Thông kê diễn đàn
» Thành viên: 176,918,   » Thành viên mưới nhất: admin,   » Chủ đề: 46,693,   » Bài viết: 420,657,  
Thống kê đầy đủ

  Bạn nào biết tên loại chim này không?
Đăng bởi: Chào Mào Huế - 11-26-2010, 10:08 AM - Diễn đàn: Hình ảnh, Clip Chim Rừng - Trả lời (22)

Vốn là có bạn sáng nay gửi clip này cho mình hỏi là chim gì, mình củng thấy lạ lạ nên post lên nhờ anh em ai biêt thông tin gì về chú chim này thì trả lời giúp cậu ấy nhé Smile

[YOUTB]http://www.youtube.com/watch?v=aN3mvmKa8-I[/YOUTB]

In mục này

  Thông tin về CÂU KỶ TỬ
Đăng bởi: ngoctuan - 11-26-2010, 09:27 AM - Diễn đàn: Sức Khỏe, dinh dưỡng - Trả lời (10)

- Nhiều anh em đã sử dụng hạt của cây Cầu kỳ tử cho chào mào ăn và sau mùa thay lông đít chim rất đỏ như màu của chim sống trong tự nhiên nhưng lại có nhiều ý kiến nói là hạt của Cầu Kỳ Tử là chất kích dục không tốt cho chim hôm nay lang thang trên mạng mình tìm được it thông tin vế cây này đưa lên cho anh em tham khảo :
CÂU KỶ TỬ
Xuất xứ:
Bản Kinh.
Tên Việt Nam:
Kỷ tử, Câu khởi, Khởi tử, Địa cốt tử, Khủ khởi.
Tên Hán Việt khác:
Cẩu kế tử (Nhĩ Nhã), Cẩu cúc tử (Bản Thảo Diễn Nghĩa), Khổ kỷ tử (Thi Sơ), Điềm thái tử (Bản Thảo Đồ Kinh), Thiên tinh tử (Bảo Phát), Địa cốt tử, Địa tiết tử (Bản Kinh), Địa tiên tử (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Khước lão tử, Dương nhủ tử, Tiên nhân trượng tử, Tây vương mẫu trượng tử, Cẩu kỵ tử, (Biệt Lục), Xích bảo, Linh bàng tử, Nhị thi lục, Tam thi lục, Thạch nạp cương, Thanh tinh tử, Minh nhãn thảo tử, Tuyết áp san hô (Hòa Hán Dược Khảo).
Tên khoa học:

Fructus Lycii.
Họ khoa học:

Thuộc họ Cà (Solanaceae).
Mô tả:

Là cây bụi mọc đứng, phân cành nhiều, cao 0,5-1,5m. Cành mảnh, thỉnh thoảng có gai ngắn mọc ở kẽ lá. Lá nguyên nhẵn, mọc cách, một số mọc vòng, cuống lá ngắn, phiến lá hình mũi mác, hẹp đầu ở gốc. Hoa nhỏ mọc đơn độc ở kẽ lá hoặc có một số hoa mọc chụm lại. Đài nhẵn, hình chuông, có 3-4 thùy hình trái xoan nhọn, xẻ đến tận giữa ống. Tràng màu tím đỏ, hình phễu, chia 5 thùy hình trái xoan tù, có lông ở mép. Nhị 5, chỉ nhị hình chỉ đính ở đỉnh của ống tràng, dài hơn tràng. Bầu có 2 ô, vòi nhụy nhẵn dài bằng nhụy, đầu nhụy chẻ đôi. Quả mọng hình trứng, khi chín màu đỏ sầm, hoặc vàng đỏ. Hạt nhiều hình thân dẹp. Ra hoa từ tháng 6-9, có quả từ tháng 7-10.
Địa lý:

Có nhiều ở Trung Quốc nước ta còn phải nhập, có ở các tỉnh biên giới Việt Nam như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam.
Phần dùng làm thuốc: Dùng quả khô rụng (Fructus Lycii).
Mô tả dược liệu:

Quả khô Câu kỷ tử hình bầu dục dài khoảng 0,5-1cm, đường kính khoảng hơn 0,2cm. Vỏ quả màu tím đỏ hoặc đỏ tươi, mặt ngoài nhăn teo bên trong có nhiều hạt hình tạng thận màu vàng, có một đầu có vết của cuống quả, không mùi, vị ngọt hơi chua, sau khi nếm nước bọt có màu vàng hồng. Loại sản xuất ở Cam túc có quả tròn dài, hạt ít, vị ngọt là loại tốt nhất nên gọi là Cam kỷ tử hay Cam câu kỷ (Dược Tài Học).
Thu hái, sơ chế:

Hái quả hàng năm vào tháng 8-9, phơi khô. Khi quả chín đỏ hái vào sáng sớm hoặc chiều mát, trải mỏng, phơi trong râm mát cho đến khi bắt đầu nhăn mới phơi chỗ nắng nhiều cho đến khi thật khô.
Bào chế:

+ Lựa thứ quả đỏ tươi, tẩm rượu vừa đều để một hôm, gĩa dập dùng.
+ Thường dùng sống, có khi tẩm rượu sấy khô, hoặc tẩm mật rồi sắc lấy nước đặc, sấy nhẹ cho khô, đem tán bột mịn.
Bảo quản:

Đựng vào lọ kín để nơi khô ráo, nếu bị thâm đen đem xông diêm sinh hoặc phun rượu, xóc lên sẽ trở lại màu đỏ đẹp
Thành phần hóa học:

+ Thành phần chủ yếu có Betain, nhiều loại axit amin, polysaccharid, vltamin B1, B2, C, acid nicotinic, Ca, P, Fe.. . (Trung Dược Học).
+Trong Kỷ tử có chừng 0,09% chất Betain (C5H11O2N) (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trong 100g quả có 3,96mg Caroten, 150mg Canxi, 6,7mg P, 3,4mg sắt, 3mg Vit C, 1, 7mg axit nicotic, 0,23mg Amon sunfat (Từ Quốc Quân và Triệu Thủ Huấn)
+ Trong Khởi tử có Lysin, Cholin, Betain, 2,2% chất béo và 4,6% chất Protein, Acid cyanhydric và có thể có Atropin (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
+ Carotene, Thiameme, Riboflavin, Vitamin C, b-Sitosterol, Linoleic acid (Chinese Herbal Medicine).
+ Betain (Nishiyama R, C A 1965, 63 (4): 4660).
+ Valine, Glutamine, Asparagine (Nishiyama R, C A 1963, 59 (11): 13113b).
+ Trong 100g Câu kỷ tử có Carotene 3,39mg, Thiamine 0,23g, Riboflavine 0,33mg, Nicotinic acid 1,7mg, Vitamin C 3mg (Từ Quốc Quân, Dược Tài Học, Bắc Kinh 1960: 513).
Tác dụng dược lý:

1. Thuốc có tác dụng tăng cường miễn dịch không đặc hiệu. Trên súc vật thực nghiệm có tác dụng tàng cường khả năng thực bào của hệ lưới nội mô, kết quả nghiên cứu gần đây cho biết Kỷ tử có tác dụng nâng cao khả năng thực bào của tế bào đại thực bào, tăng hoạt lực của enzym dung khuẩn của huyết thanh, tăng số lượng và hiệu giá kháng thể, chứng tỏ Kỷ tử có tác dụng tăng cường tính miễn dịch của cơ thể, thành phần có tác dụng là Polysaccharide Kỷ tử (Trung Dược Học).
2. Thuốc có tác dụng tăng cường chức năng tạo máu của chuột nhắt (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Chất Betain là chất kích thích sinh vật, cho vào thức ăn cho gà ăn có tác dụng tăng trọng và đẻ trứng nhiều hơn, cũng làm cho chuột nhắt tăng trọng rõ (Trung Dược Học).
+ Thuốc có tác dụng hạ Cholesterol của chuột cống, chất Betain của thuốc có tác dụng bảo vệ gan chống thoái hóa mỡ, hạ đường huyết (Trung Dược Học).
+ Chất chiết xuất nước của thuốc có tác dụng hạ huyết áp ức chế tim, hưng phấn ruột (tác dụng như Cholin). Chất Betain không có tác dụng này (Trung Dược Học).
6. Nước sắc Kỷ tử có tác dụng hưng phấn tử cung cô lập của thỏ (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Thuốc có tác dụng ức chế ung thư đối với chuột nhắt S180. Các học giả Nhật Bản có báo cáo năm 1979 là lá và quả Kỷ tử có tác dụng ức chế tế bào ung thư trong ống nghiệm (Trung Dược Học).
+ Các tác giả Trung Quốc trên thực nghiệm cũng phát hiện thuốc (lá, quả và cuống quả của Kỷ tử (vùng Ninh Hạ) có tác dụng ức chế ở mức độ khác nhau hai loại tế bào ung thư ở người (Trung Dược Học).
Tính vị:

+ Tính hơi hàn, không độc (Danh Y Biệt Lục).
+ Vị ngọt, tính bình (Dược Tính Bản Thảo).
+ Vị hàn, không độc (Thực Liệu Bản Thảo).
+ Vị ngọt, tính bình (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Vị ngọt, tính bình (Trung Dược Học).
Qui kinh:

+ Vào kinh túc Thiếu âm Thận, túc Quyết âm Can (Bản Thảo Hối Ngôn).
+ Vào kinh túc thiếu âm Thận, thủ Thiếu âm tâm (Bản Thảo Kinh Giải).
+ Vào kinh Can, Thận, Phế (Trung Dược Học).
+ Vào kinh Can, Thận (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Tác dụng:

+ Bổ ích tinh huyết, cường thịnh âm đạo (Bản Thảo Kinh Tập Chú).
+ Bổ ích tinh bất túc, minh mục, an thần (Dược Tính Bản Thảo).
+ Trừ phong, bổ ích gân cốt, khử hư lao (Thực Liệu Bản Thảo).
+ Tư thận, nhuận phế (Bản Thảo Cương Mục).
+ Chuyên bổ thận, nhuận phế, sinh tân, ích khí, là thuốc chủ yếu bổ can thận chân âm bất túc, là thuốc tốt để ích tinh, minh mụ c... (Bản Thảo Kinh Sơ)
+ Kỷ tử có tác dụng tư bổ can thận, sinh tinh huyết, minh mục, nhuận phế (Trung Dược Học).
+ Tư dưỡng Can Thận (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Chủ trị:

+ Trị xoay xẫm, chóng mặt do huyết hư, thắt lưng đau, di tinh, tiểu đường (Trung Dược Học).
+ Trị các chứng can thận âm hư, âm huyết hư tổn, chứng tiêu khát, hư lao, khái thấu (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
Liều dùng: 8 – 20g.

Kiêng kỵ:

+ Câu kỷ tử có tính chất nê trệ, vì vậy, thận trọng đối với những bênh nhân tỳ vị hư yếu, tiêu chảy kéo dài (Trung Dược Học).
+ Tỳ vị suy nhược, tỳ hư thấp trệ tiêu chảy cấm dùng, có ngoại tà thực nhiệt cấm dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Trị mắt đỏ, mắt sinh mộc thịt: Câu kỷ gĩa nát lấy nước, điểm 3-4 lần vào khóe mắt, rất hiệu nghiệm (Trửu Hậu Phương).
+ Trị mặt nám, da mặt sần sùi: Câu kỷ 10 cân, Sinh địa 3 cân, tán bột, uống 1 muỗng với rượu nóng, ngày uống 3 lần, uống lâu da đẹp như con nít (Thánh Huệ Phương).
+ Trị chảy nước mắt do Can hư: Câu kỷ tử 960g bọc trong túi lụa ngâm trong rượu, đậy thật kín, 21 ngày sau uống (Long Mộc Luận).
+ Trị Can Thận âm hư, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, mắt mờ, hoa mắt, hoặc đau rít sáp trong mắt: Câu kỷ tử, Cúc hoa mỗi thứ 12g, Thục địa 16g, Sơn dược mỗi thứ 8g, Phục linh, Đơn bì, Trạch tả mỗi thứ 6g. Tán bột trộn làm viên. Mỗi lần uống 12g ngày 2 lần, với nước muối nhạt (Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn – Cảnh Nhạc Toàn Thư).
+ Trị suy nhược vào mùa hè, không chịu nổi với thời tiết: Câu kỷ tử, Ngũ vị tử, tán bột pha nước sôi uống thay trà (Nhiếp Sinh Chúng Diệu Phương).
+ Trị suy nhược, thận hư, hoa mắt, mắt mộng thịt: Cam câu kỷ tử 1 cân, ngâm cho thấm với rượu ngon rồi chia làm 4 phần, 1 phần sao với 40g Thục tiêu, 1 phần sao với 40g Tiểu hồi hương, 1 phần sao với 40g Chi ma (mè), 1 phần sao với Câu kỷ không thôi. Thêm Thục địa, Bạch truật, Bạch phục linh mỗi thứ 40g, tán bột, luyện mật làm viên uống hằng ngày (Tứ Thần Hoàn - Thụy Trúc Đường Kinh Nghiệm Phương).
+ Trị gan viêm mạn tính, gan xơ do âm hư: Bắc sa sâm 12g, Mạch môn 12g, Đưung qui 12g, Kỷ tử 12-24g, Sinh địa 24-40g, Xuyên luyện tử 6g, sắc nước uống (Nhất Quán Tiễn - Liễu Châu Y Thoại)
+ Trị suy nhược, thận hư, lưng đau, gối mỏi, di tinh, huyết trắng nhiều: Thục địa 320g, Sơn dược (sao) 160g, Câu kỷ tử 160g, Sơn thù nhục 160g, Ngưu tất 120g, Thỏ ty tử 160g, Lộc giao (sao) 160g, Quy bản (sao) 160g, tán bột, trộn mật làm hoàn. Mỗi lần uống 12-16g, ngày 2-3 lần (Tả Quy Hoàn – Cảnh Nhạc Toàn Thư).
+ Trị hoa mắt, thị lực giảm sút, cườm mắt tuổi gìa, thủy tinh thể dục: Thục địa 320g, Sơn thù 1690, Sơn dược 160g, Đơn bì 80g, Trạch tả 80g, Phục linh 80g, Cúc hoa 120g, Câu kỷ tử 120g. Tán bột, trộn với mật làm hoàn, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 10-12g (Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn - Y Cấp) .
+ Câu kỷ tử, Thục địa, Ngũ vị tử, Mạch môn đông, Địa cốt bì, Thanh hoa, Miết giáp, Ngưu tất trị âm hư lao nhiệt nóng bức rứt âm ỉ trong xương, hoặc muốn dùng làm thuốc chính để trị phát sốt, lạnh thì thêm Thiên môn đông, Bách bộ, Tỳ bà diệp, có thể trị được cả chứng ho do âm hư, phế nhiệt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Câu kỷ tử, hái những quả chín đỏ hằng ngày, tẩm giấm, rượu,rồi lấy giấy sáp phong niêm kín lại đừng làm cho bay hơi đủ hai tháng đổ vào chậu khuấy nhừ nát lọc lấy nước rồi ngâm với rượu. Sau đó cho vào nồi bạc nấu lửa liu riu nhỏ, đồng thời quấy luôn để khỏi dính và đều cho tới khi thành cao như Mạch nha, cuối cùng bỏ vào bình sạch đậy kỹ, mỗi buổi sáng uống mỗi lần 2 muỗng canh lớn, trước khi đi ngủ, liên tục trong 100 ngày mới thấy mạnh khỏe (Kim Tủy Tiễn - Kinh Nghiệm Phương).
+ Câu kỷ tử 2 thăng, vào ngày Nhâm quý tháng 10 giờ Dần, đứng quay về hướng đông mà hái rồi lấy rượu tốt 2 thăng ngâm trong bình sứ 21 ngày xong cho vào 3 thăng nước cốt Sinh địa trộn đều, niêm lại cho thật kín, Đến ngày 30 trước tiết Lập xuân mở bình, uống một chén hâm nóng lúc bụng đói, đến sau tiết lập xuân râu tóc bạc thì cũng biến thành đen. Cấm ăn hành, tỏi, su hào (Câu Kỷ Tử - Kinh nghiệm phương).
+ Trị hoa mắt, thị lực giảm sút, cườm mắt tuổi gìa, thủy tinh thể dục: Cúc hoa 8g, Kỷ tử 20g, Nhục thung dung 12g, Ba kích thiên 8g, sắc nước uống (Cúc Thanh Thang - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị nam giới sinh dục suy yếu (vô sinh): Mỗi tối nhai 15g Câu kỷ tử, liên tục 1 tháng, thường sau khi tinh dịch trở lại bình thường, uống thêm 1 tháng. Trong thời gian uống thuốc, kiêng phòng dục. Đã trị 42 ca, sau 1 liệu trình: hồi phục bình thường 23 ca, sau 2 tháng bình thường 10 ca, có 6 ca không có kết quả vì không có tinh trùng, 3 ca không kết quả, theo dõi sau 2 năm, tinh dịch trở lại bình thường, 3 ca đã có con (Đông Đức Vệ và cộng sự, ‘Kỷ Tử Trị Vô Sinh Nam Giới’, Tân Trung Tạp Chí 1987, 2: 92)
+ Trị dạ dầy viêm teo mạn tính: Dùng Kỷ tử rửa sạch, sao khô, giă nát, đóng gói. Mỗi ngày uống 20g, chia làm 2 lần lúc bụng đói và nhai uống, 2 tháng là một liệu trình. Trong thời gian uống thuốc, ngưng tất cả các loại thuốc khác. Đã trị 20 ca, theo dõi 2- 4 tháng, có kết quả tốt 15 ca, có kết quả 5 ca (Trần Thiệu Dung và cộng sự, ‘Báo Cáo 20 Ca Dạ Dầy Viêm Teo Mạn Tính Điều Trị Bằng Câu Kỷ Tử,’ Trung Y Tạp Chí 1987, 2: 92).
+ Trị thận hư, tinh thiếu, lưng đau, vùng thắt lưng đau mỏi: Câu kỷ tử, Hoàng tinh, 2 vị bằng nhau, tán bột, luyện mật làm viên, mỗi lần 12g, ngày uống 2 lần với nước nóng (Câu Kỷ Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)..
+ Trị Can hư sinh ra bệnh ở mắt, ra gió chảy nước mắt: Câu kỷ tử, dùng rượu ngâm sau 3-7 ngày, mỗi lần uống 1-2 muỗng canh, ngày 2 lần (Câu Kỷ Tửu - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Tham khảo:

+ Câu kỷ tử có tác dụng bổ tinh khí, bổ suy nhược làm cho người xinh tươi hồng hào, sáng rõ tai mắt, yên thần định chí sống lâu (Bản Thảo Dược Tính).
+ Câu kỷ tử làm cứng mạnh gân xương, sống dai lâu gìa, trừ phòng phong bệnh bổ hư lao, ích tinh khí (Thực Liệu Bản Thảo).
+ Câu kỷ tử chữa được những bệnh ở tim, ọe khan đau tim, đau họng khát nước vì thận có bệnh cho nên hay làm nên chứng tiêu khát (Thang Dịch Bản Thảo).
+ Câu kỷ tử có tính giúp cho thận, nhuận được phế, dùng nó ép lấy dầu thắp sáng đèn làm sáng mắt (Bản Thảo Cương Mục).
+ Câu kỷ tử có vị cay vừa, khí ấm vừa và mát, tính có thể lên xuống được, vị nặng nên hay bổ âm nhưng tính của nó là âm trong có dương nên cổ được khí. Xét cho đúng thì nó chỉ xét cho dương một phần nào thôi, chứ không có tính cách kích động nên những người biết dùng thì dùng để tiếp thêm sức cho Thục địa là đúng. Còn vấn đề công dụng của nó thì có thể làm cho thông minh tai mắt, yên ổn tâm thần tăng thêm tinh tủy, cứng mạnh gân xương, bù đắp vào những chỗ bất túc nhất là lao thương quá độ. Vì vậy khi mà thận khí đã đầy đủ thì chứng tiêu khát không còn nữa, còn những người bị chân âm suy tổn mà đau ở sau lưng dưới rốn, mê man dùng nó thì công hiệu (Cảnh Nhạc Toàn Thư).
+ Câu kỷ tử có vị ngọt tính bình là vị thuốc chính của Thận, vì vậy mà bổ Thận ích tinh, khi Thận thủy đã mạnh thì gân xương rắn chắc vững vàng nên chứng tiêu khát lui cả, còn những chứng mắt mờ, tai điếc, lưng đau, chân yếu cũng theo đó mà biến mất (Bản Thảo Thông Nguyên).
+ Đi xa ngàn dặm thì không nên dùng Câu kỷ tử vì nó bổ thận quá cho nên kích thích đến tình dục, nó có khí bình không nóng, nó có tác dụng bổ thận chế hỏa, công hiệu như Thục địa nhưng chỉ tiếc khí nóng bứt rứt trong xương muốn trừ nó mà chưa từng dùng được (Danh Y Biệt Lục).
+ Câu kỷ tử vị ngọt mát tính nhuận, các sách ghi rằng có tác dụng khu phong, minh mục, mạnh gân xương, bổ tinh, tráng dương. Xét đúng ra thì Thận thủy suy thiếu uống vào có tính cam nhuận thì âm phải theo dương mà sinh trưởng. Khi Thận thủy đã đầy đủ thì tự nhiên phong sẽ bị tán ngay, vì thế nó có tác dụng làm sáng được tai mắt, cứng xương, mạnh gân. Đó lại càng chứng minh rằng Câu kỷ tử là một vị thuốc tư thủy, do đó mà các sách đều cho rằng nó có tác dụng chữa được tiêu khát. Ngày nay thấy nó sắc đỏ mà tưởng lầm là thuốc bổ dương thì quá sai lầm. Tại sao không biết rằng những thứ đã gọi là khí hàn thì có bao giờ mà bổ dương được? Nếu cứ cho sắc đỏ đó là bổ dương thì Hồng hoa, Tử thảo thì sắc nó cũng đỏ mà có ai quả quyết là thuốc bổ dương đâu, có kẻ lại cho rằng tính nó hoạt huyết. Than ôi! đạo làm thầy thuốc mà không rành, chỉ hạn hẹp trong mấy cuốn sách, nghĩ quẩn quanh, cái gì còn hồ nghi phải gắng sức nghiên cứu cho tới đầu tới đuôi. Nói chung quy chỉ vì xem sách không tinh, định câu không rõ nghĩa không thể nhận xét mà lý hội cho đến cùng, chỉ biết một đoạn nào đó thì biết làm sao được! Chẳng hạn những bệnh thuộc hư hàn mà dám dùng nó thì chuyện xảy ra chẳng những không thể bổ được phần dương mà hư lại càng hư thêm rồi sinh ra những chứng tiêu chảy không cầm được, có khi tới chết. Đó chính là sai một ly đi một dặm nó biến chuyển nhanh như thế, sao lại cho rằng dùng thuốc không cần cẩn thận lắm cũng được vậy mà? (Bản Thảo Cầu Chân).
+ Câu tử có vị ngọt đắng tính lạnh, nhập vào kinh Can và Thận, có tác dụng bổ âm tráng thủy, tưới nhuần được cho Can, thanh trừ được phong độc. Nhờ được tính đắng mát cho nên Tỳ dễ tiết, với những dạng người có bệnh Tỳ thổ khô táo, táo bón mới nên dùng nó; Với nhưng người có thủy hàn khô thấp, trường vị hoạt tiết, tiêu lỏng, tiêu sệt luôn thì không nên dùng nó vì có thể sinh ra tiêu chảy. Nếu ai gọi nó là thuốc trợ dương khí là sai hoàn toàn (Trường Sa Dược Giải).
+ Dùng với Thục địa là rất hay, thuốc làm sáng mắt, thính tai, ích tinh, cố tủy, kiện cốt, cường cân, chuyên bổ lao thương, chỉ tiêu khát, chân âm hư mà bụng rốn đau không khỏi, dùng nhiều rất hay (Cảnh Nhạc Toàn Thư').
+ Câu kỷ tử chuyên bổ huyết, không thuốc nào hơn (Trùng Khánh Đường Tùy Bút).
+ Câu kỷ tử cảm khí xuân hàn của trời, lại được cả khí xung hòa của đất để sinh ra, vị nó ngọt, tính bình cho nên là vị thuốc chính có công năng chuyên bổ cho chân âm của Can và Thận. Họ Đào nói: Xa nhà ngàn dặm chớ ăn Câu kỷ tử, ý nói sức cường dương của nó đó thôi (Dược Phẩm Vậng Yếu).
+ Chu Nhụ Tử trông thấy bên chỗ khe suối có hai bụi rậm hoa xanh tươi trông rất đẹp, bỗng thấy một chó lớn đuổi một con chó nhỏ phóng vào bụi hoa gần ngay gốc cây Kỷ tử. Họ trông thấy vậy nhưng không biết nó biến đi đâu, liền cùng nhau đào ở gốc cây Kỷ tử thì thấy ở gốc có hai cái rễ lớn nhỏ như hai con chó nằm gọn ở đó, họ bèn đem về nấu ăn, tự nhiên thấy khỏe, khoan khoái trong người. Ông nói đó là cây Kỷ tử của tiên trồng có hơn cả ngàn năm nên mới hóa hình con chó (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Tục truyền ngày xưa cây này mùa xuân gọi là Thiên tinh tử, mùa hè gọi là Câu kỷ diệp, mùa thu gọi là Khước lão, mùa đông gọi là Địa cốt bì (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Câu kỷ tử còn cho lá và ngọn gọi là Câu kỷ hành diệp, có vị đắng, tính lạnh, không độc, thường nấu với thịt dê ăn bổ, có tác dụng trừ phong, sáng mắt. Có thể thay trà để uống, công dụng chỉ khát, hết bứt rứt, nóng nảy, bổ sinh dục, giải độc của miến. Nó rất ghét sữa tô. Lấy nước cốt của nó nhỏ vào mắt có tác dụng trừ mộng thịt ở mắt, màng đỏ ở mắt, choáng váng, hoa mắt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Cây còn cho mầm gọi là Câu kỷ miêu có vị đắng tính lạnh, có tác dụng trừ phiền, ích chí, khu phong, minh mục, tiêu nhiệt độc, tán sang thủy (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Dùng hạt Câu kỷ tử loại ở Cam châu nấu chín, gĩa nát, trộn với men gạo hoặc lấy hạt Câu kỷ cùng với Sinh địa hoàng chế thành rượu uống gọi là rượu Câu kỷ (Câu Kỷ Tửu). Dùng hạt Câu kỷ trộn gạo nấu cháo có tác dụng bổ tinh huyết, ích thận khí, thiếu huyết, thận suy dùng rất tốt gọi là Câu kỷ tử chúc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Loại Câu kỷ ở Cam châu, Trung Quốc có màu đỏ thịt dẻo, ít hột là thứ tốt nhất (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Câu kỷ, hột của nó gọi là Câu kỷ tử, rễ gọi là Địa cốt bì. Rễ có vị đắng hơn, tính hàn hơn, còn hột thì ngọt nhiều, đắng ít. Công dụng của hai thứ này có khác nhau. Câu kỷ tử là thuốc tư bổ Thận âm, Địa cốt bì là thuốc trị chứng nóng âm ỉ trong xương (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Phân biệt:

(1) Ở Việt Nam không có loại Lycium chinensis Miller, mà có cây Câu kỷ (Lycium ruthanicum Murray) cùng họ trên đó là cây cỏ, cành có gai. Lá nguyên mọc so le. Hoa tím nhạt mọc ở kẽ lá. Quả hình trứng thuôn, khi chín màu đỏ, có nhiều hạt. Cây được trồng nhiều nơi làm rau ăn và làm thuốc. Trồng bằng cành hoặc hạt vào mùa xuân, chỉ dùng lá nấu canh và chữa ho. Có khi quả chín đỏ được dùng thay thế Khởi tử, Vỏ rễ làm Địa cốt bì, không đúng với cây trên, cần phải nghiên cứu lại.
(2) Vị này cho vỏ rễ của cây (Cortex lycii Chinensis) gọi là Địa cốt bì (Danh Từ Dược Học Đông Y).

In mục này

  cu gáy mới tuyển về các bác cho ý kiến nhé
Đăng bởi: cugayviet - 11-25-2010, 08:44 PM - Diễn đàn: Hình ảnh, Clip Cu Gáy - Trả lời (5)

[Hình ảnh: 15641290692631.jpg]

In mục này

  Huấn luyện bổi già thành mồi theo phong cách hiện đại
Đăng bởi: bachhac - 11-25-2010, 07:59 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Cu Gáy - Trả lời (6)

Đây là phương pháp huấn luyện một con mồi cây tuyệt vời nhất mà tôi được biết vì bạn chỉ tốn có một khoảng thời gian rất ngắn một tháng hoặc hai tháng là bạn có thể sở hữu trong tay một con mồi rồi, nó vẫn còn tung bành bạch, lông thì rụng tơi tả, ở nhà không gáy một tiếng, thấy người lạ thì tung bay lông búa xua, ai cũng cho là chim bổi, có nhìn tướng cũng không dám đoán nó hay - dở ra sao vì lông cườm lông quy rụng gần hết vậy mà khi ra đồng lại gáy gù như điện, thế có lạ không!

Cách nầy hay đây nhưng tôi chưa thử nghiệm được vì không có đủ thời gian và sự kiên nhẫn để mà tập luyện, nếu bạn là người nhàn rỗi hảy thử xem sao nhé!

Người xưa có câu: Nhất lý - nhì lì, chủ nhân của những chú chim tung bành bạch tâm sự với tôi rằng: tuy gặp em lần đầu nhưng anh cảm thấy rất mến em cho nên anh mới đem cái điều tâm huyết của mình kể cho em nghe “lúc trước anh là người chơi chim chào mào anh lựa con nào, chọn con nào, bán cho ai sau này đều nổi tiếng cả sau này anh chuyển sang chơi chim cu vì thấy nó hay và đả hơn nên không còn nuôi chào mào nữa.

Lúc đầu vì không có tiền mua mồi nên anh xin một con bổi hay của ông bạn đi bẫy ở rừng đem về nuôi và anh đã huấn luyện nó theo cái câu "nhất lý -nhì lì" không ngờ anh đã thành công, sự thật đã mỉm cười với anh ...” theo thâm tâm mình nghĩ thì anh còn thành công hơn nữa vì anh có một trái tim nhân hậu, cái tâm, cái đạo của một người đam mê tiếng cù cú cu cu cần phải có.
Tại sao anh lại huấn luyện nó theo phương pháp: Nhất lý -nhì lì?

thứ nhất là cái lý: Cái đạo lý sống ở đời, cái lý mà không một ai dám phản bác, nó bất di bất dịch, ví dụ: Một con mồi hay thì ai cũng công nhận nó hay vì nó gáy gù hay quá, nghe đã quá, bắt bổi nhanh quá, đấu với con mồi nào hay con bổi nào nó cũng dành phần thắng… đó là cái lý lẻ nói về một con chim hay.

thứ hai là lì: dù là con bổi mới bắt về rất hay ngoài rừng nhưng ta phải xem qua tướng tá mới chọn nuôi vì chỉ có tướng của con mồi sau này mới thành con mồi mà thôi, người chủ huấn luyện phải thật lì và con bổi cũng thật lì, nghe qua cũng buồn cười thật nhưng vẫn thành công và đây là các giai đoạn huấn luyện: Mình nói trước bạn phải thật sự là người nhàn rỗi và kiên nhẫn nghen!

- Giai đoạn một: Ngày nào ta cũng mang cu bổi đi ra đồng hay đi rừng nhớ là đi bộ thôi nghen, khi ta đi rẫy, đi ruộng ta đều mang nó theo, máng nó lên một cây nào đó sao cho nó nghe bổi gáy, thấy bổi bay qua, bay lại .... ta chỉ treo nó một chổ nhớ nghen, ngày đầu ngày thứ hai nó sẽ gáy một hoặc hai tiếng nhưng nhỏ thôi, khi nào ta nghe nó gáy lớn tiếng ta lập tức sang lụp ngay nó tung, nó giẫy, rụng lông kệ nó.
Ta đem nó treo ngay cái cội của con bổi trận nhất, dữ nhất (nên nhớ ta ngụy trang lá thật kỹ để con bổi trận không thể đá được con bổi của mình), ngày nào cũng vậy sáng đến trưa ta mang nó về, chiều ta đi tiếp cũng treo đúng một chổ, khi nào nó dám đấu với con bổi, dám gù với con bổi trận ấy là nó đã nổi rồi (ở đây nó chỉ dám gáy gù ở ngoài đồng thôi chứ mang về nhà thì im như thóc và còn tung nữa chứ), khi nào mà nó bắt được con bổi ấy là coi như bạn đã thành công hơn một nữa rồi, đây là chiêu lì đó nghen!

- Giai đoạn hai: ta mang nó sang con bổi trận khác, có giọng gáy khác cũng cho đấu liên tục đến khi nào bắt được con bổi đó thì mang sang con gáy giọng khác nữa, ta để ý xem nó có sợ giọng gáy nào hay không? thường thì có con sợ giọng sấm đồng, có con sợ giọng sấm thổ ... sợ giọng nào ta cứ mang nó đấu với con gáy giọng đó, nếu nó bể luôn coi như ta thất bại còn nếu nó hết sợ, bắt được con đó thì sau nầy nó sẽ trở thành một con mồi thiện chiến.

- Giai đoạn ba: huấn luyện đi xe và đi xa (xem bài “kỹ thuật huấn luyện mồi cây”)
Thuở đời nay con mồi mà gặp người lạ cứ tung bành bạch mới lạ chứ, mặc dù đã bắt gần 40 con bổi mà vẫn chưa thay lông rừng khi mình đến nhà thì cho nó là bổi đó bạn ... lầm một cái quá to. Chúc các bạn, những ai có lòng trì chí kiên tâm sẽ thành công như ông anh mà tình cờ mình quen được.

Nguồn: Arowana.

In mục này

  Để chuyến đi bẫy gáy hiệu quả cao
Đăng bởi: bachhac - 11-25-2010, 07:58 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Cu Gáy - Trả lời (3)

Sưu tầm:

Bẫy chim gáy tuy rất đơn giản, nhưng cũng rất phức tạp và đòi hỏi tay nghề phải cao và khéo léo mới bách chiến bách thắng được. Có khi trời thật đẹp, tưởng rằng chắc ăn... nhưng khi bẫy thì mạnh mồi mồi gáy mạnh bổi bổi đấu sơ rồi đi kiếm ăn .... thế là hết một ngày ...buồn... có khi đi tới nơi không nghe tiếng gáy nào... nhưng khi mồi chỉ giống vài tiếng thì bổi về ào ào....chiến đấu với mồi thật sung và nhẩy vào lụp xòn xọt thật là sướng. Có phải đây là liên hệ với thuật "ngũ hành, phong thủy" không? ... thì đây cũng là một ẩn số.... khó mà lý giải !!! Nhưng theo banchu tôi, có 3 thứ rất quan trọng trong việc bẫy chim gáy ( thời cơ, địa lợi và nhân hòa), nếu kết hợp cả 3 điều này tốt thì hiệu suất bẫy chim cao hơn.
1. Thời cơ: Tìm hiểu thật kỹ về con chim bỗi (kết), thời điểm nào nó hăng (sung) nhất để phục. Đây là điều quan trọng hàng đầu. Thông thường con rừng hăng nhất là lúc hắn ta sống một mình và đã làm chúa được một vùng, loại này sáng ngũ dậy bay lên cây cao gáy gù thật rôm rả, khi thấy em nào bay sạt qua, hoặc nghe em chim lạ nào gáy....thì hắn ta bay tới và đuổi đánh thật mảnh liệt. Còn loại còn lại là từ sáng tới chiều chỉ đứng trong bụi và thúc trận với chim mái nhè nhẹ nghe thật sướng tai, lúc này rình rình đi tới rồi bẫy lót thì sướng biết chừng nào.
2. Địa lợi: Phải biết được vị trí con chim bổi đang làm chúa ở khu vực nào, thường gáy ra oai ở cây cội nào nhất.... nếu đặt bẫy sai vị trí lãnh thổ cũng làm cho con mồi khốn đốn vô cùng, nhiều khi chỉ cách nhau một bờ ranh, con đường mòn, hay là sai hướng thì coi như công cóc, dù chim mồi có làm rát cuống họng thì nó có về đấu chăng nữa thì chỉ đấu cầm chừng thôi, và rất ít có cơ hội nhập hộ khẩu nhà ta...
3. Nhân hòa: Dù chim hay cở nào mà, nhưng chủ nhân của nó yếu tay nghề, hoặt cẩu thả cho điểm này thì có ngày sẽ ôn hận ... thông thường nhất là bể trận nhì là "bể chim". Trước khi treo lồng thì phải quan sát gần nơi bẩy có đường mòn nào, có người làm rẫy đốn củi gần đó không, treo lồng cao chừng nào tốt chừng ấy, nhánh thế phải chọn cho thật đẹp, tốt nhất là đừng bao giờ chọn nhánh thế quá xa, quá cao và nhất là quá to; vì quá cao, quá xa chim bổi rất khó nhảy và rất dễ bị trượt... còn quá to thì có ngày gặp bổi già gù thì chim mồi rất dể bể mồi bởi thế nên chọn nhánh thế nhỏ thôi, và cái cầu ngoài phải sáng và to hơn nhánh thế là tốt nhất. Để ngăn ngừa kẻ thù của chim gáy ( trộn, chồn, bìm bịp....) nên việc quan sát thì phải " me " gần lồng, và quan trọng nhất là phải để mồi trong tầm mắt.... Nếu lỡ chim rừng có đậu sát chổ ngồi thì cứ ngồi im đừng nhúc nhích, chờ cho đến khi nó đấu và chuyền gần tới lòng thì lúc ấy ta tha hồ chuyển chố.....
Ngoài ra tôi và các bạn chơi chim còn rút kinh nghiệm rắng: Nếu gặp những trường hợp dưới thì hôm ấy rất khó bắt bổi.
- Chim bổi bắn đèn nhiều trước khi về đấu với chim lồng.
- Đài khí tượng báo sắp có bão, hay áp thấp, bão ở ngoài khơi.
- Chim bay thành đàn ra hướng rẫy, ruộng.
- Nghe tiếng con đỏ (hoẵng) kêu nhiều trong ngày.
- Chim rừng gáy rộ buổi sáng sớm, nhưng đến khi mặt trời mọc lên... không nghe em nào gáy nữa.
- Chim rừng đang đấu với chim mồi rồi bỏ đi xuống đất kiếm ăn, thì thế nào vào buổi chiều cũng sẽ có mưa.
- Nhiệt độ thời tiết quá nóng hay là quá lạnh..... còn nhiều nữa nhưng…….. quên rồi.
Nói thì nói vậy thôi, chứ khi nổi cơn ghiền lên rồi ....thì làm sao cưỡng lại cho nổi, phải không các bác!

Nguồn:arowana.

In mục này

  Đôi điều cần lưu ý khi bắt bổi
Đăng bởi: bachhac - 11-25-2010, 07:57 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về Cu Gáy - Trả lời (15)

Các nghệ nhân nuôi cu cườm lâu năm ai ai cũng mong muốn mình sở hữu được vài con mồi hay và thật sát bổi, điều đó không phải ai cũng làm được ... cho nên mới có kẻ mua và người bán. Chuyện mua hay bán, trao đổi vật chất cũng là chuyện thường tình ở đời. Cũng vì lẽ đó mà có những nghệ nhân rất đam mê chim cu mà không có thời gian để đào tạo từ một con bổi lên thành con mồi ... nên chọn giải pháp mua mồi là thích hợp nhất. Vẫn biết rằng khi ta nuôi nấng và huấn luyện từ con bổi lên thành con mồi, luyện tập chúng qua từng ngày mới thú vị ... rồi cái cảm giác lo lo, mừng mừng khi nó bắt được con bổi đầu tiên, rồi con thứ hai, thứ ba ... cũng từ đó tài nghệ của nó ngày càng thăng tiến sau những chuyến ngao du sơn thủy ... Cũng từ đó ta và nó đã có một sợi dây vô hình gắn kết ... ta cảm thấy yêu quý nó hơn, xem chúng như những đứa con cưng của mình vậy .... nhưng cũng có những người nuôi chim cu y như nuôi một đạo quân vậy 50 đến 60 con, chổ nào cũng là cu với cu ... số lượng thì khỏi chê nhưng chất lượng thì quá kém ... trong đạo quân ô hợp ấy chỉ vài ba con sau này là có triển vọng. Ta chỉ cần nuôi một con dũng tướng là đủ, không nên nuôi cả đội quân làm gì, tốn công, tốn lúa ....
+ Nguyên luôn luôn tâm niệm rằng : "Thà không nuôi chứ nuôi thì phải nên ..." cũng vì lẽ đó mà Nguyên rất khắc khe trong việc chọn lựa chim bổi, chỉ cần một điểm không vừa ý là ta loại ngay, mặc dù nó rất hay ở ngoài rừng, nó "phải có dáng dấp của con mồi" mới được, vì nó là mầm non, chồi xanh của tương lai .... khi thành tài phải là tướng mà thôi, điều đó đâu phải ai ai cũng làm được cho nên Nguyên viết bài viết này để hướng dẫn cho những người mới vào nghề làm quen dần với "tác phong của một nghệ nhân thật thụ"
Dù là mồi cây hay mồi đất khi dính bổi ta hãy bình tĩnh và từ từ nhé đừng sợ nó sẩy (nếu dính rồi mà sẩy mất thì đó là ý trời…. có nối tiếc nhưng xin đừng buồn) hãy từ từ đi đến chổ con mồi và làm các thao tác như sau:
- Sang con mồi từ lụp qua lồng để, treo cẩn thận (vì có những người khi bắt được con bổi hay quá cứ lo dí bắt cho kỳ được con bổi ... nhưng khi quay lại thì con chó đang tha con mồi, cái vụ này thì mấy anh đánh mồi đất đụng hoài ... ta hãy quan niệm rằng con bổi hay cở đó mà còn bị con mồi dụ cho sa vào lụp thì con bổi ấy có xá gì so với con mồi).
- Đừng lật đật cho vào túi rút mà ta hãy từ từ cầm hai chân con bổi bằng tay phải, để cho con bổi nằm trên lòng bàn tay trái ... ta bắt đầu quan sát vì lúc này con bổi vẫn con giữ nguyên bộ lông rừng chưa bị rụng ... ta dễ quan sát hơn.
1. Coi đầu của nó tròn hay vuông, lông đầu xám trắng hay bình thường.
2. Mắt của nó to hay nhỏ, sâu hay lộ, tròng vàng lớn hay nhỏ, màu mắt: đỏ tươi hay đỏ thẩm, vàng nhạt hay vàng nghệ, trắng dã hay đen thui ...
3. Mỏ của nó dài hay ngắn, thẳng hay cong, to hay nhỏ, đen bóng hay đen ***** ...
4. Lổ mủi to hay nhỏ, dài hay tròn, cục gồ cao hay thấp ….
5. Chỉ dàm to hay nhuyễn, quá khóe hay chưa tới, thẳng hay cong ...
6. Cổ ngắn hay dài (ta nên lưu ý điều này mấy anh có cổ ngắn, tròn đa phần gáy giọng trơn hay chiếc. Còn mấy anh cổ dài hay cổ lãi thường thì gáy giọng đôi hoặc ba) ...
7. Cườm: khổ cườm to hay nhỏ, trắng nhiều hay đen nhiều, cườm lửa đóng cao hay thấp, sau đó ta xem nó thuộc loại cườm nào ... một dây, hai dây, ba dây hay bể nát ...
8.Có đuôi rùa hay không, có dị tật hay ẩn tướng nào hay không ...
9. Ức tròn hay dẹp , ức chiếc hai ức đôi , nở hay lép ( ức =ngực ) ...
10. Mình dài hay ngắn, nhìn dọc nó tròn hay vuông , to con hay nhỏ con ....
11. Quy me hay bìa tên, sổ hay ngang, 3 tần hay 4 tần, hai cánh có đều nhau không (thường thì cánh bên trái lông quy sẽ mọc nhiều hơn cánh bên phải).
12. Phau trắng hay hồng, phèn hay xám ....
13. Chân cao hay thấp ( dài hay ngắn ), mập hay ốm ...
14. Ngón chân dài hay ngắn ...
15. Móng chân dài hay ngắn, thẳng hay cong ...
16. Sau cùng là đuôi vót hay đuôi xòe lông đuôi nhiều hay ít ....
Nếu các bạn quan sát như trên và có nhận xét đúng ngay từ đầu thì các bạn sẽ không bao giờ bị lầm khi chọn bổi đem về nuôi.

Tác giả TRONG NGUYEN - Diễn đàn Chim - Cá Cảnh Việt Nam

In mục này

  Mi mơ của Khanhhd
Đăng bởi: beck.vn - 11-25-2010, 06:09 PM - Diễn đàn: Hình Ảnh đẹp, Clip - Trả lời (20)

Chú chim họa mi quý hiếm Vân mi được nuôi hoàn toàn bằng cám chim Ba Vì. Mời các bạn thưởng thức:

[Hình ảnh: sieuthiNHANH2010112532847zjm4owqym268933.jpeg]
[Hình ảnh: sieuthiNHANH2010112532847mzc1mgjmyz67600.jpeg]
[Hình ảnh: sieuthiNHANH2010112532847ntg3njc2od67600.jpeg]
[Hình ảnh: sieuthiNHANH2010112532847nzc1zgzkzj58789.jpeg]
[Hình ảnh: sieuthiNHANH2010112532847odlkytmxyz68933.jpeg]
[Hình ảnh: sieuthiNHANH2010112532847zjkynme4mw58789.jpeg]
[Hình ảnh: sieuthiNHANH2010112532847n2q4n2uzzt58789.jpeg]


[YOUTB]http://www.youtube.com/watch?v=I2XUJgD3GjQ[/YOUTB]
[YOUTB]http://www.youtube.com/watch?v=-H7XrSDzcdQ[/YOUTB]
[YOUTB]http://www.youtube.com/watch?v=dSL47jOEhOQ[/YOUTB]

In mục này

  chào mào bemaap
Đăng bởi: bemaap - 11-25-2010, 05:15 PM - Diễn đàn: Hình Ảnh đẹp, Clip - Trả lời (18)

hic có em chào mào ngồ ngộ chưa xong lông nhưng cũng đã chớm nổi.ngày hôm nay đem về trường thấy cũng tạm được nên làm cái clip bằng điện thoại hơi mờ,xem tạm hic hơi đau mắt tý :-@

[Hình ảnh: attachment.php?attachmentid=23&stc=1&d=1290679732]


In mục này

  anh em chỉ mình cách vực lửa sâu đỏ
Đăng bởi: 7seo - 11-25-2010, 04:59 PM - Diễn đàn: Vấn đề chung về chim Sâu - Trả lời (35)

chim mùa 2 mới thay lông gần song còn 1 vài cái nữa là hoàng thành.mùa trước đấu đá lụp điều ngon lành đến mùa thay lông ko di choi nữa mà cho em nó ở nhà trùm lại bỏ bê quá chi cho ăn cám ko ah .nay em nó thay lông song ma giờ muốn chơi mà em nó cứ im re kè kiến cũng chả hót đấu ji.mới cho ăn sâu lại mấy hôm . mong ai bị trường hợp như mình chỉ mình với cần bổ sung thức ăn ji hay làm cách nào cho em nó có lửa lại. chim ko hot cũng ko đấu đem đi ra chổ chơi cũng kỳ quá, mong anh em giup đỏ

ai chuyên nuôi sâu đỏ có làm cám sẳn thì bán lại mình 1 it nuôi có 3 con chơi văn nghệ giờ cũng ko đi bẫy nữa làm biến làm thức ăn .nên mua lại của những anh em nào làm cám cho chim mình ăn làm thường xuyên nha , thì để lại mình về cho nó ăn luôn ko chơi cám tiệm hoặt cám của những nhà sản xuất.

In mục này

  Chim này là chim gì vậy?
Đăng bởi: Inferboy - 11-25-2010, 03:18 PM - Diễn đàn: Hỏi Đáp Về Chim Rừng - Trả lời (11)

[Hình ảnh: 25112010281.jpg]

[Hình ảnh: 25112010293.jpg]

[Hình ảnh: 25112010287.jpg]

Ai cho mình hỏi chim này là loài chim gì vậy?

Chim này có biết hót ko?

Và thức ăn của nó là gì?

In mục này


Thành viên đang trực tuyến
Hiên tại có 757 thành viên đang trực tuyến » 0 Thành viên | 755 Khách
Bing, Google

Thẩm định giá bất động sản Thẩm định giá động Sản Thẩm định giá máy móc thiết bị Thẩm định dự án đầu tư Thẩm định giá tri doanh nghiệp
Thẩm Định Giá tài sản vô hình Thẩm định giá dự toán gói thầu Thẩm Định Giá Dự toán, dự án xây dựng Thẩm định giá trang thiết bị y tế Thẩm định giá Xử lý nợ Thẩm định giá nhà xưởng Thẩm định giá đầu tư
Mã nguồn bởi MyBB, © 2002-2026 Tài Trợ Bởi Thamdinh.com.vn.