Thông kê diễn đàn
» Thành viên: 176,918,   » Thành viên mưới nhất: admin,   » Chủ đề: 46,693,   » Bài viết: 420,657,  
Thống kê đầy đủ

  Một số yếu tố phong thủy cần chú ý khi đặt bể cá cảnh
Đăng bởi: ngoctuan - 05-31-2014, 11:39 PM - Diễn đàn: Lịch Sử Và Văn Hóa Cá Cảnh - Trả lời (1)

Trong phong thủy học, vị trí của nước rất quan trọng, “nước đến” và “nước đi” đều ảnh hưởng đến vận mệnh của ngôi nhà. Vì vậy, khi chọn vị trí đặt bể cá cảnh cần đặc biệt chú ý đến những điều kiêng kỵ sau:

[Hình ảnh: phong-thuy-be-ca.jpg]

1. Kỵ đặt bể cá dưới các tượng thần, đặc biệt là thần Tài hay bộ tam đa Phúc – Lộc – Thọ. Theo quan niệm phong thủy, cách bố trí đó mang ý nghĩa “chính thần hạ thủy”, sẽ gây ra cảnh tán gia bại sản.

2. Kỵ đặt bể cá phía dưới bàn thờ. Bởi khói hương và bụi rơi và bể cá sẽ gây cá chết. Việc cá chết thường xuyên cũng là một điều rất không hay.

3. Kỵ đặt bể cá trong phòng ngủ dẫn đến hiện tượng “âm thịnh dương suy”. Khi ngủ, nhịp sinh học giảm đến mức thấp nhất để mọi cơ quan trong cơ thể nghỉ ngơi. Nhưng do thiết bị tạo bọt của bể cá thường không ngừng vận hành, khiến nước trong bể luôn luân chuyển, làm ảnh hưởng đến nhịp sinh học của bạn, khiến bạn dễ cảm thấy mệt mỏi.

4. Kỵ đặt bể cá gần bếp lò, âm dương tương khắc sẽ khiến cho các mối quan hệ trong gia đình căng thẳng.

5. Kỵ đặt bể cá gần nhà vệ sinh hoặc góc quá tối và ẩm thấp sẽ dễ sinh tà khí, gây bệnh cho người sống trong nhà.

6. Kỵ đặt bể cá dưới các đồ điện tử vì hơi nước từ hồ sẽ khiến đồ điện tử nhanh hỏng hơn.

In mục này

  Phân biệt Scleropages jardinii và Scleropages leichardti
Đăng bởi: ngoctuan - 05-31-2014, 11:34 PM - Diễn đàn: Cá Rồng - Phụ kiện - Trả lời (1)

Phân biệt Scleropages jardinii và Scleropages leichardti

Nắp mang
Nắp mang là điểm phân biệt rõ rệt nhất giữa hai loài. Nắp mang của Scleropages jardinii có những đường uốn lượn và đốm nhưng nắp mang của Scleropages leichardti lại không có gì cả.

[Hình ảnh: distinguishhead4.jpg]
Nắp mang của S. leichardti không có hoa văn (hình nhỏ là nắp mang có hoa văn của S. jardinii) (nguồn http://www.waterwolves.com).

Vảy
Đây cũng là một đặc điểm dễ nhận biết. Vảy của S. jardinii có viền hình bán nguyệt trong khi vảy của S. leichardti có từ một đến ba đốm đỏ nằm ở trung tâm. Khi quan sát từ xa, những viền hình bán nguyệt xếp chồng lên nhau và ánh lên như vảy trân châu (nên loài S. jardinii được gọi là trân châu long) còn những đốm trên thân của S. leichardti lại nằm rời rạc (nên được gọi là hồng điểm long).

Vây
Vây của S. leichardti có những đốm nhỏ màu hồng, xếp thành hàng nằm giữa các tia vây. Các đốm trên vây của S. jardinii to hơn và không theo hàng lối.

[Hình ảnh: distinguishleichardti.jpg]
Scleropages leichardti. (nguồn http://www.waterwolves.com)

Đầu và thân
Đầu của S. jardinii thấp hơn lưng, khoảng cách từ bụng tới lưng rộng nên đầu trông nhọn và nhỏ hơn so với thân. Đầu của của S. leichardti thẳng hàng với lưng, khoảng cách từ bụng tới lưng hẹp nên đầu trông to hơn và thân hình cũng thuôn hơn. Trong hai loài, S. jardinii có bề ngoài giống với cá rồng châu Á hơn.

Râu
Râu S. jardinii hướng ra phía trước và lên trên trong khi râu của S. leichardti hướng xuống dưới và qua hai bên.

Màu sắc
Cần phân biệt màu của vảy và màu của viền (ở S. jardinii) hay đốm (ở S. leichardti). Màu sắc ở S. jardinii được biết là rất đa dạng và biến đổi tuỳ thuộc vào môi trường nuôi dưỡng. Màu vảy có nhiều cấp độ từ vàng, đồng đến nâu. Màu viền từ vàng, hồng đến đỏ. Hầu hết S. jardinii đều có vảy màu nâu sậm, viền hồng. Một số cá thể rất hiếm có vảy màu đỏ đồng, viền đỏ được gọi là hồng long Úc hay vảy màu vàng được gọi là kim long Úc (nhưng ngoài thị trường tất cả được gọi đổ đồng là… kim long Úc).

Màu của S. leichardti ít đa dạng hơn S. jardinii, vảy thường có màu xanh nhạt, ánh kim, các đốm có màu đỏ cam.

[Hình ảnh: distinguishjardinii.jpg]

In mục này

  Cá khổng tượng châu Phi - Heterotis niloticus
Đăng bởi: ngoctuan - 05-31-2014, 11:33 PM - Diễn đàn: Cá Rồng - Phụ kiện - Không có trả lời

Các tác giả: Alfon76 (Ivan), Aquafan2001 (Rich) và E_americanus (Solomon) - nguồn http://aquaticpredators.com

[Hình ảnh: khongtuong01.jpg]

Giới thiệu
Cá khổng tượng châu Phi (African arowana) hay nói một cách chính xác hơn là cá lưỡi xương châu Phi (bởi vì arowana là tên gọi để chỉ các giống cá rồng), là một trong những loài cá sơ khai nhất và thực sự khác lạ trong thế giới cá cảnh.

Chúng không có màu sắc nổi bật như một số anh em họ của mình như cá ngân long (Osteoglossum bicirrhosum) hay cá rồng châu Á (Scleropages formosus) nhưng cũng có tính cách riêng và số lượng đang tăng dần trong giới những người nuôi “cá lạ” vài năm gần đây. Chúng thậm chí còn trông lạ mắt nhất trong số những con “cá lạ” và có thể đạt đến kích thước rất lớn (1 m trong hồ nuôi, 1.2 m ngoài tự nhiên) nhưng lại khá hiền lành. Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu về đặc điểm tự nhiên và cách nuôi dưỡng loài cá châu Phi cổ sơ này.

[Hình ảnh: khongtuong02.jpg]

Đặc điểm tự nhiên

Phân loại
Heterotis niloticus là cá nước ngọt sơ khai thuộc nhóm cá lưỡi xương, một nhánh thuộc lớp cá xương. Chúng thuộc họ khổng tượng Arapaimidae, họ chỉ bao gồm hai loài là khổng tượng châu Phi và khổng tượng Nam Mỹ (Arapaima gigas). Hai loài này cùng với loài cá bướm châu Phi (Pantodon buchholzi) là những loài duy nhất có khả năng thở trong số những loài thuộc bộ cá lưỡi xương*.

Đặc điểm

[Hình ảnh: khongtuong03.jpg]

Khổng tượng châu Phi có thân dài và tương đối dầy, vây lưng và vây hậu môn nhỏ và nằm xa về phần sau của thân. Vây ngực nằm ở vị trí thấp còn vây bụng lùi về gần phía giữa thân. Gốc đuôi nhỏ và đuôi tròn. Đầu tương đối ngắn và có nhiều hốc cảm giác lớn. Môi dày, miệng khép hờ. Toàn thân có màu nâu đồng và xám, phần bụng hơi nhạt màu, cá bán trưởng thành có mày xám với những chấm màu đồng phía trên đầu. Vảy lớn với đường bên nổi rõ. Kích thước tối đa 1m (hồ nuôi) hay 1.2 m (ngoài tự nhiên), trọng lượng tối đa 10.2 kg.

[Hình ảnh: khongtuong04.jpg]

Phân bố
Địa bàn phân bố tự nhiên của khổng tượng châu Phi là hệ thống sông ngòi ở châu Phi như sông Nile, sông Congo và hồ Turkana. Khổng tượng châu Phi là loài cá phổ biến ở đó nhưng chúng cũng được nuôi làm cảnh và lấy thịt ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới. Cá con thường sống trong các vùng đầm lầy, chúng trốn trong các bụi cây thủy sinh, cá trưởng thành sống trong các vùng nước rộng ở sông và hồ.

Đặc điểm sinh học

Cơ quan hô hấp
Cá khổng tượng châu Phi có thể thở bằng bong bóng hơi đặc biệt. Bong bóng ở loài này tương tự với loài Arapaima gigas, loài chị em họ với nó ở Nam Mỹ. Cá khổng tượng nói chung có cơ quan hô hấp đặc biệt lớn mà thận chiếm đến 2/3 kích thước của nó. Ngoài tự nhiên, người ta chứng kiến hàng đàn cá khổng tượng nổi lên mặt nước để thở cùng một lúc. Nhờ có bộ phận hô hấp phát triển mà khổng tượng có khả năng sống sót trong những môi trường thiếu dưỡng khí như đầm lầy và vùng nước lũ.

Lọc thức ăn

[Hình ảnh: khongtuong05.jpg]
[Hình ảnh: khongtuong06.jpg]

Khổng tượng châu Phi là đại diện duy nhất trong bộ cá lưỡi xương có khả năng lọc thức ăn. Chúng có cấu trúc rãnh xoắn đặc biệt nằm ở phía trên nắp mang mà những vụn thức ăn (đi vào từ miệng) sẽ bị chất nhầy bẫy lại ở đó. Hỗn hợp này sau đó được chuyển xuống cổ họng để cá nuốt vào bụng. Đặc điểm đặc biệt này cho phép cá khổng tượng có thể ăn được những loại thức ăn rất nhỏ chủ yếu là các loài động vật thân mềm. Cá khổng tượng cũng ăn các sinh vật phù du, cá trưởng thành đôi khi còn ăn cả hạt cây nhỏ và xác thối. Bởi vì có khả năng lọc thức ăn hay có xu hướng ăn sinh vật phù du nên chúng ăn theo kiểu thường xuyên và ít một thay vì tiêu thụ một số lượng lớn mỗi lần ăn. Chúng xục tìm thức ăn dưới đáy, mà thường là cát và bùn ngoài môi trường tự nhiên, cũng như ở vùng nước giữa (đôi khi cả trên mặt nước).

Sinh sản
Cá khổng tượng châu Phi thường sinh sản vào mùa mưa trong các đầm lầy hay hồ gần sông. Chúng thường làm tổ hình tròn trong đám cây cỏ thủy sinh. Trứng sở sau từ 5-7 ngày, sau khi tiêu thụ hết túi noãn hoàng, cá con kiếm ăn theo đàn, sau từ 25-30 ngày chúng đi kiếm ăn một cách phụ thuộc. Chúng vẫn được bảo vệ bởi cá bố, mang của chúng phát triển rất sớm.

Nuôi dưỡng

[Hình ảnh: khongtuong07.jpg]

Đặc điểm chung
Cá khổng tượng là loài cá sơ khai độc đáo mà chúng cần phải được chăm sóc đặc biệt so với những loài cá cảnh nhiệt đới khác. Nên nhớ cá khổng tượng là loài lọc thức ăn chủ yếu là những sinh vật phù du. Chúng thường ăn những sinh vật nhỏ và cần được ăn một cách thường xuyên so với những loài có cá lớn khác (cá săn mồi cỡ lớn thường ăn mồi to và không ăn liên tục). Cá khổng tượng “bẫy” thức ăn bằng cách hút chúng từ đáy hay hút trực tiếp từ vùng nước giữa. Kế đó đến công đoạn “xử lý” thức ăn bằng những cử động thật nhanh của miệng và cổ họng trước khi nuốt. Thức ăn không được “xử lý” (thường do quá lớn) được đẩy ra ngoài qua nắp mang hay bị phun ra. Bởi vì hành vi ăn mồi đặc biệt này, chúng ta cần hết sức để ý đến chế độ ăn uống của chúng ở mọi giai đoạn phát triển. Thông thường, những loại thức ăn nhỏ và vừa được ưa thích nhất, chúng gồm sinh vật phù du, trùn tươi, trùn đông lạnh, artemia và tép tươi.

Cá cần được nuôi trong hồ rộng vì chúng hay nô đùa và bơi lội liên tục. Chiều dài hồ tối thiểu cũng phải bằng với chiều dài của cá. Cá cũng thường nổi lên mặt nước để thở, do đó cần để nắp hồ cách mặt nước khoảng 5 cm. Nắp hồ cần phải đủ nặng, nếu không thì phải chèn thêm vì loài này hay nhảy.

Chăm sóc cá non (7 – 17 cm)

[Hình ảnh: khongtuong08.jpg]

Kích thước hồ
Kích thước hồ nuôi cá khổng tượng ở độ tuổi này không thể nhỏ hơn 350 lít cho một cá thể. Loài cá này cần nhiều không gian để bơi lội, chúng ưa nước sạch nên bộ lọc nước cũng phải rất tốt. Khi chúng lớn lên thì kích thước hồ cũng phải thay đổi cho phù hợp. Hồ lý tưởng để nuôi cá con phải càng lớn càng tốt để chúng có thể sinh hoạt thoải mái. Người ta thường nuôi những con cá non đến độ bán trưởng thành trong những hồ có dung tích 650 lít. Chúng cung cấp đủ không gian để cá bơi lội và kiếm ăn. Hồ có thể hoặc không cần trải cát. Tốt hơn là không trải cát vì cá có thể lấy thức ăn trực tiếp từ nước mà không cần xục mõm xuống đáy. Mặc dù hành động xục mõm là tự nhiên nhưng để học cách lọc thức ăn thực sự là một thách thức đối với chúng; vì vậy chúng ta nên tạo điều kiện để chúng có thể kiếm ăn một cách dễ dàng nhất.

Nuôi dưỡng
Có nhiều loại thức ăn cho cá khổng tượng ở độ tuổi này. Trùn chỉ có thể giúp chúng phát triển nhanh chóng qua giai đoạn bán trưởng thành. Nên cho cá ăn 2 lần mỗi ngày. Nếu không có trùn chỉ, có thể cho cá ăn trùng đỏ đông lạnh, bo bo và artemia. Nếu cá còn quá nhỏ, chúng ta có thể cắt nhỏ trùn chỉ để chúng dễ tiêu hóa. Nên nhớ rằng cơ quan tiêu hóa của chúng còn quá nhỏ và trùn chỉ có thể hơi lớn đối với chúng. Mối lần cho ăn khoảng từ một nửa đến một chén nhỏ trùn. Lượng thức ăn này có thể đem ước lượng và áp dụng cho các loại thức ăn khác. Nếu đói, cá có thể tìm ăn lượng thức ăn còn dư từ lần cho ăn trước.

Về việc vệ sinh hồ, hồ nuôi cá ở độ tuổi này cần được thay nước thường xuyên. Kết hợp bộ lọc nước tốt với việc thay từ 25% đến 50% lượng nước mỗi tuần sẽ giúp cá tăng trưởng tốt.

Hành vi
Cá khổng tượng ở độ tuổi này có thể nuôi chung với các loài cá khác có cùng kích thước nhưng tốt nhất nên nuôi riêng để tránh xung đột và tranh giành thức ăn. Có thể nuôi chung nhiều con non với nhau nhưng hồ phải thật lớn. Xung đột cũng có thể xảy ra nhưng còn tùy vào mỗi con cá và kích thước hồ nuôi. Nếu bạn muốn nuôi chung nhiều cá thì phải chuẩn bị hồ đủ lớn, thường là 2 con/70 lít, 3con/175 lít. Nhiều con có thể nuôi chung trong hồ 650 lít và ít khi xảy ra xung đột.

Chăm sóc cá bán trưởng thành (20 -60 cm)

[Hình ảnh: khongtuong09.jpg]
[Hình ảnh: khongtuong10.jpg]

Kích thước hồ
Cá khổng tượng bán trưởng thành thích hợp với hồ có kích thước lớn hay hồ có thể mở rộng một khi cá lớn lên. Cá ở độ tuổi này cần nhiều không gian để bơi lội vì chúng rất hoạt động. Đồng thời, chúng cần được cung cấp ít nhất một chỗ để ẩn náu, một cái hang bằng đá hay rễ cây có thể giúp cá khỏi bị căng thẳng và hoảng sợ.

Cá bán trưởng thành rất khác biệt về kích thước, dao động từ 20-60 cm. Với kích thước này, chúng có thể được nuôi trong hồ dung tích tối thiểu 175 lít nếu nuôi chung với cá khác (nếu nuôi riêng thì chỉ cần 70 lít). Khi cá lớn gần 60 cm, chúng cần nuôi trong hồ có kích thước 2 m x 0.7 m (2 m x 1 m thì càng tốt).

Nuôi dưỡng
Cá bán trưởng thành thậm chí còn nhạy cảm và khó nuôi hơn cá non. Nên tập cho chúng ăn nhiều loại thức ăn khác nhau vào giai đoạn này. Ngoài những thức ăn quen thuộc cho cá non, chúng ta có thể cho chúng ăn thêm tép đông lạnh và các loại thức ăn tổng hợp như Tetra và Hikari. Khi bắt đầu ăn thức ăn mới, chúng thường đớp vào miệng, nhai một lúc rồi phun ra thành vụn. Điều này sẽ tiếp diễn hoài nhưng rồi thì chúng cũng quen với thức ăn mới mà bạn cung cấp. Một thói quen rất tốt của cá khổng tượng đó là nó thường ăn hết thức ăn thừa từ lần cho ăn trước đó.

Khi cá lớn lên, có thể giảm số lần cho ăn từ 2 lần xuống còn 1 lần mỗi ngày, tuy nhiên cho ăn 2 lần với lượng thức ăn vừa phải vẫn tốt hơn là cho ăn một lần thật nhiều thức ăn. Nên nhớ rằng đây là loài cá ăn sinh vật phù du, chúng không ăn nhiều thức ăn một lúc rồi sau đó có thể nhịn thật lâu, chúng cần ăn “liên tục” mỗi lần một ít.

Về số lượng thức ăn, cho cá ăn từ 1-2 ly trùn chỉ tuỳ theo kích thước cá. Lượng thức ăn này cũng có thể dùng để tham khảo cho những loại thức ăn khác. Bạn nên kiểm tra lại thông số này để điều chỉnh lượng thức ăn thích hợp cho cá của mình.

Hành vi
Cá khổng tượng là loài hiền lành nhưng rất linh hoạt. Hoạt động bơi lội của chúng có thể gây phiền nhiễu cho những loài thích yên tĩnh cùng hồ. Chúng thường quay ngoắt khi đang bơi hay quẫy chúi dọc theo thành hồ để tìm chỗ ẩn náu một khi bị hoảng hốt. Những loài nuôi chung phải có khả năng thích nghi với đặc điểm này của cá khổng tượng. Bởi vì chúng không phải là loài săn mồi cho nên có thể nuôi chung với cá nhỏ nhưng những con quá nhỏ như cá bảy mày có thể bị cá khổng tượng lớn ăn thịt, nên nhớ kỹ điều này trước khi thả chung cá có kích thước nhỏ với khổng tượng.

Những loài nào có thể nuôi chung với cá khổng tượng? Những loài cá lớn và không quá hung dữ như cá nhái sấu, cá khủng long, cá mũi voi, cá chạch, cá thái hổ và cá nheo có thể nuôi chung với chúng. Cá khổng tượng châu Phi thường bỏ chạy khi gặp cá quá hung dữ hay cá lớn hơn, chúng cũng thường thất thế trong việc cạnh tranh thức ăn khi nuôi chung với những loài cá khác, bạn nên nhớ kỹ điều này khi chọn cá nuôi chung với khổng tượng.

Cá khổng tượng ưa môi trường nước sạch, do đó nên thay nước từ 1-2 lần/tuần, mỗi lần thay từ 25-50%. Lượng nước thay tuỳ thuộc vào lượng thức ăn và số lượng cá được nuôi.

Chăm sóc cá trưởng thành (60 đến trên 75 cm)

[Hình ảnh: khongtuong11.jpg]

Kích thước hồ
Kích thước hồ càng lớn càng tốt. Cá có kích thước 60 cm nên nuôi trong các hồ cực lớn từ 850-1400 lít (rộng trên 1 m). Cá lớn hơn nữa phải nuôi trong hồ có dung tích từ 1400-2800 lít (rộng trên 1 m). Thu hẹp kích thước hồ là điều tuyệt đối không nên làm, hồ càng lớn thì càng tốt.

Nuôi dưỡng
Cá khổng tượng trưởng thành có thể ăn hầu hết mọi loại thức ăn từ trùn chỉ, bo bo, tôm, tép đông lạnh, thức ăn viên và cả các loại cá nhỏ nữa. Thức ăn được chúng tiêu thụ ngay khi vừa thả vào hay sau đó một thời gian khi chúng sục sạo trên nền đáy. Cơ thể chúng tiêu thụ nhiều năng lượng nên chúng phải ăn liên tục. Cá trưởng thành có thể bị gầy đi một cách nhanh chóng thậm chí nếu không cho chúng ăn đủ 2 bữa/ngày.

Chất lượng nước cũng rất quan trọng. Nồng độ ammonia và nitrite cần được giữ ở mức thấp nhất có thể và nên thay 40% nước mỗi tuần. Có thể cân nhắc thay nhiều hơn tuỳ thuộc vào số lượng thức ăn, bộ lọc và số lượng cá nuôi trong hồ. Cần lắp một bộ lọc sinh học hiệu quả vì cá tạo ra nhiều chất thải và hoạt động bơi liên tục của chúng làm khuấy đục nước.

Hành vi
Cá trưởng thành cũng rất hiền lành nhưng có hơi gây gổ một chút với những con cùng loài hay với cá rồng. Hồ trong các hình minh hoạ ở bài này nuôi 3 con khổng tượng châu Phi với một con hắc long và một con khổng tượng Nam Mỹ. Không hề có xung đột nghiêm trọng nào xảy ra và đôi khi có thì cũng giới hạn ở mức độ rượt đuổi nhau là cùng.

Hầu hết các loài cá đều có thể nuôi chung với khổng tượng châu Phi ngoại trừ cá săn mồi dữ tợn. Cá khổng tượng trưởng thành thường được nuôi chung với cá thái hổ, cá nheo, cá khổng tượng Nam Mỹ và cá chuột. Cá khổng tượng châu Phi không quan tâm gì đến chúng và chúng cũng thể hiện như vậy đối với cá khổng tượng.

Kết luận
Những thông tin trong bài này sẽ được cập nhật thêm một khi chúng tôi phát hiện được điều gì mới, cả trên phương diện khoa học lẫn nuôi dưỡng. Chúng tôi hy vọng các bạn có thể sử dụng chúng vào việc lựa chọn và nuôi dưỡng cá khổng tượng châu Phi, hay tối thiểu cũng biết được chút thông tin về loài cá lạ này!

[Hình ảnh: khongtuong12.jpg]

Ghi chú (@VNRD)
*Theo http://www.fishbase.org, bộ cá lưỡi xương (Osteoglossiformes) gồm các họ sau:

- Họ cá khổng tượng (Arapaimidae): các loài Arapaima gigas (khổng tượng Nam Mỹ) và Heterotis niloticus (khổng tượng châu Phi).

- Họ cá rồng (Osteoglossidae):

+ châu Mỹ gồm có hai loài là Osteoglossum bicirrhosum (ngân long) và Osteoglossum ferreirai (hắc long).

+ châu Úc có hai loài Scleropages jardinii (kim long Úc) và Scleropages leichardti.

+ châu Á có 4 loài. Loài được mọi người biết đến nhiều nhất đó là Scleropages formosus (thanh long và kim long quá bối). Ba loài mới được xác định vào năm 2003 ở Indonesia, đó là loài Scleropages aureus (kim long hồng vĩ) ở phía bắc đảo Sumatra, loài Scleropages macrocephalus (thanh long Indonesia) ở phía tây Kalimantan, Borneo và loài Scleropages legendrei (hồng long, huyết long) ở vùng hồ Sentarum và sông Kapuas, Borneo.

Và một số họ cá khác mà hình dạng của chúng khác xa với cá khổng tượng và cá rồng:

- Họ cá thát lát Notopteridae

- Họ cá mũi voi Mormyridae

- Họ cá bướm nước ngọt Pantodontidae

- Họ Hiodontidae

- Họ Gymnarchidae (hình dạng tương tự cá mũi voi)

[Hình ảnh: bp-arapaima.jpg]
Cá khổng tượng Nam Mỹ.

In mục này

  Vẻ đẹp hoang dại của cá rồng "thuần khiết VN"
Đăng bởi: ngoctuan - 05-31-2014, 11:30 PM - Diễn đàn: Cá Rồng - Phụ kiện - Không có trả lời

Cá rồng là loài cá được giới chơi cá cảnh Việt Nam coi là "cá vua", thường được nhập ngoại với giá "khủng", có thể lên đến hàng nghìn USD.

[Hình ảnh: rong_viet_1.jpg]
Ít người biết rằng Việt Nam cũng là nơi tồn tại của một loài cá rồng bản địa rất đẹp
[Hình ảnh: rong_viet_2.jpg]
Đó là loài cá rồng có tên khoa học là Scleropages formosus, một loài cá rất hiếm gặp
[Hình ảnh: rong_viet_3.jpg]
Chúng còn có một tên gọi bản địa là cá mơn
[Hình ảnh: rong_viet_4.jpg]
Loài cá này phân bố trên một phạm vi nhỏ hẹp của sông Đồng Nai, khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên
[Hình ảnh: rong_viet_5.jpg]
Hình dáng của chúng tương tự như các loại cá rồng thường gặp, nhưng màu sắc có phần "thô mộc", dân dã hơn
[Hình ảnh: rong_viet_6.jpg]
Đã có lúc cá rồng Scleropages formosus bị coi là tuyệt chủng ở Việt Nam
[Hình ảnh: rong_viet_7.jpg]
Đây là loài cá có kích thước lớn, chiều dài cá đạt đến 90cm và trọng lượng trên 7kg khi trưởng thành
[Hình ảnh: rong_viet_8.jpg]
Trên thực tế, chúng là một loài cá được cư dân bản địa đánh bắt làm thức ăn trong một thời gian dài
[Hình ảnh: rong_viet_9.jpg]

Từ năm 1986, việc xây dựng nhà máy thủy điện Trị An đã khiến số lượng loài cá này
[Hình ảnh: rong_viet_9-1.jpg]
Hiện tại chúng là một loài cá nằm trong danh mục nguy cấp của Sách Đỏ Việt Nam

In mục này

  Cá Rồng - Arowana, Dragon fish, Malayan Bonytongue, Nirwana
Đăng bởi: ngoctuan - 05-31-2014, 11:29 PM - Diễn đàn: Cá Rồng - Phụ kiện - Trả lời (1)

Họ cá rồng có các tên gọi dân gian: Arowana, Dragon fish, Malayan Bonytongue, Nirwana. Cá rồng có tên gọi là Arowana xuất phát từ hai tên gọi của chúng ở Indonesia là "Arwana" hay "Nirwana" có nghĩa là lý tưởng, hoàn hảo.

Đây là một loài cá thuộc họ cá xương nước ngọt với tên khoa học Osteoglossidae, đôi khi còn gọi là "cá lưỡi xương" (cốt thiệt ngư). Trong họ cá này, đầu của chúng nhiều xương và thân thuôn dài được che phủ bằng các vảy lớn và nặng, với kiểu khảm ống. Cá có thân thon dài và dẹt bên, có một đôi râu mõm dài, vẩy to lấp lánh, vây ngực dài, vây lưng và vây hậu môn nằm về phía sau, cá có thể đạt tới chiều dài từ 60cm đến 90cm trường hợp ngoại lệ lên đến 120cm và nặng đến 7,2 kg. Đây là loài cá hung dữ và có tuổi thọ cao nhất trong các loài cá được nuôi làm cảnh. Thực tế đã chứng minh tuổi thọ của loài cá này có thể lên đến 50 năm. Cá có các vây lưng và vây hậu môn có các tia vây mềm và dài, trong khi vây ức và vây bụng lại nhỏ. Tên gọi 'cá lưỡi xương' (Bonytongue) có nguồn gốc từ xương dạng răng trên phần sàn của miệng (lưỡi), được trang bị cùng các răng và ngoạm vào các răng ở phần trên trần của miệng. Cá có thể thu được ôxy từ không khí bằng cách hít nó vào trong bong bóng được bao bọc bằng các mao mạch tương tự như phổi. Cá Hải tượng (Arapaima gigas) là "cá thở không khí cưỡng bách".


[Hình ảnh: ca_rong_1.jpg]


Đối với người Trung Hoa và các nền văn hóa Châu Á, đặc biệt là một số nước như Nhật, Đài Loan, Hongkong... hay vùng Đông Á có ảnh hưởng nặng nề của văn hoá Trung Hoa thì con rồng là biểu tượng của sự quyền quý, may mắn và thịnh vượng. Trong mắt của người Trung Hoa, cá rồng với thân hình dài, dáng bơi luôn khoan thai, điềm đạm là biểu hiện cho một phong thái quân tử và sự uy nghi của rồng, đặc biệt cá rồng có bộ vảy lớn với màu sắc vàng, bạc, đỏ... long lánh được liên tưởng đến vảy rồng, râu cá rồng cũng được liên tưởng đến râu của con rồng huyền thoại. Sự tiến hoá hang trăm triệu năm cùng tuổi thọ cao của loài cá này cũng được cho là biểu hiện của sự trường tồn. Chính vì vậy người Trung Hoa nói riêng và người Châu Á nói chung luôn muốn nuôi trong nhà cá rồng với hi vọng tránh được những điều đen đủi, những vận hạn và mang lại sự may mắn, giàu sang và thịnh vượng. Thường thì những con cá rồng màu đỏ được cho là tránh điềm xui và mang lại may mắn trong công việc còn những con cá rồng màu vàng, màu trắng thì được cho sẽ đem lại tài lộc và sự thăng tiến trong công việc kinh doanh. Với các lý do trên cá rồng thường được sử dụng trong phong thuỷ như là một giải pháp mang tính thủ thuật rất hữu hiệu để cải biến môi trường sống và làm việc với mục đích mang lại may mắn và sự phồn vinh cho gia chủ. Trong dân gian đã truyền tụng nhiều câu truyện liên quan đến sự may mắn và giàu sang do cá rồng đem lại cho chủ.


Phân loại và địa động vật học cá rồng
Họ cá rồng là họ cá nguyên thủy (cơ sở) có từ kỷ Hạ đệ tam (khoảng hơn 200 triệu năm trước) và được đặt trong bộ cá vây tia có tên khoa học Osteoglossiformes. Hiện tại còn 10 loài còn sinh tồn đã được miêu tả:


* 3 từ Nam Mỹ
* 1 từ châu Phi
* 4 từ châu Á
* 2 từ Australia


Họ Osteoglossidae là họ cá nước ngọt duy nhất được tìm thấy ở cả hai bên của đường Wallace (ranh giới thời gian bắt đầu thời đại khủng long). Điều này có thể giải thích bằng thực tế là cá rồng châu Á (S. formosus) đã phân nhánh ra khỏi hai loài ở Australia từ chi Scleropages là S. Jardinii và S. Leichardti vào khoảng 140 triệu năm trước, chứng tỏ một điều rằng các dạng cá rồng châu Á đã được lan truyền tới châu Á theo đường qua tiểu lục địa Ấn Độ.


Qua quá trình nghiên cứu khảo cổ học trên thế giới từ trước đến nay đã chứng minh có ít nhất là 5 loài cá cổ, chỉ được biết đến từ các hóa thạch, cũng được phân loại vào họ Osteoglossidae; chúng có niên đại vào khoảng cuối kỷ Phấn Trắng. Các hóa thạch khác có niên đại xa hơn tới cuối kỷ Jura hay đầu kỷ Phấn Trắng nói chung được coi là thuộc về siêu bộ cá rồng (Osteoglossomorpha ). Các hóa thạch của cá dạng cá rồng được tìm thấy trên mọi châu lục, ngoại trừ châu Nam Cực.


[Hình ảnh: ca_rong_2.jpg]


Các loài cá rồng
Họ cá rồng chứa hai phân họ là Heterotidinae (2 loài) và Osteoglossinae (8 loài) đã biết.


* Phân họ Heterotidinae
o Chi Arapaima
+ Arapaima gigas : Cá hải tượng. Nguồn gốc Nam Mỹ
o Chi Heterotis
+ Heterotis niloticus : cá rồng châu Phi, khổng tượng châu Phi, rồng đen châu Phi. Nguồn gốc châu Phi
* Phân họ Osteoglossinae
o Chi Osteoglossum
+ Osteoglossum bicirrhosum : Cá ngân long. Nguồn gốc Nam Mỹ
+ Osteoglossum ferreirai : Cá hắc long. Nguồn gốc Nam Mỹ.
o Chi Scleropages
+ Scleropages aureus : Kim long hồng vĩ. Nguồn gốc châu Á
+ Scleropages formosus : Cá thanh long ( cá mơn ). Nguồn gốc châu Á
+ Scleropages jardinii : Cá trân châu long, kim long Úc, châu long Úc rằn. Nguồn gốc Australia
+ Scleropages legendrei : Cá huyết long, cá rồng đỏ. Nguồn gốc châu Á.
+ Scleropages leichardti : Cá hồng điểm long, châu long Úc đốm sao. Nguồn gốc Australia
+ Scleropages macrocephalus : Cá thanh long Borneo, kim long Indonesia. Nguồn gốc châu Á.


Theo cách phân loại của giới sinh vật cảnh thì cá rồng được phân loại theo biên giới địa lý bao gồm các loại sau:


* Cá rồng Châu Á
* Cá rồng Châu Úc
* Cá rồng Châu Mỹ
* Cá rồng Châu Phi.


Nghiên cứu di truyền học gần đây chỉ ra rằng nhánh dẫn tới cá hải tượng và cá rồng châu Phi đã phân nhánh vào khoảng 220 Ma (Tức cách đây khoảng 220 triệu năm) trong kỷ Hậu Trias, nhánh dẫn tới ngân long và hắc long của Nam Mỹ đã rẽ nhánh khoảng 170 Ma (khoảng 170 triệu năm), trong Trung Trias. Nhánh dẫn tới các loài cá rồng Australia phân nhánh ra khỏi nhánh dẫn tới các loài cá rồng châu Á vào khoảng 140 Ma (khoảng 140 triệu năm), trong kỷ Tiền phấn trắng.

In mục này

  Cá Rồng: Cá rồng Châu Á
Đăng bởi: ngoctuan - 05-31-2014, 11:27 PM - Diễn đàn: Cá Rồng - Phụ kiện - Không có trả lời

Cá rồng châu Á (Scleropages Formosus) là một trong những loài cá cảnh hàng đầu bởi vì sự khan hiếm, danh tiếng, giá trị và vẻ đẹp tự nhiên của chúng. Đây cũng là giống loại cá rồng có nguy cơ bị tuyệt chủng nơi hoang dã và được bảo vệ bởi CITES (Hội Nghị Công Ước Quốc Tế Về Giao Thương Các Giống Loại Động Thực Vật Hoang Dã Đang Có Nguy Cơ Bị Tuyệt Chủng) từ năm 1980.

Chỉ có huyết long, kim long quá bối, kim long hồng vỹ, thanh long, và thanh long chỉ vàng (yellow tail arowana) bên Nam Á là được cho vào sổ đỏ để được bảo vệ, được giới thưởng ngoạn ưa chuộng, vì thế người chơi phải tốn một số tiền không nhỏ để sở hửu chúng . Một giống loại cá rồng có họ với cá rồng Châu Á là kim long Châu Úc (Scleropages jardini, và Scleropages leichardti), không được bảo vệ bởi CITES, vì số lượng của loại kim long Úc nơi hoang dã rất nhiều nên giá trị kinh tế cũng vì thế thấp nếu so với giá cả của cá rồng Châu Á . Ngân long và Hắc long có nguồn gốc từ Nam Mỹ cũng là bà con có họ xa với giống cá rồng Châu Á, cũng không được bảo vệ bởi CITES, và có giá trị kinh tế thấp nhất trên thị trường.Cấu tạo cá rồng Châu Á


[Hình ảnh: 9-rong_chau_a_1.jpg]


Lý do cá rồng Châu Á có tên trong sổ đỏ của các động thực vật cần phải được bảo vệ bởi CITES là vì trong thập niên 1970, số lượng các giống loại cá rồng Châu Á ngoài thiên nhiên hoang dã đã tuột dốc đến mức độ nguy hiểm và báo động vì chúng bị săn lùng, đánh bắt quá mức vì giá trị kinh tế của chúng. Được xem là có hình dạng và dáng bơi tương tự như con rồng trong truyền thuyết, người ta tin tưởng rằng cá rồng tượng trưng cho may mắn, thịnh vượng, của cải và sức khoẻ. Vì vậy, chúng được nuôi với mong muốn đem lại tác dụng phong thuỷ tích cực. Người Trung Hoa tin cá rồng Châu Á có khả năng "trừ tà", giải tỏa những chuyện không may cho gia chủ, vì thế khi sở hửu và chăm sóc chúng tốt, gia chủ đổi lại sẽ có được sự "bảo vệ" của giống loại cá rồng này. Ngoài ra, màu sắc của một số loài cá rồng châu Á như huyết long và kim long quá bối cũng đẹp nhất trong họ cá rồng nói chung.


Cá rồng châu Á phân bố ở các nước trong vùng Đông Nam Á và có quan hệ họ hàng gần với cá rồng châu Úc hơn là cá rồng Nam Mỹ do cá rồng Châu Á được phân nhánh tách ra từ cá rồng Châu Úc với niên đại khoảng 140 triệu năm trước. Vây ngực và vây hậu môn của chúng lùi xa về phía sau tuy nhiên cá rồng châu Á chỉ có 5 hàng vảy mỗi bên thân so với 7 hàng vảy ở cá rồng châu Úc. Điều ngạc nhiên là dù rất nổi tiếng nhưng những nghiên cứu khoa học liên quan đến cá rồng châu Á lại khá ít ỏi, bằng chứng là trong một thời gian rất dài tất cả cá rồng châu Á đều được gộp chung dưới một tên khoa học là Scleropages formosus cho dù chúng có bề ngoài rất khác biệt. Sự đa dạng về chủng loại cá rồng trên thị trường cá cảnh là một minh chứng cho điều này. Nghiên cứu của Pouyaud và đồng sự (2003) đã phân lập các loài cá rồng ở Indonesia gồm Huyết Long (Scleropages legendrei), Thanh Long Borneo (Scleropages macrocephalus) và Kim Long Hồng Vĩ (Scleropages aureus) thành những loài riêng biệt. Kim Long Quá Bối và Thanh long Nami vẫn được xếp chung với thanh long dưới tên Scleropages formosus cho dù chúng cũng có thể là những loài riêng biệt.


[Hình ảnh: 9-rong_chau_a_2.jpg]


Thậm chí, trong từng loài cũng có thể có những dòng khác nhau. Về màu sắc, bên cạnh màu chủ đạo nằm ngoài viền vảy, màu ở trung tâm vảy gọi là màu nền. Ở mỗi loài lại phân ra nền xanh dương "blue-based", nền xanh lá "green-based", nền vàng "gold-based", nền tím "purple-based"… Màu nền lan rộng trên mặt vảy làm màu viền hẹp lại là loại vảy bản mỏng "thin frame", bằng ngược lại màu nền co cụm ở tâm vảy là loại vảy bản dày "thick frame". Về hình dáng, có dạng đuôi hình thoi "diamond shape" và dạng đuôi hình quạt "fan shape", có dạng đầu hình muỗng "spoon head" và dạng đầu hình viên đạn "bullet head", có dạng thân rộng và ngắn, có dạng thân dài và mảnh mai… Việc lai chéo (cross breed) các dòng cá rồng hoang dã ở một loài diễn ra khá phổ biến trong các trang trại cá cảnh ở Thái Lan, Malaysia, Singapore và Indonesia. Do đó, các nghiên cứu khoa học về cá rồng châu Á gặp rất nhiều khó khăn vì phải dựa vào các cá thể hoang dã vốn còn sót lại rất ít.

In mục này

  Saratoga - cá rồng châu Úc
Đăng bởi: ngoctuan - 05-31-2014, 11:25 PM - Diễn đàn: Cá Rồng - Phụ kiện - Không có trả lời

Tác giả Chuong Ngo - nguồn http://aquariumhobbyist.com/ozarowana/

[Hình ảnh: saratoga.jpg]

Về trang web cá rồng châu Úc
Xin chào và cám ơn bạn đã viếng thăm trang web về cá rồng châu Úc. Tôi đoán rằng một khi đến đây, bạn chắc chắn là người yêu thích cá cảnh, bạn có lẽ đang thực sự nuôi cá rồng hay rất yêu thích chúng. Tôi xây dựng trang web này bởi vì trong nhiều năm trời tìm kiếm tôi thấy có rất ít thông tin về cá rồng châu Úc (Saratoga) trên mạng. Tôi cũng nhận thấy từ "saratoga" chủ yếu được sử dụng chỉ ở Úc. Tuy một số trang web cũng có vài thông tin về cá rồng châu Úc nhưng trang này được xây dựng dành riêng cho chúng bởi vì tôi sống ở Úc và nuôi cả hai loài jardinii và leichardti. Bởi vì tôi chưa hề nuôi cá rồng châu Á nên tôi nghĩ tôi sẽ nuôi loài có họ hàng gần với cá rồng châu Úc này. Chúng là những loài cá cảnh tuyệt vời và dễ nuôi. Thông tin ở đây được sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau như sách, người chơi cá (ở Úc và nước ngoài) và dĩ nhiên là cả kinh nghiệm của tôi nữa. Hy vọng rằng nó có ích đối với các bạn!

Các loài Saratoga
Châu Úc là quê hương của hai loài Saratoga hay cá rồng có quan hệ huyết thống gần gũi. Loài đầu tiên được biết dưới các tên: Northern Saratoga, Jardine Saratoga, Jardini Saratoga, Gulf Saratoga, kim long Úc hay trân châu long (tên khoa học Scleropages jardinii). Loài thứ hai được biết dưới các tên: Dawson River Saratoga, Southern Saratoga, Spotted Barramundi, Leichardti Saratoga hay hồng điểm long (tên khoa học Scleropages leichardti). Cả hai loài từng được gọi là Barramundi (cả ở châu Úc và những nơi khác trên thế giới) mặc dù cách gọi này dễ gây nhầm lẫn với loài Barramundi thực sự, tức loài cá vược hay cá chẽm (Lates calcarifer). Những hoá thạch sống này xuất hiện cách nay khoảng 200 triệu năm. Tên chi Scleropages có nghĩa “nút chặt” (sclero=chặt, cứng; pages=cột nút) ám chỉ những cái vảy của chúng. Loài jardinii được đặt theo tên của nhà sưu tầm và tự nhiên học F. Jardine. Loài leichardti được đặt theo tên của nhà thám hiểm L. Leichardt.

[Hình ảnh: thumbp2.jpg] [Hình ảnh: thumbs2.jpg]
(Nhấp chuột vào hình để phóng to).

Các loài Saratoga là những thành viên nổi bật thuộc về một họ cá cổ xưa và có phân bố rộng, họ cá rồng Osteoglossidae. Thân hình chúng rất dẹp với cái miệng nhô lên phía trên, vảy lớn và râu nằm ở cằm. Điểm khác biệt giữa chúng với các loài cá rồng châu Á ở chỗ, đường bên cá rồng châu Úc có từ 32-35 vảy trong khi cá rồng châu Á chỉ có từ 21-25 vảy. Lưng Saratoga có màu từ xanh lá cây-xám đến nâu, thân có màu vàng-đồng (đối với jardinii) hay xanh lá cây-ánh bạc (đối với leichardti). Trên vảy leichardti có từ một đến 3 chấm đỏ trong khi vảy jardinii lại có rất ít chấm, thay vào đó hầu hết các vảy có những điểm dính liền với nhau thành một đường viền. Màu vây tương tự như màu thân hay đậm hơn. Cả hai loài đều có những chấm trên vây và đuôi, leichardti có vô số những chấm nhỏ xếp thành hàng trong khi jardinii có ít chấm hơn nhưng chấm lại to. Ở jardinii, các chấm có màu từ vàng, cam đến đỏ trong khi ở leichardti, các chấm luôn có màu đỏ-cam. Hầu hết các cá thể jardinii có những đường vằn vện và đốm trên nắp mang, trong khi (theo tôi được biết) chúng không hề xuất hiện trên nắp mang của loài leichardti. Một đặc điểm khác nữa ở jardinii đó là đầu hơi cong xuống so với lưng làm cho chúng trông hơi nhỏ so với thân. Trái lại đầu của leichardti không cong và trông bằng phẳng so với lưng.

[Hình ảnh: thumbp3.jpg] [Hình ảnh: thumbs3.jpg]
(Nhấp chuột vào hình để phóng to).

Saratoga hoang dã thường nặng từ 0.5 đến 3 kg nhưng cũng có con nặng tới 10 kg. Loài ở phía bắc lớn nhanh hơn so với chị em họ với nó ở phía nam. Loài phía bắc bắt đầu sinh sản vào đầu mùa mưa, khoảng tháng 10. Loài phía nam bắt đầu sinh sản vào các tháng 8 hay 9 và cá con xuất hiện trên thị trường cá cảnh vào khoảng tháng 11. Cá rồng châu Úc tương tự như các loài cá rồng khác, cũng sinh sản bằng hình thức ấp miệng tức chúng ngậm trứng trong miệng để ấp (từ 50 đến 100 trứng). Khi cá con nở, chúng được cá mẹ chăm sóc (khoảng 5 tuần) và khi gặp nguy hiểm, nó sẽ há miệng để cá con chạy trốn tìm nơi trú ẩn.

Hình ảnh được lấy từ: Australian Native Fishes for Aquariums (Cá cảnh nội địa Úc) của Leggart và Merrick.

Địa bàn phân bố
Saratoga thích hợp với các dòng chảy và sông vùng nhiệt đới. Chúng đặc biệt ưa thích những vùng nước yên tĩnh bao phủ bởi cây bông súng, những kênh nước trên bờ có nhiều dứa dại và đầm nước tù. Người ta thường thấy chúng nổi lên gần mặt nước ở những nơi như vậy. Loài ở phía nam có thể chịu đựng được nhiệt độ thấp đến 10 độ C trong một thời gian ngắn trong khi loài ở phía bắc không thể sống sót khi nhiệt độ xuống thấp hơn 15 độ C. Saratoga là loài săn mồi tầng mặt và thường bơi gần lớp thực vật nổi trên mặt nước, đặc biệt là những vùng có lá súng, rễ dứa dại và bên dưới nơi có đàn dơi cáo sinh sống. Chúng là những loài săn mồi cơ hội, chúng săn cá nhỏ, tôm và tép. Ếch nhái, thằn lằn, rắn, côn trùng và cả những con chim nhỏ cũng nằm trong thực đơn của chúng.

[Hình ảnh: hthumb01.jpg] [Hình ảnh: hthumb02.jpg] [Hình ảnh: hthumb03.jpg]
[Hình ảnh: hthumb04.jpg] [Hình ảnh: hthumb05.jpg] [Hình ảnh: hthumb06.jpg]
(Nhấp chuột vào hình để phóng to).

Cả hai loài đều phân bố ở những vùng nước ngọt gần bờ biển. Loài phía nam (S. leichardti) cư ngụ trong hệ thống sông Dawson/Fitzroy ở vùng trung tâm bang Queensland. Loài phía bắc (S. jardinii) phân bố rộng hơn, rải rác từ phía tây Cape York, Gulf Country đến phía đông bang Northern Territory. Scleropages leichardti được con người thả vào hàng loạt các con sông, đầm nước và ao nuôi xa hơn về phía nam, vùng Brisbane. Mục đích của việc chăn thả này là để phục vụ cho việc câu cá. Loài phía bắc cũng được phát hiện ở New Guinea.

[Hình ảnh: distjarini.jpg][Hình ảnh: distleichardti.jpg]

Hình ảnh được lấy từ: Australian Native Fishes for Aquariums (Cá cảnh nội địa Úc) của Leggart và Merrick.

Hình thái màu
Tôi từng nghĩ rằng S. jardinii và S. leichardti có màu sắc cố định nhưng giờ thì tôi biết nhiều hơn nhờ kinh nghiệm từ những người khác và từ chính bản thân mình. Cả hai loài đều có khả năng điều chỉnh màu sắc trên thân và vây tuỳ vào môi trường mà chúng sinh sống. Trong môi trường sáng sủa (chẳng hạn như để đèn sáng, không có nền đáy và giấy dán hồ) thì cá sẽ nhạt màu. Nhưng nếu hồ tối hơn (chẳng hạn như để đèn mờ, bố trí nền đáy bằng sỏi đậm màu… ) thì cá sẽ đậm màu hơn. Jardinii non cũng thay đổi màu sắc một khi chúng trưởng thành. Loại đèn chiếu sáng (đèn màu) cũng tác động đến màu sắc của cá.

Tôi từng thấy jardinii có các màu: đỏ, vàng, đồng, đen-tím, tím nhạt và xanh lá cây nhạt. Dù vậy, đa số những màu này có lẽ hình thành dưới tác động của môi trường. Tôi tin rằng loài leichardti ít có khả năng thay đổi màu sắc theo môi trường so với loài jardinii. Leichardti thường có màu ô-liu ửng đỏ/hồng hay thậm chí ửng xanh dương. Một người nuôi cá ở Queensland gửi mail cho tôi kể về con leichardti màu đỏ của anh nhưng tôi chưa hề thấy tấm hình nào cả. Nếu ai thấy những dạng màu sắc khác và có cả hình ảnh thì tôi sẽ bổ sung vào đây. Sau đây là vài hình ảnh về hình thái màu ở jardinii và leichardti.

VNRD: còn có cả những cá thể khiếm khuyết sắc tố như bạch tạng (albino) và vàng (xanthic).

Trân châu long (S. jardinii)
[Hình ảnh: jar.jpg] [Hình ảnh: darkj1bed.jpg]
[Hình ảnh: gjardini.jpg] [Hình ảnh: gold1.jpg]
[Hình ảnh: goldaust.jpg] [Hình ảnh: redaussie.jpg]

Hồng điểm long (S. leichardti)
[Hình ảnh: image029.jpg] [Hình ảnh: lei.jpg]
[Hình ảnh: toga.jpg]

Gợi ý và mách nước
- Một con cá rồng mới đem về thường nhút nhát và sợ người, cá lớn thường nhút nhát hơn cá nhỏ. Hãy chờ vài tuần cho đến vài tháng để cá dạn lần và đòi ăn mỗi khi bạn xuất hiện, đớp thức ăn trên tay của bạn và cư xử như chủ nhân của hồ cá.
- Kích thước cá rồng thích hợp để bắt đầu nuôi là 15 cm, ở kích thước này cá dễ dàng thích nghi với môi trường mới. Nếu có thể, hãy nuôi cá trong hồ đủ lớn cho đến khi cá trưởng thành. Cá lớn hơn thường mất rất nhiều thời gian để thích nghi với môi trường mới.
- Cá rồng rất nhạy cảm với dược phẩm, vì vậy chỉ dùng chúng một cách vừa đủ. Nếu cá có dấu hiệu bị căng thẳng (chẳng hạn mất màu), bạn hãy xả hết thuốc đi. Và hãy nhớ rằng phòng bệnh luôn tốt hơn là chữa bệnh.
- Đa số trường hợp cá rồng cỡ lớn bị chết là do chúng tự nhảy ra khỏi hồ (ngay cả khi có đậy nắp kiếng). Một nắp kiếng nặng hay có vật nặng dằn bên trên sẽ làm giảm thiểu nguy cơ này.
- Như với tất cả những loài cá khác, chất lượng nước cải thiện tốc độ tăng trưởng của cá rồng. Thay nước làm cá mau lớn và mạnh khoẻ. Hồ có kích thước lớn cũng làm cá rồng mau lớn vì nước lâu dơ và có nhiều không gian để cá bơi lội.
- Hiện tượng rách vây ở cá rồng cho thấy chúng bị căng thẳng. Việc kiểm tra độ pH, thành phần hoá học nước và thay nước thường xuyên sẽ cải thiện được tình trạng này.
- Luôn có tranh cãi xung quanh vấn đề có nên cho cá ăn thức ăn tươi sống như cá mồi và cá chép. Nhiều người cho rằng cá mồi truyền bệnh cho cá rồng trong khi một số người khác lại cho rằng dù sao thì những loài săn mồi như cá rồng cũng luôn săn bắt những con cá yếu đuối và bệnh tật.
- Có ý kiến cho rằng cá chép tươi có thể làm cá rồng bị béo phì và gây ra chứng sụp mắt. Tuy nhiên, tôi chưa hề thấy chứng bệnh này ở cá rồng châu Úc.
- Theo tôi, dù cá mồi bán ngoài tiệm có thể chứa mầm bệnh, bạn cũng nên thỉnh thoảng cho ăn bằng cá mồi bởi vì thức ăn tươi sống làm cá rồng xung hơn.
- Đôi khi cá rồng cũng hay kén ăn, bạn hãy kiên trì cho chúng ăn loại thức ăn mà chúng không thích lắm (nhưng đôi khi vẫn ăn) thì rồi chúng cũng sẽ chấp nhận loại thức ăn đó.

Chăm sóc
Thông tin ở đây dựa trên kinh nghiệm nuôi cá rồng của tôi. Theo chỗ tôi biết thì chúng cũng tương tự đối với cá rồng châu Á và những loài cá rồng khác.

Hồ nuôi và trang trí
- Hồ có dung tích 600 lít trở lên là lý tưởng để nuôi cá rồng châu Úc. Chiều dài và chiều rộng quan trọng hơn là chiều cao. Chiều dài hồ nên gấp 3 lần chiều dài của cá và chiều rộng phải tương đương với chiều dài của cá.
- Có nên trải sỏi hay không? Với loài cá rất lớn (không chấp nhận cá khác cùng hồ) thì không nên thả sỏi để dễ làm vệ sinh. Tuy nhiên có người nói rằng nền hồ trống trải phản chiếu ánh sáng làm cá rồng hay nhìn xuống dưới, riết sẽ tạo ra chứng sụp mắt (ở cá rồng châu Úc???).
- Có thể sử dụng đá tảng và rễ cây để trang trí tuy nhiên tránh vật cồng kềnh ngăn cản cá bơi lội. Và nhớ không nên để chúng có cạnh sắc. Người ta thường trang trí hồ khi cá còn nhỏ, nhưng khi cá lớn lên và thiếu không gian để bơi lội, chúng có thể tự làm mình bị thương.
- Có thể thả thêm rong để trang trí và làm thức ăn cho cá. Tôi thả rong mái chèo Vallisnera (lá dài như lá cỏ) và con jardinii đôi khi ăn chúng. Còn con leichardti thì lại rỉa rong lá nhọn (Amazon sword). Cả hai thích đùa nghịch với rong làm tôi phải mất công vệ sinh hồ.

Chất lượng nước
- Nếu là hồ mới, bạn nên để hồ vận hành một thời gian trước khi thả cá. Nhiều người hỏi tôi rằng tại sao cá không chịu ăn, tôi phát hiện ra rằng hồ của họ chưa hề được khởi động trước đó.
- Thành phần nước chỗ tôi ở hoàn toàn thích hợp để nuôi cá. Nước máy có độ pH là 7, độ cứng khoảng 100 ppm có nghĩa là nước mềm.
- Tôi thường khử chlor trước khi thay nước nhưng đôi khi không có thời gian nên tôi thay nước trực tiếp, lúc đó cá trông có vẻ hơi khác so với bình thường.
- Nhiệt độ nước thông thường là 27 độ C trừ vài tháng mùa hè, nhiệt độ có thể lên đến 30 độ C.
- Tôi thay nước 3 lần mỗi 2 tuần, mỗi lần thay 1/3 nước hồ. Thay nước mỗi tuần cũng tốt, tất cả phụ thuộc vào việc bạn cho cá ăn nhiều hay ít.
- Chừng nào mà nước hồ còn sạch và ổn định (nghĩa là độ pH và nhiệt độ không thay đổi nhiều) thì bạn sẽ không gặp phải vấn đề gì.
- Bộ lọc cho hồ 650 lít của tôi là máy lọc thùng hiệu Eheim 2228. Bởi vì chỉ có vài con cá lớn nên lọc dưới dạng sinh học là chủ yếu. Tôi sử dụng ehfimech (ống gốm) và ehfisubstrat (loại đá trắng giúp vi khuẩn phát triển).
- Tôi cũng sử dụng bộ lọc công suất có gắn bông lọc cho kết quả lọc rất tốt.

Thức ăn và nuôi dưỡng
- Tôi thường cho cá ăn mọi thứ mà tôi có, khoảng 2-3 lần một ngày. Tuy nhiên, mỗi lần tôi chỉ cho cá ăn vừa đủ.
- Sau đây là khẩu phần thức ăn cho cá rồng của tôi: dế, tim bò đông lạnh, trùn đất, tôm đông lạnh mua ở siêu thị, trùn đỏ đông lạnh (VNRD: đây là loại giun tơ dùng để câu cá, không phải ấu trùng muỗi lắc như chúng ta thường biết), thức ăn viên hiệu Hikari, cá đông lạnh mua ở tiệm câu cá, thỉnh thoảng kèm thêm một ít cá chép, cá mồi và tép tươi.
- Cá của tôi chủ yếu được nuôi bằng tim bò, cá và tôm đông lạnh.
- Tôi thấy sử dụng thức ăn tươi hơi đắt nhưng cá rồng lại có bạn cùng hồ. Dế ở Úc rất đắt, 15-20 con lớn giá 5 đô la, trong khi cá chép chỉ có giá từ 80 cent đến 1 đô la.
- Tim bò được để đông lạnh, cá được để lạnh và tôm được để lạnh hay tan đá trước khi cho cá ăn để cá nuốt chửng và thức ăn không rữa trong nước.
- Cho cá ăn thức ăn giàu protein làm nước mau dơ nên cần phải thay nước nhiều.

Thực đơn cho cá rồng
- Viên tôm (Chris D.): Tôi trộn bằng tay các loại thức ăn sau đây: giáp xác nước mặn krill hiệu Tetra (chỉ dùng phần đầu, phần thân tôi ngâm với vitamin để cho cá ăn riêng), Tetra Jumbo Min và trùn đỏ khô đông lạnh hiệu Tetra. Tỷ lệ các loại tương đương nhau, tất cả được trộn đều. Sau đó tôi đổ hỗn hợp vào hộp kín.

Tôi rã đông tôm hùm mua ở siêu thị, cắt chúng thành từng miếng nhỏ và trộn với hỗn hợp ở trên. Tôi phải làm viên tôm bởi vì cá rồng của tôi không chịu ăn tôm đông lạnh. Chúng nhai nát tôm rồi phun hết ra. Tôm không nổi nên thật mất công khi phải vớt vụn tôm rơi ở đáy hồ ra. Khi tôm được trộn chung với hỗn hợp, nó sẽ nổi vài giây khi thả vào hồ. Ngoài ra, cá của tôi cũng chẳng chịu ăn thức ăn viên tổng hợp, đôi khi chúng cũng ăn nhưng làm vãi rất nhiều vụn thức ăn.

Vì vậy, cá rồng được nuôi bằng khẩu phần… giáp xác nước mặn krill, thức ăn viên, trùn đỏ và tôm, tất cả được trộn chung thành một viên nhỏ. Cá rồng của tôi rất mạnh khoẻ, sinh động và thân thiện, có lẽ khẩu phần thức ăn tôi nuôi chúng tạo nên sự khác biệt đó và cả chất lượng nước nữa. Dường như cá rồng tiêu hoá hết loại thức ăn trên sau 3 giờ.

- Hỗn hợp tim bò (Chuong): tôi sử dụng hai quả tim bò lớn đã lạng hết mỡ và gân. Bỏ thêm tôm đã lột vỏ, khoảng 1/3 đến 1/4 khối lượng tim bò. Bạn cũng có thể trộn thêm thức ăn viên nếu cá của bạn không ăn chúng. Vitamin, viên tảo spirulina, krill, đậu hay bất kỳ thứ gì mà bạn có thể nghĩ ra. Đừng quá nghiêm trọng hoá vấn đề.

Xay nhuyễn hỗn hợp trên rồi đổ vào một cái khay làm bánh (độ dày dưới 1 cm). Đặt khay này vào tủ lạnh khi mẹ bạn vắng nhà (nhớ bao lại để tránh toả mùi) và khi thức ăn đã đông cứng thì cắt nó ra thành những mảnh lớn. Những mảnh này được trữ đông để lấy ra sử dụng dần. Khi cho cá ăn, cắt mảnh lớn thành nhiều mảnh nhỏ vừa với miệng cá. Tất cả các loài cá đều thích ăn tim bò, kể cả cá đĩa.

Loại thức ăn này nổi trên mặt nước nên thích hợp cho cá rồng. Nếu cá phun thức ăn ra thì có lẽ miếng thức ăn hơi lớn, bạn nên cho cá ăn miếng nhỏ trước, khi quen rồi nó sẽ chấp nhận miếng lớn hơn. Phần vụn thức ăn rơi vãi cần được hút ra ngay lập tức.

Chữa bệnh
- Tôi thấy cá bị bệnh nấm một lần và bệnh này cũng dễ chữa. Thường thì bệnh tự lành khi tăng nhiệt độ và bỏ thêm ít muối.
- Cẩn thận khi sử dụng thuốc. Cá rồng rất nhạy cảm với chúng… Tôi từng làm chết một con. Cá rồng châu Úc rất khó nhiễm bệnh một khi chúng khoẻ mạnh. Bằng mọi giá tôi tránh sử dụng thuốc.

Câu hỏi thường gặp
Làm sao phân biệt cá đực và cá cái?
Tôi không nghĩ là có thể phân biệt được. Mặc dù nhiều người nói rằng cá đực có miệng rộng (để ngậm trứng) và phần bụng trông góc cạnh hơn. Nhưng ở các loài Saratoga, con cái mới ngậm trứng. Vì vậy ngoại trừ các chuyên gia, tôi không nghĩ một người bình thường có thể phân biệt được cá đực hay cá cái bằng cách quan sát.

Tập cho cá ăn thức ăn viên như thế nào?
Tôi thấy điều này làm mọi người bối rối. Cá không chịu ăn bất kỳ thứ gì mà chúng chưa quen miệng. Vì vậy bạn nên tập cho chúng ăn nhiều loại thức ăn khác nhau từ khi chúng còn nhỏ. Làm vậy để cá của bạn khỏi kén ăn và nhờ đó có đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho sức khỏe của chúng. Có con ăn đủ loại thức ăn nhưng cũng có con rất kén ăn cho dù bị bỏ đói. Cá có thể nhịn ăn rất lâu và bỏ đói chúng không phải là giải pháp thích hợp, đặc biệt là đối với những con cá non đang trong giai đoạn trưởng thành. Ví dụ, con leichardti của tôi trước đây không ăn thức ăn viên nhưng bỗng một ngày nó lại chịu ăn. Tôi đoán bởi vì nó sống chung với những con tai tượng Phi mà tôi cho chúng ăn thức ăn viên. Những loài Saratoga thường đớp thức ăn viên vào miệng rồi phun ra, sau khi đã quen với loại thức ăn này thì chúng sẽ thích. Tôi đề nghị bạn nên bỏ thêm một ít thức ăn viên vào mỗi khi cho cá ăn rồi sau đó vớt ra nếu chúng không chịu ăn. Làm như vậy cho đến khi chúng chấp nhận thức ăn viên. Thức ăn viên có đầy đủ chất dinh dưỡng, bạn nên cho cá ăn kèm với những loại thức ăn khác.

Tôi có thể thay nước bằng nước máy?
Có thể, nhưng tốt hơn hết bạn nên xử lý nước trước khi thay. Cách xử lý nước: bạn để một ngày cho hả hết chlor, xử dụng chất khử chlor… và sưởi ấm nước cho bằng với nhiệt độ nước hồ. Bạn nên dùng ống nước loại cũ để thay nước. Ống mới có thể chứa chất chống nấm và tảo bên trong. Bạn có thể kiểm tra bằng cách cắm một đầu vào nước và ngửi ở đầu kia, nếu là ống mới bạn sẽ ngửi thấy mùi chất hoá học. Tôi bỏ một nửa phần chất khử chlor vào hồ, rồi để nước chảy vào thật chậm đồng thời bỏ thêm một nửa phần chất khử còn lại. Tôi thường thêm 200 lít nước trong vòng 10-12 tiếng tuỳ vào mùa hè hay mùa đông.

Cá bị bong vảy, nó có mọc lại không?
Có. Cá non thường mọc vảy khác trong vòng vài ngày, nhưng cá lớn mất nhiều thời gian hơn.

Cá của tôi bị rách vây, tôi phải làm sao?
Rách vây có nghĩa là cá bị căng thẳng. Hồ có được khởi động chưa? Tốt nhất bạn nên thay nước và sử dụng nước đã qua xử lý.

Tại sao cá của tôi trốn vào góc và bỏ ăn khi tôi xuất hiện?
Một lần nữa, hồ có lẽ chưa được khởi động một cách thích hợp hay cá mới thả và chưa quen với hồ. Cá của bạn chưa quen với người và môi trường xung quanh. Cá non làm quen rất nhanh trong khi cá lớn phải mất đến vài tháng. Cố gắng di chuyển nhẹ nhàng khi lại gần hồ vì chuyển động bất ngờ làm cá giật mình và nhảy ngay cả khi nó đã quen với hồ.

Tôi nên cho cá ăn bao nhiêu và trong bao lâu?
Cá rồng châu Úc đạt đến kích thước 45 cm, sau đó chúng lớn chậm lại. Giai đoạn này tôi cho chúng ăn và thay nước rất nhiều. Bạn có thể làm cá bị còi nếu cho chúng ăn không đủ. Tốt nhất nên cho cá ăn vừa đủ và cho ăn nhiều lần hơn là cho ăn rất no một lần. Lượng thức ăn tuỳ theo mỗi người vì kích thước hồ không giống nhau. Hồ nhỏ thường tích tụ nhiều chất thải nhanh hơn hồ lớn. Bộ thử nitrate rất cần thiết để cân nhắc lượng thức ăn và thời điểm cần thay nước. Nên nhớ rằng cho cá ăn bao nhiêu không quan trọng… mà quan trọng ở chỗ bao lâu thì bạn thay nước.

Tôi có thể cho cá ăn gián và các côn trùng khác?
Mặc dù cá rồng rất thích ăn côn trùng, tôi nghĩ rằng không nên mạo hiểm cho cá ăn côn trùng mà bạn bắt được trong vườn. Gián và các loài côn trùng khác có thể tích tụ chất diệt côn trùng từ môi trường xung quanh. Bạn nên sử dụng dán, dế và trùn được nuôi riêng làm thức ăn cho cá.

Tôi có thể cho cá rồng ăn cá mồi?
Vấn đề là cá mồi thường mang mầm bệnh và truyền cho cá của bạn. Cá chép chứa nhiều chất béo và làm cá rồng bị sụp mắt. Có nhiều loại thức ăn tươi sống khác không chứa mầm bệnh chẳng hạn như trùn đất. Nếu bạn cho cá rồng ăn cá mồi, có lẽ bạn nên tự nuôi cá bảy màu, convict hay những loài cá dễ lai tạo khác.

Tôi nên để đáy hồ trống hay rải sỏi?
Đáy hồ trống dễ làm vệ sinh hơn. Điều này có nghĩa là nước sạch và cá cũng lớn mau hơn. Nước cần được xử lý trước bởi vì tôi từng thấy nước trở nên đục hơn khi thay trực tiếp từ ống nước và phải thả sỏi vào để xử lý. Đáy trống cũng được cho là nguyên nhân làm cá sụp mắt bởi vì nó hay nhìn xuống tia phản chiếu từ bên dưới.

Làm sao để phân biệt jardinii và leichardti?
Cách dễ nhất là quan sát nắp mang. Nếu có hoa văn thì đó là jardinii còn không có gì là leichardti. Khi cá còn nhỏ thì rất khó phân biệt (tham khảo phần Các loài Saratoga)

Trân châu long (Scleropages jardinii): nắp mang có hoa văn - vảy có viền bán nguyệt – vây có đốm lớn - đầu chúc xuống - râu chỉa ra phía trước và lên trên
Hồng điểm long (Scleropages leichardti): nắp mang không có hoa văn - vảy có từ 1 đến 3 đốm đỏ - vây có nhiều đốm nhỏ thẳng hàng - đầu thẳng – râu chúc xuống

Nên nuôi loài cá rồng nào?
Tôi nghĩ jardinii dễ nuôi hơn leichardti vì loài sau nhát và hay nhảy. Con leichardti của tôi nhảy ra khỏi hồ vài lần trong khi jardinii không hề. Cả hai loài đều có những đặc điểm riêng vì vậy tất cả đều tuỳ vào ý thích của bạn. Ở ngoài nước Úc, leichardti mắc hơn jardinii bởi vì chúng được Úc liệt vào danh sách những loài cần được bảo vệ.

Tôi mua cá rồng châu Úc ở đâu?
Tốt nhất bạn nên hỏi ở tiệm cá gần nhà. Cá rồng châu Úc được bán ở khắp nơi trên thế giới bởi vì chúng không nằm trong danh sách động vật bị đe doạ tuyệt chủng và người ta lai tạo chúng ở Úc và châu Á. Nếu bạn không tìm thấy ở các tiệm cá gần nhà thì hãy lên các diễn đàn để hỏi xem có ai bán chúng và làm sao để mua.

Loài nào có thể nuôi chung với cá rồng?
Tránh nuôi chung với loài quá hung dữ hay chậm chạp. Nhiều người nuôi chung với cá tai tượng Phi, cichlid cỡ lớn, cá chùi kiếng và tôm càng nước ngọt mà không gặp rắc rối nghiêm trọng nào cả. Nên nhớ rằng tất cả các loài cá đều ít nhiều có tính hung dữ. Có con hoàn toàn hiền lành nhưng cũng có con gặp đâu giết đó.

Tôi có thể nuôi chung cá rồng với nhau?
Hiếm khi người ta nuôi cá rồng châu Úc chung với nhau. Mặc dù người ta nuôi chúng với ngân long, nhưng phải nuôi khi chúng còn nhỏ. Nếu bạn muốn nuôi hai con cùng một hồ, bạn nên nuôi chúng với nhau từ khi còn rất nhỏ. Bạn nên theo dõi sát sao và cách ly chúng ra nếu thấy có xung đột. Tôi từng quan sát thấy cả một bầy S. leichardti ngoài tự nhiên nên bạn có thể nuôi một nhóm (khoảng 6 con) trong hồ thật lớn hay ao. Tôi không chắc là loài jardinii cũng giống như vậy.

In mục này

  Cá rồng: Huyết Long (Scleropages Legendrei)
Đăng bởi: ngoctuan - 05-31-2014, 11:22 PM - Diễn đàn: Cá Rồng - Phụ kiện - Trả lời (2)

Kích thước: Lớn hơn 90cm ngoài thiên nhiên Phân bố: thượng lưu sông Kapuas và vùng hồ Sentarum, tỉnh Tây Kalimantan, đảo Borneo, Indonesia Yêu cầu nước: Mềm, độ acid vừa phải Nhiệt độ: 24-32 độ C
Huyết long (super red) là loài cá rồng phân bố ở thượng lưu sông Kapuas và vùng hồ Sentarum, tỉnh Tây Kalimantan, đảo Borneo, Indonesia. Hồ Sentarum là một tập hợp gồm vô số những hồ nhỏ ăn thông với nhau bằng hệ thống kinh rạch chằng chịt và đổ ra sông Kapuas. Vùng này phủ đầy bùn đất phát sinh từ lá cây và gỗ mục tạo ra môi trường sống hoang dã cho loài cá sơ khai này, dòng nước đen và nguồn thức ăn đa dạng có tác động tích cực lên màu sắc và hình dạng của chúng. Sự đa dạng về môi trường sinh thái này có thể là nguyên nhân tạo ra vô số những đặc điểm phân hoá ở loài huyết long. Chẳng hạn một số cá thể có thân rộng, một số khác có đầu hình muỗng (spoon head), một số có màu rất đỏ hay một số lại có màu nền rất sậm. Nghiên cứu của các nhà khoa học ở trường Đại học Quốc gia Singapore vào năm 2005 trên 41 cá thể huyết long hoang dã cho thấy độ khác biệt về gen giữa các cá thể là khá lớn, điều này chứng tỏ sự tồn tại của những dòng cá huyết long khác nhau. Tuy nhiên, các nhà khoa học lại không đề cập gì đến đặc điểm bề ngoài của chúng. Việc nghiên cứu xa hơn trong tương lai có lẽ sẽ gặp nhiều khó khăn vì số lượng cá huyết long đang bị suy giảm nghiêm trọng do những biến đổi về môi trường mà chủ yếu là việc khai thác rừng.


[Hình ảnh: huyet_long_1.jpg]


Hiện tại huyết long đứng hàng thứ hai sau quá bối về giá cả, huyết long trong quá khứ đã có lúc còn đắt hơn cả quá bối. Thời gian phải chờ đợi, từ 4 - 6 năm, để cho huyết long trưởng thành và ép giống là lý do tại sao huyết long đã quá đắt trong quá khứ. Tuy nhiên, ngày nay, vì các trại cá rồng đang có giấy phép của CITES để nuôi, ép giống và kinh doanh tại Singapore, Maylaysia, và Indonesia đã tạo nên thặng dư và làm chên lệnh cán cân cung va cầu, nên giá thành của huyết long đã phần nào giảm bớt rất nhiều.


Huyết long thường được biết qua tên phổ thông là huyết long loại 1. Loại này sau khi trưởng thành khoảng đô 3 - 4 năm tuổi hay đôi lúc lâu hơn thì phần nấp mang, vây lưng, hậu môn và đuôi , cùng với các hàng vẩy trên cơ thể sẽ chuyển màu thành màu đỏ rực. Ấn tượng khi thấy một con huyết long, thuần chủng thật to lớn uy nghi và oai vệ bơi lội trong bể quả thật là một hình ảnh khó quên cho nhiều người. Vẻ đẹp của huyết long quá quyến rủ đến độ như bị nghiện cho những người yêu thích chúng được biểu hiện qua bằng chứng là chúng luôn được giới thưởng ngoạn săn lùng để mua.


Dạng đầu hình viên đạn-bullet head (trái) và dạng đầu hình muỗng-spoon head (bên phải).


Dạng đầu hình viên đạn-bullet head (trái) và dạng đầu hình muỗng-spoon head (bên phải).
Thực tế, dựa trên màu sắc của chúng, những nhà kinh doanh cá rồng trước đây đã chia huyết long thành hai loại đó là "chili red" phân bố ở vùng phía Nam và "blood red" phân bố ở vùng phía Bắc hồ Sentarum.


Chili Red: Cá có màu đỏ tươi, thân rộng và dày, dày đều từ đầu cho đến đuôi... Loại "chili red" có nền xanh "green-based", đầu hình muỗng (spoon head) và đuôi hình thoi. "chili red" có mắt màu đỏ và to. Mắt "chili red" lớn đến nỗi có khi viền ngoài của nó "chạm" đến đầu và hàm dưới

Blood red: Cá có màu đỏ sậm, thân dài và mảnh, thuôn về phía đuôi. loại "blood red" có màu đỏ sậm, nền đen nâu "dark-based", đầu hình viên đạn (bullet head) và đuôi hình quạt. loại "blood red" có mắt nhạt màu và nhỏ hơn. Đuôi của "blood red" hình quạt trông đẹp hơn đuôi hình thoi của "chili red".


Đặc điểm này phát triển khi cá còn non giúp chúng ta có thể phân biệt được 2 loại cá một cách dễ dàng.


Huyết long máu có nhiều hơn về số lượng, nên giá cả của chúng cũng vì thế mà rẻ hơn đôi chút so với huyết long ớt. Huyết long ớt khan hiếm hơn về số lượng, nên giá cũng sẽ đắt hơn huyết long máu. Về phần màu sắc đỏ, huyết long máu sẽ lên màu nhanh hơn huyết long ớt, nhanh nhất có thể từ 1 năm và kéo dài cho đến 3 năm. Khả năng lên màu đỏ sớm là lý do tại sao huyết long máu rất được ưa chuộng trong giới chơi cá rồng.


Dù có khác biệt, cả hai đều chuyển sang màu đỏ thực thụ khi đến tuổi trưởng thành. "Chili red" lên màu chậm hơn 1-2 năm so với "blood red" nhưng màu tuyệt đẹp với loại vảy bản mỏng "thin frame". Quá trình lên màu của cả hai tương tự như nhau. Màu cam thường là màu trung gian trước khi cá chuyển sang màu đỏ. Cá biệt có con đến 8 tuổi mà vẫn nhợt nhạt nhưng bỗng lên màu đỏ rực chỉ trong một thời gian ngắn làm người nuôi ngỡ ngàng. Việc đánh giá về huyết long đôi khi gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi nhiều nỗ lực và kiên nhẫn để phát hiện ra tiềm năng thực sự của một con huyết long non.


[Hình ảnh: huyet_long_2.jpg]


Ví dụ về các loại vảy ở loài huyết long: 1- nền xanh, bản mỏng (blue-based, thin frame), 2- nền đậm, bản dày (dark-based, thick frame), 3- dạng đặc biệt khi màu nền hầu như biến mất, toàn bộ mặt vảy phủ màu đỏ.


"Chili red" và "blood red" là tên gọi của các loại cá rồng hoang dã. Nên nhớ rằng các cá thể hoang dã bị cấm mua bán vì chúng là động vật cần được bảo vệ. Các trang trại cá cảnh thường lai chéo hai loại cá này với nhau để cho ra giống huyết long "super red", cho nên trên thực tế, dòng huyết long thuần chủng đúng nghĩa không hề tồn tại trên thị trường cá cảnh cho dù có những cá thể mang đặc điểm của "chili red" hay "blood red".


Cá huyết long chất lượng cao thường có màu vây đỏ sậm và đều ngay từ khi còn nhỏ. Chúng còn có màu sắc nổi bật và lưng thật sậm màu. Những con cá đẹp cũng có nhiều màu ánh kim trên thân. Đặc điểm này hiện rõ khi quan sát cá dưới ánh sáng tự nhiên. Khi cá đạt 25-30 cm, nắp mang và viền vảy phải có màu tím hay đỏ nâu, còn nếu chỉ hanh vàng là không đạt.


Huyết long loại hai như "Banjar red" cũng thường được bán lẫn lộn như huyết long chính hiệu nhưng có thể nhận biết vì vảy và vây của chúng luôn nhạt màu hơn. Những loại huyết long thương mại khác như "golden red" và "orange red" cũng là cá lai và không bao giờ đạt đến màu đỏ thực sự. Tuy nhiên, nếu cá kém chất lượng được cho ăn chất lên màu thì rất khó phân biệt vì chúng cũng đỏ rực như huyết long. Người nuôi cá không nên ham rẻ, tốt nhất là mua cá từ nguồn cung cấp uy tín, cá có gắn chip và cấp giấy chứng nhận đàng hoàng.


Như tất cả các giống loại cá rồng Á Châu, trại cá cũng có những tiêu chuẩn để đánh giá phẩm chất của huyết long. Ví dụ, một con huyết long có tên gọi là Ruby red (huyết long xanh/tím) , có vây , môi, cặp râu thật đậm đỏ, và hàng vẩy màu xanh đậm sẽ có giá rất cao ở kích thước từ 12-15cm. Loại Ruby Red này giá còn đắt hơn cả loại quá bối hạng trung bình. Vì thế, đối với những con huyết long có phẩm chất thuộc hàng tuyệt phẩm, sẽ nhìn đẹp, và đắt giá hơn bất kỳ con quá bối nào. Tương tự như thê, giống loại kim long hồng vỹ nếu vì vài đặc điểm hiếm quý và đẹp nào cũng có thể đắt giá hơn huyết long. Sự đột biến của genes, và kết quả của ép giống đồng huyết thường tạo nên những bất ngờ tuyệt vời.


Bản đồ phân bố của cá rồng Huyết Long


[Hình ảnh: huyet_long_3.jpg]


Địa bàn phân bố tự nhiên của huyết long (Scleropages legendrei): thượng lưu sông Kapuas và hồ Sentarum, tỉnh Tây Kalimantan. Địa bàn phân bố của thanh long Borneo (Scleropages macrocephalus): các nhánh sông Melawi và Pinoh (dòng greytail), tỉnh Tây Kalimantan và sông Barito (dòng yellowtail), tỉnh Trung Kalimantan.


Những thắc mắc về Huyết Long


Sư phát triển về màu sắc của huyết long thường là chủ đề rất thú vị và đầy kịch tính. Có bạn sẽ rất may mắn khi sở hửu một con huyết long mà chỉ trong 1 năm đã lên màu đỏ (cực hiếm). Trong khi đó, những bạn khác thì không được may mắn như thế, và thời gian chờ đợi từ 4-5 năm là chuyện thường tình. Rất nhiều bạn thường than phiền rằng: "cá tôi đã nuôi được 3-4 năm mà chẳng thấy màu đỏ nơi đâu ?" "Cá tôi chỉ có màu cam nhạt, còn màu đỏ đâu thì chẳng thấy ?" Có phải những bạn này đã bị lường gạt bởi trại cá hay lái cá ? Câu trả lời là "rất có thể" và "không".


Câu trả lời "rất có thể" đã bị lường gạt nằm trong phần phân tách sau đây. Huyết long thường được cho nhân giống với kim long hồng vỹ hoặc thanh long hay thanh long chỉ vàng với mục đích để nâng cao phẩm chất và tạo thêm sắc tố đỏ nơi vi kỳ của thanh long hay thanh long chỉ vàng. Kết quả của cuộc tình có tính toán này thường cho ra bọn hậu duệ với hàng vẩy trên cơ thể như thanh long hoặc thanh long chỉ vàng, không có chi thay đổi. Bầy hậu duệ này sẽ được phân loại là huyết long loại 1.5 thay vì là huyết long
loại 1.


Huyết long loại 1, đúng huyết thống thường chỉ có thể đi vào chu kỳ sinh sản vào lúc 4-5 năm tuổi hay cao hơn. Tuy nhiên một khi đã bị lai tạo với một giống loại khác, bon hậu duệ huyết long 1.5 giờ đây sẽ có thể "biết yêu" ở tuổi sớm hơn vào năm thứ 3. Vì thế , thời gian chờ đợi sẽ được rút ngắn lại gần phân nữa và giá cả của loại này cũng vì thế mà rẻ hơn rất nhiều.Các trại cá sản xuất loại huyết long 1.5 cho thị trường cá rồng thường là các trại không đủ vốn kinh doanh. Người tiêu thụ khi yêu thích huyết long, nhưng không đủ khả năng tài chánh , thì sẽ đành ép lòng chịu mua huyết long 1.5. Vì thế trong những lần đi tham quan, khảo giá thị trường, bạn bất chợt thấy một con huyết long nhìn cũng đẹp, nhưng giá tiền thì chỉ bằng 1 phần nào của giá cả huyết long trên thị trường, bạn nên cẩn thận. Một số lái cá ranh mảnh hoặc rất có thể cả chủ tiệm cá cũng chẳng biết vì kém kiến thức về cá rồng, sẽ bán cho bạn con cá rồng đó như là huyết long loại 1, nhưng thật ra chỉ là huyết long loại 1.5. Màu sắc của loại huyết long 1.5 này , cứ mổi năm trôi qua, màu sắc càng phai nhạt đi, trong khi huyết long chính thống thì màu sắc càng tăng theo với thời gian.


Còn về phần câu trả lời "không" , bạn không bị gạt nằm trong phần phân tích như sau: huyết thống, phẩm chất của nước, thức ăn và ánh nắng mặt trời đều có những tác động lên màu sắc của huyết long. Nếu chế độ dinh dưỡng của huyết long thiếu vắng chất beta-caroteine là nguyên nhân chính tạo nên màu sắc đỏ quá mờ nhạt, chậm trể. Thức ăn có nhiều nguồn beta-caroteine này là từ tôm tép. Dế và sâu quy cho ăn cà rốt, và sau đó đem cho huyết long ăn cũng hửu hiệu như cho ăn tôm tép. Ánh sáng mặt trời cũng có tác động quan trọng lên màu sắc của huyết long. Nếu nuôi huyết long trong nhà, thì đèn của bể cá nên được bật lên vài tiếng trong một ngày. Nếu làm thế trong một thời gian dài, ánh đèn sẽ có tác dụng tốt với màu sắc của huyết long.


Nếu huyết long của bạn là thuần chủng với huyết thống của HL 100%, thì sự phát triển của màu đỏ sẽ trải qua từng giai đoan. Thông thường, những chấm nhỏ li ti sẽ xuất hiện trên viền của các hàng vẩy. Trong giai đoạn đầu, những chấm nhỏ này sẽ là màu vàng, và sẽ chuyển qua màu cam. Trong một thời gian nhất đinh, những chấm vàng cam này sẽ kết nối lại và sẽ bao phủ phần viền của các hàng vẩy trên cơ thể cá. Màu hồng cam trên nấp mang sẽ xuất hiện từng đốm lổm chổm cùng với màu vàng và bạc. Giai đoạn chuyển tiếp của màu cam có thể kéo dài đến cả vài năm. Đây là thời điểm mà các bạn chơi huyết long sẽ cảm thấy chán nản, thất vong, và mất niềm tin, cũng như nghi ngờ về nguồn gốc của con huyết long đang sở hửu.


Theo như kinh nghiệm cũng như quan điểm của người viết, nhẩn nại là đức tính cần phải có cho những ai chơi cá rồng huyết long. Sụ kiên nhẩn của bạn cuối cùng sẽ được tưởng thưởng xứng đáng. Tôi xin kể cho bạn nghe một mẩu chuyện ngắn về con cá huyết long của một nha sĩ bên Nhật. Con cá của ông ấy chỉ là một màu vàng cam , đây là màu của giai đoạn chuyển tiếp. Và con cá huyết long này cứ trơ trơ trong giai đoạn ởm ờ này trong thời gian kỷ lục là 9 năm. Một ngày nọ, con cá màu vàng cam kia thật sự chuyển mình hóa rồng đỏ, và trở nên màu đỏ rực như máu. Đây không phải chỉ là một câu chuyện riêng lẻ, mà thường rất xảy ra cho giống huyết long. Chúng sẽ chuyển từ màu cam sang màu đỏ rực chỉ trong khoảng vài tuần, khi giai đoạn chuyển tiếp đã chấm dứt. Tôi tin lúc ấy các bạn sẽ biết quý và yêu thích cá huyết long của bạn hơn.

In mục này

  SÁCH CÁ RỒNG : THE MILLENNIUM DRAGON by William Goh & Julia Chua
Đăng bởi: ngoctuan - 05-31-2014, 11:17 PM - Diễn đàn: Cá Rồng - Phụ kiện - Trả lời (4)

SÁCH CÁ RỒNG : THE MILLENNIUM DRAGON by William Goh & Julia Chua . Phiên dich bởi Moneyless . Sources of pictures : taken from The Millennium Dragon and Awakening Of The Dragon

Disclaimer: The efforts by me in translating this book into Vietnamese are to promote the awareness and knowledge of Asian Arowana. The intention of this translation is meant for private use only by hobbyists. Any unauthorized reproduction or distribution of this translated manuscript for the purpose of financial gains is strictly prohibited and will be liable to criminal prosecution and civil claim for damages. (Xin lưu ý là bài dich của tôi chỉ với mục đích chia sẽ kinh nghiệm và kiến thức về cá rồng . Cuốn sách này được bảo vệ bởi quyền patents của chính tác giả là ồng William Goh).

CHƯƠNG I : GIỚI THIỆU CÁC GIỐNG LOẠI CÁ RỒNG CHÂU Á

Cá rồng Châu Á (Scleropages Formosus) là giống loại cá rồng có nguy cơ bị tuyệt chủng nơi hoang dã và được bảo vệ bởi CITES (Hội Nghị Công Ước Quốc Tế Về Giao Thương Các Giống Loại Động Thực Vật Hoang Dã Đang Có Nguy Cơ Bị Tuyệt Chủng) từ năm 1980 . Lý do cá rồng Châu Á có tên trong sổ đỏ của các động thực vật cần phải được bảo vệ bởi CITES là vì trong thập niên 1970’s, số lượng các giống loại cá rồng Châu Á ngoài thiên nhiên hoang dã đã tuột dốc đến mức độ nguy hiểm và báo động vì chúng bị săn lùng, đánh bắt quá mức vì giá trị kinh tế của chúng . Người Trung Hoa tin cá rồng Châu Á có khả năng “trừ tà”, giải tỏa những chuyện không may cho gia chủ, vì thế khi sở hửu và chăm sóc chúng tốt, gia chủ đổi lại sẽ có được sự “bảo vệ” của giống loại cá rồng này .

Chỉ có huyết long, kim long quá bối, kim long hồng vỹ, thanh long , và thanh long chỉ vàng (yellow tail arowana) bên Nam Á là được cho vào sổ đỏ để được bảo vệ, được giới thưởng ngoạn ưa chuộng, vì thế người chơi phải tốn một số tiền không nhỏ để sở hửu chúng . Một giống loại cá rồng có họ với cá rồng Châu Á là kim long Châu Úc (Scleropages jardini, và Scleropages leichardti), không được bảo vệ bởi CITES, vì số lượng của loại kim long Úc nơi hoang dã rất nhiều nên giá trị kinh tế cũng vì thế thấp nếu so với giá cả của cá rồng Châu Á . Ngân long và Hắc long có nguồn gốc từ Nam Mỹ cũng là bà con có họ xa với giống cá rồng Châu Á, cũng không được bảo vệ bởi CITES, và có giá trị kinh tế thấp nhất trên thị trường .

Trong chương này, các chi tiết được đào sâu thêm và tìm hiểu trong chi tiết sẽ được tập trung vào các giống loại khác nhau của cá rồng Châu Á . Trên nguyên tắc, có thể phân loại cá rồng Châu Á theo 3 màu sắc chủ yếu : Vàng, Đỏ, và Xanh . Dưới dạng kim long, cá rồng được phân ra làm 2 loại : Quá bối và Hồng Vỹ . Dưới dạng huyết long, chúng được phân ra làm 2 loại chủ yếu : huyết long máu và huyết long ớt . Dưới dạng thanh long, trên nguyên tắc chỉ có một giống loại và đó là thanh long . Thanh long chỉ vàng, thường được phân loại như là thanh long, vì chúng nhìn rất khác xa khi so sánh với kim long và huyết long .

KIM LONG QUÁ BỐI

Kim long quá bối chỉ tìm thấy trong thiên nhiên hoang dã tại Malaysia, và là giống loại cá rồng Châu Á đắt tiền nhất để sở hửu . Mặc dầu huyết long rất khó khăn để ép giống thành công, nếu không nói là khó nhất trong các loại cá rồng, nhưng khi so sánh về giá cả cũng phải xin chào thua quá bối . Tên thông thường được gọi cho quá bối tại quê hương nguyên thủy của chúng là Malayan lưỡi có xương (Malayan Bonytongue) hay Malaysian Golden . Giống loại này chỉ được ép giống và nuôi tại các trại cá rồng tại Malaysia và Singapore . Vì thế, số lượng của chúng trong các trại cá cũng không được nhiều . Giống quá bối quá nổi tiếng vì một đặc điểm là sự uy nghi, đặc thù chỉ có quá bối mới có được là khi trưởng thành, toàn thân cuả quá bối sẽ là màu vàng ròng 24K, tượng trưng cho sự quý phái của các bậc đế vương . Giống loại quá bối này thường được gọi là vàng ròng 24K (24K gold).

Để so sánh, bà con họ gần nhất với quá bối là kim long hồng vỹ(klhv), chỉ có thể có viền vàng lên đến vẩy hàng thứ 4 . Vẩy hàng thứ 5 và 6 của klhv sẽ có màu đen đặc thù cho giống loại này . Đồng thời độ vàng kim óng ả của klhv không thể nào so sánh được với màu vàng của quá bối . Nếu màu vàng của quá bối là màu của vàng ròng 24 K, thì màu vàng của klhv là màu vàng của 12K . Phần vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi của quá bối và klhv sẽ nhìn tương tự như nhau, với màu xanh đậm hay đen cho vây lưng và 1/3 phần trên của vây đuôi . Các vây còn lại sẽ có màu đỏ cam .

Trong môi trường sống ngoài thiên nhiên như sông ngòi, ao hồ, những điểm về màu sắc vừa nêu trên của quá bối sẽ có thay đổi đôi chút . Vì phải sinh sống dưới ánh nắng mặt trời gần 12 tiếng mổi ngày, 365 ngày một năm, một số quá bối sẽ có sống lưng đen như klhv, tuy nhiên khi được mang vào nuôi dưỡng trong môi trường bể kiếng với phông nền với các màu sắc đậm, màu vàng ánh kim của vẩy hàng thứ 5th và 6th sẽ trở lại trong khoảng 2-4 tháng . Vì thế, các nhân viên trại cá rồng với ý định sẽ mang cá đi dự thi, triển lảm, hay chụp ảnh quảng cáo thương hiệu, sẽ thuyên chuyển những con quá bối đã được chọn vào trong môi trường bể kiếng trong vài tháng trước ngày trọng đại để chuẩn bị .

Khi còn non (12-20cm), rất khó để có thể phân biệt giữa quá bối nền xanh, tím, vàng hay xanh lá cây . Một con quá bối với vẩy nền tím sẽ nhìn có màu tím nhiều hơn vàng khi quan sát từ một khoảng cách nào đó . Màu vàng sẽ chỉ là màu của thành viền của vẩy, trong khi màu nền của vẩy sẽ là màu tím . Thành viền của vẩy quá bối còn có thể phân loại theo thành viền mỏng (thin frame) hay thành viền dầy (thick frame) .

Mổi người có một sự lựa chọn , và xấu đẹp của mổi loại thành viền còn tùy thuộc vào cặp mắt của người thưởng ngoạn . Vì thế rất khó để có thể nói quá bối với thành viền mỏng sẽ đẹp hơn thành viền dầy hay ngược lại .

Hầu hết, quá bối khi còn non sẽ nhìn như có nhiều màu ánh tím, nhưng ánh màu này có thể sẽ thay đổi khi chúng lớn . Vì thế, kể cả các nhân viên trại cá hay người sành điệu cũng chỉ có thể đoán được tương lai về màu sắc của quá bối với khoảng 70-80% độ chính xác khi chúng trưởng thành là màu gì . Những phỏng đoán về màu sắc của quá bối sẽ chính xác hơn khi cá đạt được kích thước từ 25cm trở lên . Ngoài màu nền chủ yếu của vẩy là màu nền tím, một số ít quá bối sẽ có màu nền màu xanh nước biển, vàng hay xanh lá cây . Một con quá bối có kích thước 20cm , với thành viền mỏng vẩn có thể biến dạng thay đổi thành thành viền dầy khi đạt được kích thước khoảng 30-40cm . Vì thế khi chọn mua cá rồng quá bối, ta nên lựa chọn cho thật cẩn thận và hãy yêu quý chúng không cân biết màu sắc sau này của quá bối lúc trưởng thành sẽ là màu gì .

Trong các màu nên của quá bối, màu nền vàng thường rất hiếm, và khi hoàn toàn trưởng thành, quá bối nền vàng sẽ trở nên một thỏi vàng ròng 24K biết bơi, và chúng rất có khả năng làm choáng ngạt người xem . Mặc dầu không tuyệt đối chính xác 100%, có vài đặc điểm mà quá bối nền vàng cần phải có khi còn non, mà người chơi có thể xem xét . Những đặc điểm đó như sau:
1. Tất cả vây của quá bối nền vàng cũng như vẩy cá trên cơ thể cũng sẽ có màu nhạt hơn
2. Khi nhìn quá bối nền vàng lúc còn non từ xa, chúng sẽ nhìn có vẻ vàng hơn là xanh/tím .
3. Viền xoang bao bọc đồng tử (tròng đen) của quá bối nền vàng thường sẽ phải là màu vàng . Vì thế, nếu viền xoang mắt bao bọc tròng đen của quá bối nếu có màu đỏ, thì không thể nào là quá bối nền vàng được .

Tương tự như trong các thú vật và cá kiểng khác, trại cá rồng đánh giá quá bối theo một vài tiêu chuẩn nhất đinh . Đối với quá bối chúng thường được đánh giá như sau :
Cường độ của màu ánh kim và vẩy hàng thứ 5th lên màu nhanh hay chậm sẽ có yếu tố quyết định . Vì thế một con quá bối với kich thước 12cm mà màu sắc của vẩy hàng thứ 5th đã lên màu phân nữa dĩ nhiên sẽ có giá trị và đắt hơn là con quá bối 20cm mà màu sắc của vẩy hàng thứ 5th chỉ mới vừa nhú lên .

Ngoài ra, một số quá bối sẽ có màu sáng của ánh kim loại (metallic sheen) trên cơ thể của chúng . Những con quá bối có đắc tính này rất hiếm và thường được gọi là ánh kim loại xanh (metallic blue), hay ánh kim loại bạc trắng (platinum) .

Và dĩ nhiên có những con quá bối với màu xanh dương-xanh lá cây trên cơ thể và chúng thường được gọi là “Emerald Blue” (tạm dịch là hoàng thạch xanh) hay vẩy có màu tím đậm còn được gọi mà “Bukit Merah Blue” .

NHỮNG THẮC MẮC THƯỜNG ĐƯỢC HỎI VỀ QUÁ BỐI

Một thắc mắc thông thường được hỏi là “ Quá bối ngoài hoang dã có đẹp hơn quá bối được nuôi trong môi trường nhân tạo ?”
Câu trả lời thường sẽ là “không” . Lý do- người chơi cá rồng vì bất cứ một lý do gì có thể thả con cá quá bối không được hoàn hảo của họ về với thiên nhiên . Trong hoang dã những con quá bối không được đẹp này có thể sẽ bắt cặp với huyết long, klhv, thanh long và tạo nên những con quá bối lai tạo không được đẹp cho lắm với những màu sắc yếu kém, không giống cả bố lẩn mẹ . Chỉ có cá quá bôi bán ra từ trại cá có tiếng đã được chọ lựa kỷ càng trước khi được cho ép giống là nên đáng được người thưởng ngoạn lựa chọn và thu mua .

Môt câu hỏi khác “ Làm sao tôi có thể biết sự khác biệt giữa quá bối hoang dã và quá bối có nguồn gốc từ trại cá ? “
Cá quá bối hoang dã sẽ có phần đầu tròn hơn . Cặp râu của quá bối nơi hoang dã sẽ dài hơn vì chúng được xử dụng nhiều trong chức năng săn mồi . Màu sắc của quá bối hoang dã sẽ rất nhạt nhòa không ấn tượng vì phải sinh sống dưới ánh nắng mặt trời . Tuy nhiên nếu được nuôi dưỡng trong môi trường bể kiếng, thì chỉ trong vài tháng, tiềm năng màu sắc của quá bối sẽ thay đổi như đã đề cập .

Cuối cùng “ Làm sao tôi có thể lựa quá bối với phẩm chất cao ?”
Đầu tiên bạn phải xác quyết đay là con quá bối chứ không phải là klhv . Khi ở kích thước từ 15-20cm, các hạt trai li ti giáp cận với vây lưng phải có . Đặc điểm này vô cùng quan trọng khi lựa chọn và mua quá bối, vì đây là nơi mà hàng vẩy thứ 6th sẽ xuất hiện đầu tiên . Nếu cá đã được 20-25cm, mà chưa có đặc điểm này, thì bạn nên nghi ngờ ngay lập tức ! Kế tiếp là vẩy của quá bối phải rực sáng và có đặc tính phản xạ ánh kim khi so sanh với klhv .

Về giá cả, quá bối phải đắt hơn klhv từ 4-5X cho một con quá bối với phẩm chất trung bình . Vì thế nếu bạn thấy một con quá bối mà giá được bán ra quá hời thì hãy nên cẩn thận . Xin lưu ý là quá bối platinum sẽ đăt gần gấp đôi giá con quá bối trung bình . Câu “tiền nào của nấy “ rất đúng trong trường hợp này . Cá quá bối có nhữn đặc điểm càng hiếm thì càng có nhiều người ưa chuộng và giá sẽ càng cao .

Một khi bạn đã biết chắc chắn 100% đây là quá bối thì hãy xem xét thêm các điểm sau đây :
1. Vóc dáng của cá rồng kim long quá bối phải thon dài và bản rộng , cân bằng và vây thật to .
2. Vây đuôi, vây lưng và vây hậu môn phải thật to và bung xòe . Tất cả những đường chỉ đen trên 3 vây này phải đậm nét và rõ ràng .
3. Các hàng vẩy trên cơ thể cá phải rực sáng, và có đặc tính phản xạ . Càng sáng càng tốt .
4. 3 lằn chỉ vàng phía trên đôi mắt phải là màu vàng đậm .
5. Nếu bạn đang dự tính mua cá quá bối với kích thước từ 20cm trở lên, hàm dưới của nên có lằn chỉ vàng chạy dọc theo viền của hàm dưới . Đặc điểm này hiếm, nhưng nếu có được thì đây là một trong những dấu chỉ của một con quá bối đầy tiềm năng .

@Xin các bạn lưu ý 5 điểm cuối cùng trong bài viết khi chọn quá bối . Đó là những điểm ít được người chơi cá quá bối lưu ý khi chọn mua cá rồng . Nhất là điểm 2, 4 và 5 .

Đồng thời cũng xin lưu ý các bạn nào đang muốn chọn cho mình thỏi vàng biết bơi trong tương lai, thì xin lưu ý viền vàng vòng quanh con ngươi tròng đen của hai con mắt cá . Vô cùng quan trọng .

Tôi gởi bạn nữ_nhân_ngư và các bạn vài tấm ảnh minh hoạ những điểm để nhận biết vài phân loại của quá bối và sự khác biệt khi so sánh vẩy của quá bối và KLHV
Ảnh minh hoạ của full gold xback (aka cục vàng ròng 9999 24K biết bơi)
[Hình ảnh: 55inchesfullgold2lf1.jpg]
Phần giữa viền trong tiếp cận với tròng đen và viền bao bọc bên ngoài chứa nhiều sắc màu vàng . Đặc điểm của full gold . (cuc vàng 999 24k)
[Hình ảnh: xbackmillennium012ga7.jpg]
Ảnh của quá bối nhưng không phải sẽ là cục vàng ròng biết bơi trong tương lai . Xin lưu ý viền trong giáp cận với tròng đen, và viền ngoài kế tiếp . Chứa đựng nhiều màu đỏ .

Xin lưu ý những màu sắc đỏ trong hai lằn viền tiếp cận bên trong với tròng đen, và viền ngoài .
[Hình ảnh: xbackmillennium014gi4.jpg]

So sánh hàng vẩy của quá bối và KLHV . Vẩy của quá bối nhìn rực sáng và độ phản chiếu rực rở hơn của KLHV .
Hàng vẩy của quá bối

Hàng vẩy của KLHV( vàng 12K), không thể nào so sánh được với sự rực sáng và phản chiếu của vẩy khi so sánh với quá bối .
[Hình ảnh: xbackmillennium019wm9.jpg]

Vây lưng, đuôi và hậu môn của quá bối phải đậm nét và bung xoè , càng to càng tốt . Xin lưu ý các đường xương chỉ trên vây, rất đậm đen và rỏ nét

[Hình ảnh: xbackmillennium023cq9.jpg]

In mục này

  các bác cho em hỏi về lông đầu chào mào
Đăng bởi: tienhiep1987 - 05-31-2014, 08:52 PM - Diễn đàn: Thảo luận chung - Trả lời (6)

Chả là hôm nọ thiếu lồng nên cho e chao mào cưng vào cái lồng mới vào dầu chưa khô. Chim e vẫn còn giãy đên hôm sau thì đầu e nó dính đầy dầu bóng như vuốt keo ,hai hôm sau thì lông đầu với mào rụng sạch, giờ e nó trọc lóc nhin thảm quá. E nó vẫn hót hét bt. E muốn hỏi sau này lông nó có mọc lại dc ko ah. Lông cũng rụng đc nửa thang rồi ah.em này mào lân gáy ngựa đẹp lắm. Nghịch ngu giờ buồn quá các bác ah.nó mà ko mọc lại thì e tiếc lắm.

In mục này


Thành viên đang trực tuyến
Hiên tại có 1869 thành viên đang trực tuyến » 0 Thành viên | 1865 Khách
Baidu, Bing, Facebook, Google

Thẩm định giá bất động sản Thẩm định giá động Sản Thẩm định giá máy móc thiết bị Thẩm định dự án đầu tư Thẩm định giá tri doanh nghiệp
Thẩm Định Giá tài sản vô hình Thẩm định giá dự toán gói thầu Thẩm Định Giá Dự toán, dự án xây dựng Thẩm định giá trang thiết bị y tế Thẩm định giá Xử lý nợ Thẩm định giá nhà xưởng Thẩm định giá đầu tư
Mã nguồn bởi MyBB, © 2002-2026 Tài Trợ Bởi Thamdinh.com.vn.