngày trước khi vận chuyển đến triển lãm.

Các triển lãm cá dĩa thường cho phép thả cá vào hồ từ 24 đến 48 giờ trước khi chấm điểm. Gắng sắp xếp thả cá càng sớm càng tốt để cá có thời gian làm quen hồ. Khi vận chuyển, châm nước bịch đựng cá vừa đủ trên phần vây lưng. Sử dụng vợt to, nông và lưới mịn để bắt và chuyển cá vào bịch đựng. Vợt không phù hợp có thể làm tổn thương vây lưng và vây hậu môn. Sau cùng, lồng ba lớp bịch đựng với nhau rồi bơm ô-xy đủ cho cá thở trong thời gian vận chuyển. Bởi vì cá tham dự triển lãm quá giá trị và thường là độc nhất, để chắc ăn bạn nên nhờ tiệm cá địa phương đóng gói dùm.

Đến nơi triển lãm, cẩn trọng chuyển cá vào hồ được chỉ định. Kiểm tra nhiệt độ, sục khí và độ pH của hồ trưng bày để đảm bảo chúng thích hợp cho cá của bạn. Đảm bảo rằng nắp hồ được đậy kỹ và mặt kiếng trước không bị dơ.

Bạn đã làm tất cả để chuẩn bị cho việc tham dự triển lãm. Còn bây giờ, quyền quyết định nằm trong tay các trọng tài.

[Hình ảnh: show_aquafair2008.jpg]
Gian triển lãm cá dĩa ở Aquafair 2008 (Malaysia). Ở trên là con cá beo khoen với danh hiệu vô địch. Trong vòng 6 năm gần đây, cá dĩa beo và hoa văn đoạt hầu hết các giải vô địch (grand champion/best of show) trong các cuộc triển lãm cá dĩa trên toàn thế giới.

Thảo luận chung
Đánh giá sao cho chính xác là một nhiệm vụ rất khó khăn, các trọng tài đôi khi vẫn mắc sai sót. Tuy nhiên, quyết định của trọng tài cần được tôn trọng và hầu như là quyết định cuối cùng trừ phi ban trọng tài hay trưởng ban trọng tài chỉnh sửa lại kết quả (điều rất khó xảy ra trên thực tế). Do vậy, mỗi trọng tài nên chuẩn bị để giải thích kết quả chấm điểm của mình, đấy là lý do tại sao việc ghi chú và đánh dấu vào mẫu đánh giá sẽ giúp ích cho cả ứng viên lẫn trọng tài. Các trọng tài cũng cần chuẩn bị những dụng cụ cần thiết cho công tác chấm điểm bao gồm tài liệu, đèn pin, que và kiếng lúp. Với những dòng cá không quen thuộc, trọng tài nên tham khảo tài liệu và xin lời khuyên từ các trọng tài khác hoặc trưởng ban trọng tài.

Trọng tài cũng là con người và có quan điểm riêng. Có trọng tài không chuộng “đầu gù” ở cá dĩa và loại những con có đặc điểm như vậy, mặc dù điều lệ chấm giải không ưu tiên cũng như hạn chế đặc điểm này một khi nó không ảnh hưởng đến dáng tròn tổng thể của cá. Hy vọng điều tương tự không xảy ra một cách thường xuyên ở các triển lãm cá dĩa, trọng tài phải khách quan, bám sát điều lệ chấm giải và không nên để “quan điểm riêng” của mình ảnh hưởng đến công tác đánh giá.

Mức độ “hiếm – khó – xuất sắc” tuy không phải là một trong những yếu tố đánh giá nhưng một trọng tài kinh nghiệm nên cân nhắc đến những ngoại lệ bằng cách dành ra một hay hai điểm thưởng ở mỗi tiêu chí chấm điểm. Chẳng hạn theo cách này, nếu thang điểm chấm kích thước là 10 thì những con có kích thước 16 cm được coi là “đạt” và chấm 8 điểm. Những con đặc biệt to từ 18-20 cm sẽ được “thưởng” thêm 2 điểm và chấm tối đa 10 điểm.

Ban tổ chức cần phối hợp với ban trọng tài để xây dựng, cập nhật và công bố điều lệ chấm giải. Việc phổ biến điều lệ chấm giải sẽ giúp định hướng thẩm mỹ cũng như nâng cao năng lực đánh giá cho mọi người. Điều lệ càng cụ thể, chi tiết thì công tác đánh giá càng bớt phần cảm tính. Để xây dựng điều lệ, ban tổ chức cần phối hợp với các câu lạc bộ cũng như người chơi nhằm tổng hợp các lỗi thông thường ở cá dĩa, phân tích và thiết lập các cấp độ lỗi, điểm trừ ở từng cấp độ cũng như mức gia giảm cho phép của trọng tài. Điều lệ chi tiết có thể khiến các trọng tài và người dự thi phải mất thời gian tìm hiểu nhưng suy cho cùng đó là điều cần thiết và thể hiện đúng sự đa dạng và tinh tế của thú chơi (tham khảo hệ thống tiêu chuẩn đánh giá cá betta: Sổ Tay Triển Lãm).

Sau cùng, mọi người nên hiểu rằng cá đoạt giải là con đẹp nhất trong số những con dự thi nên sẽ rất bình thường nếu bạn thấy nó có lỗi hoặc chưa phải là con cá xuất sắc theo ý mình (những con khác còn kém hơn nữa!). Đối với các lớp triển lãm nhỏ, số lượng cá tham dự ít hoặc kém chất lượng thì ban tổ chức có thể cân nhắc trao ít giải thưởng hơn so với thường lệ. Sẽ không ý nghĩa gì khi tặng giải cho con cá mà chất lượng quá kém. Dĩ nhiên, nếu hạng mục có điểm số trên trung bình, tức khoảng từ 65 đến 70, thì giải thưởng sẽ được trao.

Hy vọng rằng bài viết này sẽ giúp bạn có cái nhìn xuyên suốt vào thế giới triển lãm và đánh giá cá dĩa; và quan trọng hơn cả, bạn có thể hỗ trợ ban tổ chức bằng những đóng góp có tính xây dựng.

Theo: carongvietnam.com

In mục này

  Tuyển chọn cá dĩa dự thi
Đăng bởi: kid.1412 - 04-16-2014, 11:34 AM - Diễn đàn: Cá Đĩa - Discus - Trả lời (1)

Bạn có thể săn lùng cá đẹp để đem dự thi nhưng giả sử có thành công thì mức độ thỏa mãn và tự hào sẽ không nhiều vì đó là cá do người khác lai tạo. Trên thực tế, công tác tuyển chọn cá dĩa tham dự triển lãm không đơn giản chỉ là việc “lựa cá” mà là một quy trình bao gồm nhiều công đoạn khắt khe nhằm tìm kiếm những con cá hoàn hảo và có khả năng đoạt giải.

Lựa cá
Về cơ bản, cách lựa cá dĩa dự thi cũng tương tự như cách lựa cá dĩa đẹp nhưng khắt khe hơn. Dưới đây là một số tiêu chí:

1) 9 gai vây lưng và vây hậu môn phải thẳng hàng với các vây nếu quan sát từ chính diện. Các gai phải đều và liền lạc, không được hở hoặc nhấp nhô.
[Hình ảnh: selection_spine.jpg]

2) Dạng thân phải tròn, không được dài. Thân cao được ưa chuộng hơn.

3) Đầu phải thẳng hay hơi cong (nhưng không được quá cong) và không được lồi lõm hay nhô ra như mỏ két.
[Hình ảnh: selection_head3.jpg]
[Hình ảnh: selection_head4.jpg]

4) Nắp mang phải đầy đặn, liền lạc và không được lòi khe mang.
[Hình ảnh: selection_gill2.jpg]

5) Miệng không được lệch, méo. Môi trên và môi dưới có kích thước tương đương và không được nhô ra như mỏ két.

6) Hai mắt phải đều nhau về kích thước và hình dạng, nhãn cầu trong suốt, không được kéo màng. Tròng mắt màu đỏ tươi toàn phần (full) được điểm tối đa, đỏ bầm hay đỏ một phần (semi) điểm thấp hơn (những con có can chạy qua mắt thường đỏ một phần), sau đó đến vàng và đỏ. Tròng mắt đen bị cho điểm thấp nhất.
[Hình ảnh: selection_eye4.jpg]

7) “Cằm đôi” không được chuộng, thậm chí còn bị coi là dị tật.
[Hình ảnh: selection_doublechin.jpg]

8) Vây lưng và vây hậu môn dài bằng nhau. Kích thước theo chiều đứng của các vây cũng phải tương đương (A & B).
[Hình ảnh: selection_fin1.jpg]

9) Đuôi và vây ngực phải nằm đúng vị trí và xòe ra một cách bình thường. Các tia vây không được gãy, vẹo hay có nốt sần.
[Hình ảnh: selection_pectoral.jpg]

10) Không có mảng mẩn đỏ ở mũi và các vây.
[Hình ảnh: selection_burn.jpg]

11) Hai vây bụng (kỳ) phải dài như nhau, không cong vẹo.

12) Nếu là loại chỉ (striped), độ dày, phân bố cũng như màu sắc của chỉ phải đều, không được có răng cưa ("bông cúc"), không được mờ dần về phía gốc đuôi.

13) Nếu là loại beo (spotted), đốm càng nhiều càng tốt, nhất là nắp mang và các vây, nhưng vẫn phải tách biệt. Cá càng nhiều đốm thì điểm càng cao.

14) Nếu là loại đơn sắc (solid), màu phải đồng nhất từ miệng cho đến gốc đuôi và càng ít chỉ càng tốt. Lỗi thông thường là màu không lên hết đầu, chóp vây lưng và vây hậu môn.
[Hình ảnh: selection_solid.jpg]

15) Số lượng can từ 5 cho đến 21 tùy dòng cá. Số lượng không quan trọng nhưng tất cả can đều phải thẳng đứng, tách biệt và không được dính với nhau. Hơn nữa, các can không được quá nổi bật, hay nói cách khác là cá không được quá nhát.

16) Đuôi càng trong suốt càng tốt (để duy trì dáng tròn). Màu lan ra tới đuôi có thể do di truyền hay bị kích màu. Một số dòng cá dĩa không có tế bào sắc tố ở đuôi nên dù có kích màu thì đuôi vẫn trong suốt. Một số dòng khác rất lại rất dễ dính màu ở đuôi, đây là đặc điểm cần tránh trong lai tạo.
[Hình ảnh: selection_tailcolor.jpg]

17) Màu đen xuất hiện càng ít càng tốt.
[Hình ảnh: selection_black.jpg]

18) Cá càng to thì càng được điểm cao. Cá từ 15-18 cm được cho điểm tối đa ở thang kích thước. Nhưng nếu cá to hơn thì sẽ được cộng thêm điểm thưởng.

19) Không được mang cá dĩa bệnh đi thi.


-----------------------------------------
Để chiến thắng trong các cuộc thi, có lẽ bạn luôn cần chút may mắn. Bằng không thì đấy chẳng qua là một ngày không… may của bạn. Hãy chấp nhận và điều quan trọng là không được nản chí.
-----------------------------------------

Lai tạo & tuyển chọn

Lai tạo
Để chuẩn bị cá tham dự triển lãm, bạn phải lựa chọn cá giống và lai tạo trước đó khoảng 18 tháng. Bởi vì việc ghép cặp là có chủ đích nên sẽ mất thời gian hơn so với bắt cặp tự nhiên. Mặt khác, vài lần sinh sản đầu tiên thường thất bại. Vì vậy, thời gian trung bình để thu được bầy cá con mất khoảng 2 tháng. Bạn còn 16 tháng để nuôi dưỡng và tuyển chọn cá dự thi.

Cá nhiễm bệnh trong giai đoạn còn non và đang phát triển có thể bị dị tật. Để hạn chế khả năng này, cặp cá giống phải được chữa trị dứt điểm trước khi lai tạo.

Tuyển chọn đợt 1: bắt đầu khi bầy cá đạt 2 tháng tuổi. Mục đích đợt này là loại bỏ những con dị tật và chọn những con có dạng thân đẹp. Dạng thân đem lại hình dáng tống thể của cá. Hãy chọn những con có dạng đầu thích hợp và thân càng cao càng tốt (không có dị tật cột sống). Sau khi tuyển chọn, cá dĩa được nuôi với mật độ khoảng 30 con/hồ 200 lít (0.8 x 0.5 x 0.5 m).

Tuyển chọn đợt 2: bắt đầu khi bầy cá đạt 4 tháng tuổi. Đợt này tiếp tục loại bỏ những con dị tật, chẳng hạn như mang, vây và mắt. Một số cá thể xuất hiện dị tật ở độ tuổi này. Sau tuyển chọn, cá dĩa được nuôi với mật độ khoảng 15-20 con/hồ 200 lít.

Tuyển chọn đợt 3: bắt đầu khi bầy cá đạt 6 tháng tuổi. Đợt này tập trung vào màu sắc và hoa văn. Ở độ tuổi này, màu sắc và hoa văn chưa lên đầy đủ vì vậy chúng ta có thể kích màu với mục đích tuyển chọn.

Một số nhà lai tạo sử dụng hormon/steroid để kích màu cá. Cẩn thận vì nếu dùng quá liều thì cá sẽ bị tổn thương nội tạng, vô sinh hoặc thậm chí là chết. Không may, các biểu hiện dùng thuốc quá liều thường không rõ ràng và khi phát hiện ra thì đã quá trễ. Cách trộn thuốc vào thức ăn không cũng an toàn vì có con ăn nhiều hơn và nhiễm độc.

Ngâm thuốc là cách phù hợp đối với mọi dòng cá dĩa. Màu xanh bắt đầu xuất hiện vào ngày thứ 4 kể từ khi bắt đầu ngâm và đạt đến đỉnh điểm vào ngày thứ 10, và sau một tháng thì phai dần.

Tập trung loại bỏ những con dính đen quá nhiều. Loại bỏ cả những con mà đuôi lên màu đỏ-vàng sau khi được cho ăn Carophyll Pink. Nên nhớ rằng đuôi cá phải trong suốt. Sau tuyển chọn, mật độ cá dĩa còn khoảng 10 con/hồ 200 lít.

----------------------------------------------------------------------------------------------
QUY TRÌNH KÍCH MÀU

Cho cá dĩa ăn các chất kích màu như Carophyll Pink (astaxanthin tổng hợp 8%), Chlorophyll Red, Chlorophyll Yellow, NatuRose Astaxanthin 1.5% và Yeast (Phaffia astaxanthin). Bạn hãy tự điều chỉnh liều thích hợp. Với Carophyll Pink, tỷ lệ 2-3 g/1 kg thức ăn là đủ. Sản phẩm chính hãng hoàn toàn không có hại cho cá. Trên thực tế, đa phần đều có tác dụng chống lão hóa (antioxydant).

Sau khi màu sắc được cải thiện đáng kể, hãy ngâm cá trong nước pha testosterone theo tỷ lệ 20-30 mg/200 lít nước trong 2 ngày. Đây là liều an toàn và không làm hại cá. Nó không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và sinh sản của cá sau này. Hormon giới tính đực kích thích lên màu xanh. Hãy thay toàn bộ nước sau khi ngâm cá. Màu xanh sẽ lên dần và đạt tối đa sau 10 ngày. Việc kích màu sẽ giúp chúng ta dự đoán màu xanh có bao phủ toàn thân cá sau này hay không.

Nếu muốn bạn có thể sử dụng chất kích màu CR6. Liều an toàn? Bạn hãy theo chỉ dẫn của nhà sản xuất. Thành phần chính của CR6 có lẽ là astaxanthin tổng hợp 8% (kích màu đỏ) nhưng cũng kích luôn cả màu xanh. Nhà sản xuất khẳng định không hề có testosterone trong thành phần CR6.

Còn nhiều sản phẩm kích màu khác trên thị trường nhưng bạn hãy tìm hiểu kỹ liều dùng trước khi sử dụng. Chúng có thể chứa những chất gây ra tác dụng phụ khiến cá của bạn bị tổn thương, vô sinh hoặc thậm chí là chết.

Lam:
Hãy chọn những con lên màu đầy đủ và sớm nhất. Đừng ham nhiều. Sai lầm phổ biến là đợi cho đến khi hầu hết cá thể đều lên màu đầy đủ, bởi khi đó sẽ rất khó lựa chọn. Tiêu chuẩn lựa chọn: những con lên màu đầy đủ và sớm nhất (mà không dính chỉ), đấy là những con có nhiều tiềm năng màu lam sẽ lên đầy đủ, dày và đậm nhất khi trưởng thành.

Lưu ý: nếu ngâm cá lâu với liều testosterone cao, thậm chí cá bông xanh cũng chuyển thành màu lam mặc dù không lan đến đầu và chóp vây dài ra.

Các màu đơn sắc khác: chẳng hạn như đỏ và vàng, hãy chọn những con càng ít chỉ càng tốt. Tại độ tuổi này và với sự kích màu, nếu bạn không phát hiện thấy màu xanh hoặc chỉ, bạn có thể yên tâm rằng chúng không dính xanh một khi trưởng thành.

Chỉ và hoa văn (bông):
Chọn những con lên màu/bông đầy đủ và sớm nhất. Đỉnh điểm của việc kích màu là sau khi ngâm 10 ngày. Loại tất cả những con mà vây lưng và vây hậu môn vốn có chỉ dày hoặc phớt xanh lại chuyển thành toàn xanh. Hãy chọn những con mà độ dày, phân bố và độ đậm nhạt của chỉ đều toàn thân.

Đốm (beo):
Dưới tác dụng của testosterone hoặc CR6, nền xanh sẽ mất đi, các đốm đỏ xuất hiện. Nếu vẫn còn vùng chỉ đỏ lớn thì có thể chỉ xanh sẽ không mất đi trong tương lai. Nếu sau khi cho ăn, nền xanh bắt đầu lấn át đốm đỏ thì không nên chọn những cá thể này để nuôi tiếp. Do đó, hãy chọn những con càng nhiều đốm đỏ càng tốt và loại bỏ những con với mảng xanh trên thân, đặc biệt là ở đầu, vây lưng hoặc vây hậu môn.
----------------------------------------------------------------------------------------------


Tuyển chọn đợt 4: bắt đầu khi bầy cá đạt 10 tháng tuổi. Những cá thể còn lại thường rất đẹp. Việc tuyển chọn tập trung vào những con lớn chậm hoặc thay đổi ít nhiều do môi trường, chẳng hạn như vây lưng hơi to hơn vây hậu môn. Những con lớn chậm nhưng vẫn đẹp có thể được tách nuôi trong hồ riêng. Sau tuyển chọn, mật độ cá dĩa còn khoảng 7 con/hồ 200 lít.

Cần tách cá đực và cá cái nuôi riêng vì ở độ tuổi này, cá thành thục sinh dục và bắt đầu xung đột. Không để chúng nhìn thấy nhau. Tách cá càng sớm càng tốt.

Nuôi dưỡng

Thức ăn: cần hết sức tránh các loại thức ăn có nguồn gốc thủy sản như trùn chỉ, cá mồi hay bo bo. Chúng là nguồn lây bệnh cho cá của bạn. Artemia là nguồn thức ăn tươi sống phù hợp nhất. Ngoài artemia, chúng ta có thể cho cá ăn thức ăn đã chế biến hay tim bò. Cho cá ăn nhiều bữa trong ngày, thường từ 4 đến 5 bữa, chẳng hạn vào các thời điểm 7 giờ sáng, 11 giờ trưa, 3 giờ chiều, 7 giờ tối và 11 giờ đêm.

Chất lượng nước: phải được duy trì trong suốt quá trình nuôi dưỡng. Cần thay nước ít nhất 2 lần mỗi ngày.

Chế độ nuôi dưỡng cụ thể như sau:

1) 7 am: bữa ăn chính (thức ăn còn dư).
2) 8 am: thay nước.
3) 11 am: bữa ăn nhẹ (hoàn tất sau 15 phút)
4) 12 pm: hút phân và cặn để tránh nước ô nhiễm (khiến cá giảm khẩu vị).
5) 3 pm: bữa ăn nhẹ.
6) 4 pm: hút phân và cặn để tránh nước ô nhiễm.
7) 7 pm: bữa ăn chính.
8) 8 pm: thay toàn bộ nước.
9) 11 pm: bữa ăn nhẹ.
10) 00 am: hút phân và cặn lần cuối.

Huấn luyện
Trước khi tham dự triển lãm khoảng một tháng rưỡi, bật đèn hồ sáng 24/24 để cá làm quen với ánh sáng mạnh. Khi đem triển lãm, cá sẽ không bị nhát hoặc trốn vào góc hồ.

Theo: carongvietnam.com

In mục này

  Cách lựa cá dĩa đẹp
Đăng bởi: kid.1412 - 04-16-2014, 11:33 AM - Diễn đàn: Cá Đĩa - Discus - Không có trả lời

Lựa phải cá dĩa không như ý là điều xảy ra khá phổ biến. Thông thường, mọi người bị cuốn hút bởi màu sắc, hoa văn hay đốm của dòng cá mà bỏ qua những lỗi tiểu tiết hay ẩn dấu. Ngay cả những nhà lai tạo hay chơi cá nhiều kinh nghiệm cũng đôi khi mắc sai sót. Điều quan trọng là bạn phải nắm vững những yếu tố cơ bản trong việc lựa chọn cá dĩa và tiến hành lựa chọn một cách có phương pháp.

Có ba yếu tố mà các bạn cần phải lưu tâm trong việc lựa chọn cá dĩa:

A. Nguồn gốc: rất quan trọng trong việc lựa chọn cá dĩa, đặc biệt với mục đích lai tạo và tham dự triển lãm. Diện mạo cá đĩa thay đổi trong suốt quá trình tăng trưởng, và thường thay đổi một cách mạnh mẽ, gần như là “lột xác” lúc trưởng thành. Cá non chưa phát triển hoàn thiện về hình dáng và màu sắc, thậm chí có thể còn ẩn dấu các dị tật bẩm sinh. Thêm vào đó, việc sử dụng những chất kích màu và hormon càng khiến cho việc đánh giá về tiềm năng cá dĩa trở nên khó khăn. Vì vậy, hãy mua cá từ những nhà lai tạo uy tín ở địa phương nơi các bạn có thể thấy được cặp cá giống cha mẹ cũng như dòng cá. Các bạn cũng có thể tham gia vào các câu lạc bộ cá dĩa để tìm hiểu thông tin và được chia sẻ cá dĩa từ những nguồn chất lượng và đáng tin cậy.

B. Hình thái và dị tật: được đề cập một cách chi tiết nhằm giúp các bạn có thể phân biệt được các dạng hình thái ở cá dĩa, dị tật di truyền hay dị tật bắt nguồn từ môi trường như chế độ nuôi dưỡng, hậu quả chấn thương và bệnh tật. Nếu lựa cá dĩa với mục đích lai tạo thì có thể chấp nhận các dị tật bắt nguồn từ môi trường. Việc nắm vững các dạng hình thái cũng là yếu tố quan trọng giúp các bạn định hình gu thẩm mỹ cũng như tham dự vào các cuộc triển lãm trong tương lai.

C. Tình trạng sức khỏe: các bạn sẽ tiết kiệm nhiều thời gian, công sức và tiền bạc nếu tránh được những con cá bệnh tật hay có biểu hiện bất thường về sức khỏe.


Hình thái và dị tật

1- Mắt
a) Kích thước:
Những dòng cá dĩa khác nhau có kích thước mắt khác nhau. Nhà lai tạo cá dĩa tiên phong Jack Wattley đưa ra tỷ lệ kích thước mắt so với đường thẳng đứng đi qua mắt là 1:7. Để dễ ước lượng, đoạn trên phải gấp 3 lần mắt, đoạn dưới cũng phải gấp 3 lần mắt. Một số dòng cá dĩa hiện đại có tỷ lệ mắt là 1:9 chẳng hạn như golden và tangerine. Những thông số này rất có ích trong việc phát hiện cá dĩa còi. Cá dĩa còi phát triển chậm nhưng mắt của nó vẫn tăng trưởng đều đặn theo thời gian. Vì vậy, tránh lựa những con mắt to với tỷ lệ trên 1:7.
[Hình ảnh: selection_eye2.jpg]
[Hình ảnh: selection_eye3.jpg]

Ngày nay, hiện tượng kích thước hai mắt không đều là rất phổ biến vì vấn đề lai tạp. Đây là tật di truyền cần tránh.

b) Tròng mắt hay phần viền xung quanh con ngươi nên có màu đỏ tươi. Các màu đen, đỏ bầm, trắng và vàng không được chuộng bằng. Đa số các dòng cá dĩa đều có can chạy qua mắt nhưng nếu màu mắt tối một cách thường trực thì cá đang có vấn đề về sức khỏe, chẳng hạn như bị nhiễm nấm hay ký sinh, hãy kiểm tra những đặc điểm khác như màu thân và vây.

Một khi cá bị nhiễm khuẩn khi còn non, chẳng hạn như Aeromonas sobrio, vi khuẩn hủy hoại các mô ở tròng mắt gây ra dị tật. Những con bị nặng, mắt có thể sưng to và chết; những con bị nhẹ hơn có thể mang mầm bệnh cả đời nếu không được chữa trị thích hợp. Sau này, điều kiện môi trường kém có thể kích thích bệnh tái phát. Tránh chọn những con bị dị tật tròng mắt như hình dưới.
[Hình ảnh: selection_eye1.jpg]

2- Dạng thân (body form/shape)
Thân dài và thân tròn thường xuất hiện ở cá dĩa hoang. Hình dáng tổng thể của cá dĩa phải tròn trịa, vì vậy tránh lựa dạng thân dài (tuy nhiên, cá non có thể chưa phát triển để đạt dạng thân tròn).

Thân cao (high body) là dạng thân phổ biến của các dòng cá dĩa hiện đại. Dạng thân này cũng có thể là dấu hiệu của việc nuôi thúc và tật võng cột sống (lordosis). Nếu nuôi thúc thì sẽ có dạng đầu két và “cằm đôi” (double-chin). Nếu dị tật thì trán sẽ thẳng một cách bất thường và ức nhô.

Ngoài ra, đầu sẽ hơi cong một cách tự nhiên, dáng hài hòa và không có dấu hiệu của tật võng cột sống (lordosis). Đây là dạng thân duyên dáng và được ưa chuộng nhất. Hầu hết cá thể chiến thắng trong các thể loại cá dĩa thuần dưỡng đều có dạng thân này.

Thân cực cao (super high body) còn được gọi là “dơi” hay “chó bun” (bat/bulldog) với xương sống cực ngắn, dấu hiệu của tật võng cột sống. Các tật thường xuất hiện ở dạng thân này gồm:
- Đầu cực thẳng hay lẹm.
- Một bên thân dày hơn bên kia vì tật vẹo cột sống (scoliosis).
- Mang thiếu (nhưng không phải tật mang thiếu nào cũng đi đôi với thân cực cao).
- Đuôi và vây ngực bất thường.
- “Cằm đôi”: ức to và nhô ra như cằm.
[Hình ảnh: selection_doublechin.jpg]

Dạng thân này là tật môi trường và không di truyền. Nguyên nhân có thể vì bào thai phát triển kém hay nhiễm khuẩn Mycobacteriumtrong giai đoạn bào thai hay cá bột khiến cột sống bị tật.

Vây cực cao (super high fin) là dạng đột biến mới xuất hiện vài năm gần đây.

[Hình ảnh: selection_shape1.jpg]
[Hình ảnh: selection_shape2.jpg]

3- Đầu
Đầu phải hơi cong, liền lạc và không được lồi lõm để kết hợp với thân thành dáng tròn hoàn hảo. Lưu ý đến các vết lở loét vùng đầu vì đó có thể là dấu hiệu của bệnh lủng đầu. Có 5 dạng đầu di truyền và 3 dạng đầu dị tật do môi trường. Các dạng đầu di truyền gồm:
Đầu cong (curved) và đầu thẳng (straight) là hai dạng đầu thích hợp nhất để lai tạo.
Đầu cực cong (overly curved) rất phổ biến ở cá dĩa hoang, dù đẹp nhưng thường đi đôi với dạng thân dài nên cần cân nhắc khi lai tạo.
Đầu gù (protruding/flowerhorn) có gù như đầu cá La Hán, tuy ngộ nghĩnh nhưng làm hỏng hình dáng tổng thể của cá dĩa.
Đầu gãy (kinked) có vết gãy gần gốc vây lưng, đây là tật di truyền.
[Hình ảnh: selection_head1.jpg]

Các dạng đầu dị tật do môi trường gồm:
Đầu két (parrot mouth): dạng đầu có mõm như mỏ két. Đây vốn là dạng thân dài nhưng được nuôi thúc bằng thức ăn giàu chất béo để tăng chiều cao, hậu quả là mõm trông như mỏ két và ức có dạng “cằm đôi” (double-chin). Những con cá đẹt, còi cũng có dạng đầu két.
Đầu lõm (undershot): đây là hậu quả của các vi khuẩn gây bệnh như Aeromonas sobrio hay Mycobacterium. Dạng đầu này thường đi đôi với mắt lồi.
Đầu dựng & đầu lẹm (straight/bat/bulldog): đầu dựng gần như thẳng đứng trong khi đầu lẹm hơi lượn vào bên trong. Hai dạng đầu này đi đôi với dạng thân cực cao.
[Hình ảnh: selection_head2.jpg]

4- Nắp mang
Dị tật nắp mang xảy ra khá phổ biến ở cá dĩa vì cả nguyên nhân di truyền lẫn môi trường. Mang thiếu:dấu hiệu thành phần thức ăn thiếu can-xi. Mang vênh, lõm hay lòi lá mang: dấu hiệu nhiễm khuẩn, ký sinh hay thiếu ô-xy. Tình trạng thiếu ô-xy vì ô nhiễm và sử dụng hypo quá liều (khử clor) làm mang bị tổn thương dẫn đến tật vênh và lõm mang. Formol và Malachite Green cũng là các chất gây ung thư và đột biến. Không may, liều thích hợp để chữa trị bệnh nặng và mãn tính cũng gây tổn thương cho cá.
[Hình ảnh: selection_gill.jpg]

Quan sát nắp và khe mang từ nhiều phía để đảm bảo cá không bị dị tật. Khi khép, nắp mang phải khít với thân. Khi thở, phần bên trong mang không được lòi ra. Nước ô nhiễm khiến cá thở gấp gáp. Nếu nước trong mà cá vẫn thở dốc, khó nhọc, ngoi lên bề mặt hoặc chỉ cử động một bên mang thì đó có thể là dấu hiệu nhiễm khuẩn hoặc ký sinh.

5- Vảy
Tật vảy ở cá dĩa có nguyên nhân môi trường và không di truyền. Tật phát sinh khi cá bị thương, trầy xước và nhiễm trùng. Hãy chọn những con vảy đều, liền lạc và không khập khiễng.
[Hình ảnh: selection_scale.jpg]

6- Cột sống (backbone)
Quan sát cá từ phía chính diện và gốc đuôi để kiểm tra dị tật về cột sống. Miệng méo và mang biến dạng cũng thường đi đôi với dị tật cột sống, đây là dạng tật do môi trường (hậu quả của bệnh lao cá), có thể dùng để lai tạo (bằng không nếu chỉ mỗi miệng bị méo thì đó là tật di truyền).
[Hình ảnh: selection_backbone.jpg]

7- Vây
Vây ngực: có gốc nằm ngay sau nắp mang và hơi thấp hơn miệng và đuôi. Tật di truyền phổ biến ở vây ngực là vẹo lên, trông như sắp bay. Các tia vây cũng có thể cong vẹo và có nốt sần vì nhiễm khuẩn.

Vây bụng (kỳ): phải đều nhau, hai kỳ không đều, bắt chéo (nhìn từ chính diện) hay thiếu kỳ là các tật di truyền. Tuy nhiên, nếu kỳ đủ nhưng bị gãy, cong vẹo thì đó là tật do môi trường ô nhiễm, nhiễm khuẩn hay ký sinh. Nếu còn thấy chút gốc kỳ thì đó là dấu hiệu cá nhiễm bệnh khi còn trong trứng nước, có thể dùng vào mục đích lai tạo. Nhưng nếu gốc kỳ trơn tru thì đó có thể là tật di truyền, tốt nhất không nên lai tạo.

Vây lưng và vây hậu môn: là phần nổi bật, đập vào mắt người quan sát. Các vây càng to và xòe rộng thì cá dĩa càng đẹp. Tuy nhiên dù kích thước hay hình dạng như thế nào thì hai vây cũng phải đều nhau. Cụ thể, hai vây phải dài như nhau (không tính phần chóp vây kéo dài). Độ rộng ở phần cao nhất của vây (A) và độ rộng ở phần giao với gốc đuôi (B) phải bằng nhau.
[Hình ảnh: selection_fin1.jpg]
[Hình ảnh: selection_fin2.jpg]

Vây hậu môn nhỏ hơn vây lưng hay gốc vây hậu môn lùi về phía sau so với vây lưng là các tật di truyền. Các tật phổ biến nữa là các vây teo tóp, sờn rách, biến dạng, khập khiễng, thiếu lưng (“tê giác”) và “thiếu bụng”. Dị tật thường xảy ra ở các gai vây đầu tiên của vây lưng và vây hậu môn. Đây là hậu quả của môi trường nước ô nhiễm, nhiễm khuẩn hay ký sinh trong gian đoạn cá còn non và tổn thương là không thể phục hồi được.
[Hình ảnh: selection_fin3.jpg]
[Hình ảnh: selection_fin4.jpg]

Đuôi: bao gồm 16 tia vây gốc chia thành 2 phần đều nhau. Các dị tật liên quan đến bệnh vẹo hay võng cột sống, thường thể hiện ở gốc đuôi bao gồm bướu, cong lên hay cụp xuống. Nhìn chung, đấy là các cá thể trong bầy bat/bulldog. Đây là tật môi trường, thường là hậu quả của bệnh lao cá (tuberculosis).

8- Màu sắc
Màu sắc của cá lên dần, trong vòng từ 6 đến 8 tháng. Hãy đặt nghi vấn khi màu sắc của cá nổi bật ở kích thước dưới 6 cm.

- Kiểm tra dấu hiệu kích màu bằng hormon. Cá non dưới 6 cm lên màu xanh trên vây ngực, đuôi và chóp mũi có thể là dấu hiệu của hormon.

- Cá size dưới 6 cm mà lên bông đầy đủ, màu sắc nổi bật có thể là cá còi, đẹt. Hãy kiểm tra các dấu hiệu bổ sung như kích thước mắt. Màu sắc nổi bật cũng có thể là dấu hiệu của hormon vì người ta cố ý kích màu khi cá còn non để phát hiện những con có tiềm năng (bông, đốm đầy đủ). Điều này đặc biệt đúng với dòng beo vì chỉ có vài chục phần trăm lên đủ đốm và được chọn nuôi tiếp, số còn lại bị loại và bán ra khi còn non.

- Cá ở size 5-6 cm phải “sạch” muối tiêu. Nếu muối tiêu xuất hiện trước mũi và chóp vây thì sẽ xuất hiện nhiều hơn khi trưởng thành.


Tình trạng sức khỏe
Mục đích của phần này là phát hiện những con cá bệnh hay có dấu hiệu bệnh lý. Kiểm tra xem hồ nuôi có được bỏ thuốc hay không (xanh, vàng, có mùi thuốc). Nếu có, đấy là dấu hiệu hồ cá đang được điều trị và không nên mua cá.

Tóp đầu: dấu hiệu của bệnh ký sinh, mãn tính (chẳng hạn như lao cá) dẫn đến bỏ ăn và suy dinh dưỡng.
[Hình ảnh: selection_thickness1.jpg]
[Hình ảnh: selection_thickness2.jpg]

Đen mình: dấu hiệu cá bị căng thẳng, tương tự như hiện tượng xuất mồ hôi ở người. Cá bị nhiễm ký sinh thường đen mình vì tiết nhiều nhớt. Cá đang sinh sản hay nuôi con cũng đen mình nhưng mạnh khỏe, lanh lợi chứ không lờ đờ. Đôi khi đen mình không phải bệnh mà là phản ứng của cá đối với sự thay đổi đột ngột của môi trường, thường là nhiệt độ (trên 5 độ). Cá thường có biểu hiện đen người sau khi thay nước.
[Hình ảnh: selection_shape3.jpg]

Nhợt nhạt: thường đi đôi với hiện tượng bỏ ăn và tóp đầu vì nhiễm khuẩn.

Màu tím: xuất hiện ở những con nhiễm khuẩn trong bầy dĩa lam. Đấy là dấu hiệu của bệnh lao cá!
[Hình ảnh: selection_purple.jpg]

Lở loét: gây ra bởi các vi khuẩn gam âm, thường là Aeromonas hydrophyla. Bệnh này rất phổ biến ở cá hoang dã và có khả năng kháng thuốc nếu không chữa trị đúng cách. Từ chối mua bất kỳ con cá nào từ hồ có cá mắc bệnh này.

Nấm thủy mi (fungus): xuất hiện dưới dạng bông, sợi và vệt trắng do khuẩn thuộc lớp Oomycetes (họ Saprolegniales). Bệnh này khá dễ chữa.

Sưng mắt: dấu hiệu của bệnh lao cá. Bệnh này rất khó chữa.
[Hình ảnh: selection_popeye.jpg]

Chuyển động giật cục: dấu hiệu nhiễm ký sinh, mang bị nhiễm nặng, có thể là một trong các loài Gyrodactylus, Dactylogyrus,Chilodonella và Trichodina. Bệnh này dễ chữa nên có thể mua cá nếu cần thiết.

Cọ mình vào các vật thể: dấu hiệu nhiễm ký sinh, vùng cọ xát nhiễm nặng nhất. Bệnh này dễ chữa nên có thể mua cá nếu cần thiết.

Chúi đầu: chưa rõ nguyên nhân, có thể do nhiễm khuẩn hay các chất hóa học tác động lên cơ quan kiểm soát thăng bằng như tai trong. Nếu bệnh nhẹ thì cá có thể phục hồi.

Treo đầu trên mặt nước: thường đi đôi với các triệu chứng khác như thở chậm và lờ đờ. Đây là dấu hiệu của bệnh siêu vi (virus) tác động lên mang và những bộ phận khác. Nếu kèm dấu hiệu đen mình thì đó có thể là bệnh ký sinh. Từ chối mua bất kỳ con cá nào từ hồ có cá mắc bệnh này.

Bệnh lủng đầu: với nhiều mảng lở loét vùng đầu, xung quanh mắt và nắp mang, đôi khi lan ra đường bên. Hầu hết cá đều ăn uống bình thường, thậm chí vẫn sinh sản được, chỉ một số ít bị căng thẳng. Có thể điều trị bệnh bằng cách ngâm cá trong nước lá bàng.
[Hình ảnh: selection_hith.jpg]

Rụng vảy: từng mảng vảy lớn bị rụng phô bày lớp da hư hại bên dưới. Đây là bệnh nhiễm khuẩn Costiosis, rất nguy hiểm với cá non và trứng. Cá ủ bệnh có vảy không đều và tiết nhiều nhớt.
[Hình ảnh: selection_costia.jpg]

Tuột nhớt: là dấu hiệu của bệnh ký sinh ngoài da.

Thối/cháy vây: vây rất nhạy cảm với môi trường và bệnh tật. Ngay cả cá bình thường, khi quan sát vây dưới kính phóng đại sẽ phát hiện nhiều lỗi. Nếu vây bị cháy do môi trường thay đổi đột ngột thì sẽ phục hồi sau vài ngày mà không cần chữa trị. Bằng không thì có thể là do nhiễm khuẩn.
[Hình ảnh: selection_finrot.jpg]

Đốm trắng: với các đốm trắng li ti nổi toàn thân. Đây là bệnh gây ra bởi ký sinh trùng Ichthyophthirius multifiliis. Dẫu bệnh có thể chữa trị được nhưng tránh mua.

Nấm lụa: với lớp bụi vàng như lụa phủ toàn thân và nắp mang. Bệnh gây ra bởi trùng Piscinoodinium hiện rõ dưới nguồn sáng mạnh.

Sình bụng: a) được coi là bệnh khi đi kèm với các triệu chứng như đen người, mất màu, bỏ ăn và lờ đờ. Đây thường là hiện tượng nhiễm khuẩn nội ở đường tiêu hóa hay nội tạng. b) Nếu cá đang bình thường đột nhiên sình bụng và bỏ ăn trong khi màu sắc vẫn bình thường thì đó có thể dấu hiệu bị nhiễm siêu vi. c) Trường hợp bụng to dần (trong khi cá vẫn ăn và tiêu hóa bình thường) cho đến khi căng phồng khiến cá chết, đây có thể là hiện tượng nhiễm độc hormon hoặc steroid. d) Một số loại thức ăn khô nở ra khi gặp nước nên nếu cá ăn quá nhanh và nhiều thì khi thức ăn nở ra sẽ khiến cá bị sình bụng.
[Hình ảnh: selection_bloat.jpg]

Phân trắng: thường đi đôi với giảm khẩu vị, dấu hiệu của bệnh nhiễm khuẩn hay ký sinh đường ruột. Phân cá mạnh khỏe màu đen hoặc đôi khi là đỏ nếu thức ăn có nhiều màu này.
[Hình ảnh: selection_waste.jpg]

Chóp vây lưng dài: là điều bình thường ở cá dĩa, tuy nhiên chóp vây lưng quá dài một cách bất thường, dù ở cá đực hay cá cái, có thể là hậu quả của việc ngâm testosterone trong một thời gian dài. Cá có thể bị sình bụng và vô sinh.

Cách quan sát
Sau khi phân tích các yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn cá dĩa, bước kế tiếp là áp dụng chúng thông qua quan sát để lựa được cá đẹp và mạnh khỏe. Dưới đây là các bước quan sát (các bạn có thể in những hình này ra và mang theo mỗi khi lựa cá)

[Hình ảnh: selection_front.jpg]

[Hình ảnh: selection_side1.jpg]

[Hình ảnh: selection_side2.jpg]

Theo: carongvietnam.com

In mục này


Thành viên đang trực tuyến
Hiên tại có 2006 thành viên đang trực tuyến » 0 Thành viên | 2003 Khách
Baidu, Bing, Google

Thẩm định giá bất động sản Thẩm định giá động Sản Thẩm định giá máy móc thiết bị Thẩm định dự án đầu tư Thẩm định giá tri doanh nghiệp
Thẩm Định Giá tài sản vô hình Thẩm định giá dự toán gói thầu Thẩm Định Giá Dự toán, dự án xây dựng Thẩm định giá trang thiết bị y tế Thẩm định giá Xử lý nợ Thẩm định giá nhà xưởng Thẩm định giá đầu tư
Mã nguồn bởi MyBB, © 2002-2026 Tài Trợ Bởi Thamdinh.com.vn.