05-07-2014, 02:27 PM
[h=2]Thông tin mô tả chó Phú Quốc[/h] [INDENT] Nguồn gốc: Đảo Phú Quốc, Việt Nam.
Công dụng :
Giống chó săn bằng tốc độ và nuôi trong nhà.
Phân loại:
Nhóm 5: Những giống chó cổ xưa và Spitz.
Phân nhóm 7: Các giống chó săn nguyên thủy.
Sơ lược về lịch sử :
Chó Phú Quốc là một giống chó cổ có từ ngàn xưa, được nhà động vật học Emile Oustalet xem là tổ tiên của giống chó Dingo tại Úc Châu. Là giống chó duy nhất có dải lông mọc ngược và là một trong 316 giống chó đầu tiên có bản tiêu chuẩn trong *Thánh kinh về chó giống* của bá tước Henri de Bylandt từ năm 1897. Đã từng có hai cá thể là Xòai (đực) và Chuối (cái) đọat giải nhất và nhì tại Dogshow thành phố Lille, nước Pháp. Chúng đều sinh năm 1892 và thuộc sở hữu của một người Pháp tên là Gaston Helouin sống tại Helfaut, Pas-de-Calais, miền bắc nước Pháp. Xòai và Chuối đã gây một ấn tượng sâu đậm cho giám khảo, là bá tước Henri de Bylandt, tại cuộc triển lãm chó Hòan Vũ diễn ra trong trong ba ngày 14, 15 và 16 tháng 7 năm 1894 tại Anvers, vương quốc Bỉ.
Kích thước chung :
Hình dáng của lòai chó săn thỏ nhưng hình dáng của đầu và mình nặng nề hơn. Chúng là giống chó có kích thước trung bình với khung xương nằm trong hình vuông. Cơ thể gọn gàng nhưng rất rắn chắc, các cơ bắp nở nang.
HOẠT ĐỘNG VÀ KHÍ CHẤT :
Chó chạy rất nhanh khi săn mồi và rất dài hơi. Ngòai thiên nhiên chó họat động rất linh họat, có thể tự kiếm ăn mà không cần nhờ vào sự giúp đỡ của con ngừơi. Khả năng tránh né, chạy nhảy, leo trèo và hãm tốc độ đột ngột để đổi hướng chạy là rất tốt. Rất thân thiện với con người, thích hợp nuôi để đi săn bằng cách đua tốc độ và làm bạn trong gia đình.
ĐẦU : Dài bằng chiều dài cổ. Bằng nửa chiều dài của lưng.
VÙNG HỘP SỌ :
Hộp sọ : Hơi cong khi nhìn ngang, bằng phẳng khi nhìn từ trên xuống.
Trán : Bằng phẳng. Có những nếp nhăn dọc theo đầu khi đang chú ý. Điểm tiếp giáp giữa sống mũi và trán hơi cong nhẹ.
VÙNG MẶT :
Râu: Đen.
Mũi : Đen và rộng hơn 1/2 khỏang cách giữa hai mắt.
Sống mũi : Thẳng.
Mõm : hình chữ V, khá rộng, dài bằng nửa chiều dài đầu. Chiều rộng của mõm đo tại gốc mũi bằng 2/3 chiều rộng của đầu.
Má: Xương gò má nổi gồ lên.
Môi : Khép kín, màu đen.
Lưỡi : Lưỡi có đốm màu đen, đen hòan tòan thì tốt nhất.
Hàm : Hàm trên và dưới khoẻ. Xương hàm tương đối thẳng.
Răng : Phát triển đầy đủ, trắng khoẻ, các răng khít vào nhau. Răng cắn hình cắt kéo.
Mắt : Có kích thước trung bình, hình hạnh nhân. Mắt màu nâu đen, màu nâu đỏ có thể được chấp nhận. Viền mắt phải là màu đen.
Tai : Nằm hai bên hộp sọ, dựng đứng như hình vỏ sò . To vừa phải, không nhọn lắm, phía trong tai ít lông, tai vểnh hướng về phía trước. Độ dài của tai bằng khỏang cách từ đầu mũi đến giữa hai mắt. Chiều ngang tai dài vừa phải so với chiều dài tai.
CỔ : Dài và mềm, khoẻ, linh họat, nở rộng về phía vai giữ đầu ngóc lên cao. Hướng chếch lên cao so với xương sống.
GIỌNG SỦA : Chói tai. Chó thường sủa từng tràng dài.
THÂN HÌNH
Lưng : Khoẻ và thẳng tắp.
Eo : Khoẻ, rắn chắc và thon. Khi nhìn ngang thì thấy chiều cao của eo bằng một nửa khỏang cách từ vai đến kheo chân trước.
Mông : Không dốc lắm .
Ngực : Nở rộng, chó trưởng thành ngực sâu đến khuỷu chân trước. Xương sườn khỏe, các xương xếp sát vào nhau.
Bụng : Rất thon.
Ức : Nở nang.
ĐUÔI : Ngắn, hình cánh cung. Độ dài của đuôi không kéo dài tới kheo chân sau. Phải thẳng tự nhiên tiếp theo phần cuối xương sống. Gốc đuôi tròn dày và thon dần về phía đầu của đuôi. Khi dựng lên thì ngay ngắn, không đổ về hai bên lưng , đầu của đuôi không được cong chạm tới lưng.
CHÂN
HAI CHÂN TRƯỚC:
Vai : nổi rõ và xiên.
Chân trước : Hai chân thẳng tắp và song song với nhau khi nhìn từ phía trước. Độ dài từ mặt đất tới kheo chân trước thì bằng độ dài từ kheo chân trước tới vai. Độ hở giữa hai chân trước phải rộng hơn chiều ngang của mõm.
Cổ chân : Thẳng khi nhìn từ phía trước, cong không đáng kể khi nhìn từ bên hông tới.
Bàn chân : tương đối tròn đầy có đệm chân dày hình bầu dục.
Ngón chân trước: Dài hơn ngón chân sau. Chụm và khít.
Móng: Màu đen.
HAI CHÂN SAU :
Bắp đùi : Rất nở nang và săn chắc cho tới khuỷu chân sau.
Khuỷu chân sau : Khoẻ và gấp.
Cổ chân sau : Thẳng và song song khi nhìn từ phía sau.
Bàn chân sau : Tròn đầy vừa phải, đệm chân hình bầu dục.
Ngón chân sau : Đầy và khít.
Móng : Màu đen.
CHUYỂN ĐỘNG :
Bước chạy nhẹ nhàng, khoan thai nhưng vững chắc. Với tốc độ bình thường thì các buớc chân tạo thành hai đường song song trên mặt đất. Khi nhìn từ phía trước, hai chân trước và sau di chuyển lên xuống trên một đường thẳng, vì thế vai, khuỷu chân trước và khớp nối cổ chân phối hợp với nhau gần như trên một mặt thẳng. Khi nhìn từ phía sau, khuỷu chân sau và khớp háng phải trên một đường thẳng. Cách chạy đó làm cho sải chân trông dài hơn và hùng dũng hơn. Sự vận động một cách toàn diện của con chó phải nhịp nhàng uyển chuyển và luôn giữ thăng bằng tốt. Khi chạy đầu chó phải luôn ngóc cao thì trông mới oai vệ và ngạo nghễ.
DA :
Tương đối mỏng, ôm sát vào các cơ bắp. Da cổ và da vùng mặt không chảy xệ.
LÔNG
Sợi lông : Có đủ hai lớp. Lớp ngoài cứng, thẳng, ôm sát vào thân và ngắn hơn 2cm. Lớp lông bên dưới bị lớp lông ngòai che phủ. Dải lông dọc theo sống lưng thì mọc ngược với hướng của toàn thể các sợi lông ở các vùng khác trên cơ thể. Màu của dải lông mọc ngược thì sậm màu, nổi rõ trên lưng . Có sự khác biệt về hình dạng của các dải lông mọc ngược, nhưng phải cân đối hai bên xương sống và có độ rộng không vượt quá độ rộng của lưng. Độ dài phải hơn 1/2 độ dài của lưng. Những cái xoáy tròn nằm ở phía đầu của dải lông mọc ngược và ở các vùng khác thì được chấp nhận, nhưng phải đối xứng qua xương sống.
Màu lông : thuần nhất : Vàng da bò, đen, vện và màu kem (isabella). Màu vàng lửa có mặt nạ đen là màu được chuộng.
SỐ ĐO : Chiều cao lý tưởng :
Con đực : cao khỏang 55 cm.
Con cái : thấp hơn con đực.
TRỌNG LƯỢNG :
Con đực : cân nặng khỏang 18-20 kg.
Con cái : nhẹ ký hơn con đực.
NHỮNG LỖI : Những gì khác biệt với các đặc điểm đã nêu ở trên thì bị coi là lỗi và phải nghiêm khắc xem xét mọi chi tiết một cách nghiêm ngặt.
• Đầu: Quá hẹp, quá dài, quá ngắn. Chỗ tiếp giáp giữa sống mũi và trán không cong (thẳng) hoặc cong quá nhiều (gấp khúc). Không có nết nhăn dọc theo đầu khi chó đang chú ý.
• Hộp sọ: Quá cong hoặc nổi gồ khi nhìn ngang.
• Trán: Nổi gồ.
• Râu: Màu nhạt, trắng, quá ngắn.
• Mũi: Nhỏ, hẹp, lỗ mũi quá hẹp. Màu nhạt, gan gà, hồng đỏ, lốm đốm... Không đen sáng bóng. Có rãnh dọc sống mũi, cong hoặc gồ.
• Mõm: Quá dài, quá hẹp, nhọn, vuông ngắn.
• Má: Xương gò má lép, không nổi rõ.
• Môi: Màu nhạt hoặc hồng, lốm đốm. Môi trên chảy xệ phủ kín môi dưới, môi dưới xệ thòng ra phía ngòai.
• Lưỡi: Không có đốm ( cần phân biệt giữa có đốm lưỡi và bệnh lưỡi đen).
• Hàm: Dài, hẹp, hô, vểu.
• Răng: Không đầy đủ PM 1,2,3,4. Bể, mẻ, màu xám đen, mọc lỉa chỉa. Khỏang cách giữa các răng hở. Răng cắn không khít hình cắt kéo.
• Mắt: Các mi mắt không phải màu đen, chảy xệ. Viền mắt trở ra trắng. Màu mắt nhạt (vàng, xanh…). Mắt tròn xoe, lồi, lõm sâu. Hai mắt khác màu nhau.
• Tai: Không đối xứng, quá to, quá nhỏ, đầu tai nhọn. Tai hướng về phía sau.
• Cổ: Quá to, ngắn. Mảnh khảnh, không thể giữ đầu chếch lên cao so với xương sống.
• Lưng: Võng, cong gù lên, lỏng lẻo, quá dài.
• Eo: to rộng, cơ nhão.
• Mông: Quá dốc, quá dài, quá ngắn.
• Ngực: Hẹp, tròn như thùng rượu. Các xương xườn thưa, không khít. Chó trưởng thành ngực không sâu đến khủyu chân trước.
• Bụng: To, rộng, võng.
• Ức: Hẹp, lõm.
• Đuôi: Quá cao trên lưng hoặc quá thấp. Đuôi cụp, đổ về hai bên của lưng, cong quá một vòng, đầu của đuôi chạm vào lưng. Đuôi quá dài ( dài hơn kheo chân sau). Lông đuôi quá dài, xù, quăn.
Hai chân trước:
• Vai: Không có vai.
• Chân trước: Không có cơ bắp, cẳng chân quá ngắn, vòng kiềng, cán vá. Nhìn từ phía trước chân không song song. Độ hở giữa hai chân quá hẹp.
• Cổ chân: Quá thẳng, yếu (khi nhìn ngang).
• Bàn chân: Quá dài, hẹp. Đệm chân kém phát triển.
• Ngón chân: Quá dài, ốm, méo mó, dị tật, bè ra như hình nải chuối.
• Móng: Màu nhạt.
Hai chân sau:
Nếu có móng đeo thì nên cắt bỏ khi chó còn sơ sinh.
• Bắp đùi: Hẹp, cơ bắp kém phát triển.
• Khuỷu chân sau: Hẹp, yếu, thẳng tắp hoặc quá gấp khúc.
• Cổ chân: Lệch lạc khi nhìn từ phía sau, cán vá, vòng kiềng.
• Bàn chân: Quá dài, hẹp, đệm chân kém phát triển.
• Ngón chân: Dài, lệch lạc, ốm, dị tật, bè ra như hình nải chuối.
• Móng: Màu nhạt.
• Da: Dầy, chảy xệ, có nếp gấp.
• Sợi lông: Cần đủ hai lớp, không chấp nhận chó chỉ có lớp lông nhung (lông bông). Lông dài quá 2cm, lông quăn.
• Màu lông: Màu trắng, đốm, vá, xám, ruốc, back and tan ( và các loại màu lông tương tự), sôcôla.
• Dải lông mọc ngược và các xoáy: Quá ngắn, quá rộng, không cân xứng qua xương sống (Các xoáy tròn gắn liền với dải lông mọc ngược phải tròn đều và đối xứng qua xương sống).
• Chiều cao và trọng lượng: Quá cao, dài, nhỏ. Quá nhẹ, quá nặng.
• Tính khí: Hoang dã, không chịu khuất phục. Quá nhút nhát, quá hung dữ và có những biểu hiện tâm lý bất ổn.
LỖI NGHIÊM TRỌNG :
• Quá dữ tợn hoặc quá nhút nhát.
• Những con chó không có dải lông mọc ngược.
• Bị bệnh u nan biểu bì (DSC).
• Lông dài quá 2cm hoặc loại toàn thân đều là lông bông ( lông nhung).
• Mi mắt trắng, nhạt màu, mũi màu gan gà ( mũi đỏ), môi không phải màu đen. Màu mắt nhạt, hai mắt khác màu nhau.
Chú ý : Con chó đực phải có đầy đủ hai tinh hoàn nằm trong bìu dái khi nhìn bằng mắt thường. Nên chọn chó cái có các cặp vú cân xứng và hông không quá hẹp.
Bản mô tả được xây dựng dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của giáo sư Dư Thanh Khiêm. Viện trưởng viện giáo dục Woluwe Saint Pierre ở Brussels, thủ đô Vương quốc Bỉ. [/INDENT]
Công dụng :
Giống chó săn bằng tốc độ và nuôi trong nhà.
Phân loại:
Nhóm 5: Những giống chó cổ xưa và Spitz.
Phân nhóm 7: Các giống chó săn nguyên thủy.
Sơ lược về lịch sử :
Chó Phú Quốc là một giống chó cổ có từ ngàn xưa, được nhà động vật học Emile Oustalet xem là tổ tiên của giống chó Dingo tại Úc Châu. Là giống chó duy nhất có dải lông mọc ngược và là một trong 316 giống chó đầu tiên có bản tiêu chuẩn trong *Thánh kinh về chó giống* của bá tước Henri de Bylandt từ năm 1897. Đã từng có hai cá thể là Xòai (đực) và Chuối (cái) đọat giải nhất và nhì tại Dogshow thành phố Lille, nước Pháp. Chúng đều sinh năm 1892 và thuộc sở hữu của một người Pháp tên là Gaston Helouin sống tại Helfaut, Pas-de-Calais, miền bắc nước Pháp. Xòai và Chuối đã gây một ấn tượng sâu đậm cho giám khảo, là bá tước Henri de Bylandt, tại cuộc triển lãm chó Hòan Vũ diễn ra trong trong ba ngày 14, 15 và 16 tháng 7 năm 1894 tại Anvers, vương quốc Bỉ.
Kích thước chung :
Hình dáng của lòai chó săn thỏ nhưng hình dáng của đầu và mình nặng nề hơn. Chúng là giống chó có kích thước trung bình với khung xương nằm trong hình vuông. Cơ thể gọn gàng nhưng rất rắn chắc, các cơ bắp nở nang.
HOẠT ĐỘNG VÀ KHÍ CHẤT :
Chó chạy rất nhanh khi săn mồi và rất dài hơi. Ngòai thiên nhiên chó họat động rất linh họat, có thể tự kiếm ăn mà không cần nhờ vào sự giúp đỡ của con ngừơi. Khả năng tránh né, chạy nhảy, leo trèo và hãm tốc độ đột ngột để đổi hướng chạy là rất tốt. Rất thân thiện với con người, thích hợp nuôi để đi săn bằng cách đua tốc độ và làm bạn trong gia đình.
ĐẦU : Dài bằng chiều dài cổ. Bằng nửa chiều dài của lưng.
VÙNG HỘP SỌ :
Hộp sọ : Hơi cong khi nhìn ngang, bằng phẳng khi nhìn từ trên xuống.
Trán : Bằng phẳng. Có những nếp nhăn dọc theo đầu khi đang chú ý. Điểm tiếp giáp giữa sống mũi và trán hơi cong nhẹ.
VÙNG MẶT :
Râu: Đen.
Mũi : Đen và rộng hơn 1/2 khỏang cách giữa hai mắt.
Sống mũi : Thẳng.
Mõm : hình chữ V, khá rộng, dài bằng nửa chiều dài đầu. Chiều rộng của mõm đo tại gốc mũi bằng 2/3 chiều rộng của đầu.
Má: Xương gò má nổi gồ lên.
Môi : Khép kín, màu đen.
Lưỡi : Lưỡi có đốm màu đen, đen hòan tòan thì tốt nhất.
Hàm : Hàm trên và dưới khoẻ. Xương hàm tương đối thẳng.
Răng : Phát triển đầy đủ, trắng khoẻ, các răng khít vào nhau. Răng cắn hình cắt kéo.
Mắt : Có kích thước trung bình, hình hạnh nhân. Mắt màu nâu đen, màu nâu đỏ có thể được chấp nhận. Viền mắt phải là màu đen.
Tai : Nằm hai bên hộp sọ, dựng đứng như hình vỏ sò . To vừa phải, không nhọn lắm, phía trong tai ít lông, tai vểnh hướng về phía trước. Độ dài của tai bằng khỏang cách từ đầu mũi đến giữa hai mắt. Chiều ngang tai dài vừa phải so với chiều dài tai.
CỔ : Dài và mềm, khoẻ, linh họat, nở rộng về phía vai giữ đầu ngóc lên cao. Hướng chếch lên cao so với xương sống.
GIỌNG SỦA : Chói tai. Chó thường sủa từng tràng dài.
THÂN HÌNH
Lưng : Khoẻ và thẳng tắp.
Eo : Khoẻ, rắn chắc và thon. Khi nhìn ngang thì thấy chiều cao của eo bằng một nửa khỏang cách từ vai đến kheo chân trước.
Mông : Không dốc lắm .
Ngực : Nở rộng, chó trưởng thành ngực sâu đến khuỷu chân trước. Xương sườn khỏe, các xương xếp sát vào nhau.
Bụng : Rất thon.
Ức : Nở nang.
ĐUÔI : Ngắn, hình cánh cung. Độ dài của đuôi không kéo dài tới kheo chân sau. Phải thẳng tự nhiên tiếp theo phần cuối xương sống. Gốc đuôi tròn dày và thon dần về phía đầu của đuôi. Khi dựng lên thì ngay ngắn, không đổ về hai bên lưng , đầu của đuôi không được cong chạm tới lưng.
CHÂN
HAI CHÂN TRƯỚC:
Vai : nổi rõ và xiên.
Chân trước : Hai chân thẳng tắp và song song với nhau khi nhìn từ phía trước. Độ dài từ mặt đất tới kheo chân trước thì bằng độ dài từ kheo chân trước tới vai. Độ hở giữa hai chân trước phải rộng hơn chiều ngang của mõm.
Cổ chân : Thẳng khi nhìn từ phía trước, cong không đáng kể khi nhìn từ bên hông tới.
Bàn chân : tương đối tròn đầy có đệm chân dày hình bầu dục.
Ngón chân trước: Dài hơn ngón chân sau. Chụm và khít.
Móng: Màu đen.
HAI CHÂN SAU :
Bắp đùi : Rất nở nang và săn chắc cho tới khuỷu chân sau.
Khuỷu chân sau : Khoẻ và gấp.
Cổ chân sau : Thẳng và song song khi nhìn từ phía sau.
Bàn chân sau : Tròn đầy vừa phải, đệm chân hình bầu dục.
Ngón chân sau : Đầy và khít.
Móng : Màu đen.
CHUYỂN ĐỘNG :
Bước chạy nhẹ nhàng, khoan thai nhưng vững chắc. Với tốc độ bình thường thì các buớc chân tạo thành hai đường song song trên mặt đất. Khi nhìn từ phía trước, hai chân trước và sau di chuyển lên xuống trên một đường thẳng, vì thế vai, khuỷu chân trước và khớp nối cổ chân phối hợp với nhau gần như trên một mặt thẳng. Khi nhìn từ phía sau, khuỷu chân sau và khớp háng phải trên một đường thẳng. Cách chạy đó làm cho sải chân trông dài hơn và hùng dũng hơn. Sự vận động một cách toàn diện của con chó phải nhịp nhàng uyển chuyển và luôn giữ thăng bằng tốt. Khi chạy đầu chó phải luôn ngóc cao thì trông mới oai vệ và ngạo nghễ.
DA :
Tương đối mỏng, ôm sát vào các cơ bắp. Da cổ và da vùng mặt không chảy xệ.
LÔNG
Sợi lông : Có đủ hai lớp. Lớp ngoài cứng, thẳng, ôm sát vào thân và ngắn hơn 2cm. Lớp lông bên dưới bị lớp lông ngòai che phủ. Dải lông dọc theo sống lưng thì mọc ngược với hướng của toàn thể các sợi lông ở các vùng khác trên cơ thể. Màu của dải lông mọc ngược thì sậm màu, nổi rõ trên lưng . Có sự khác biệt về hình dạng của các dải lông mọc ngược, nhưng phải cân đối hai bên xương sống và có độ rộng không vượt quá độ rộng của lưng. Độ dài phải hơn 1/2 độ dài của lưng. Những cái xoáy tròn nằm ở phía đầu của dải lông mọc ngược và ở các vùng khác thì được chấp nhận, nhưng phải đối xứng qua xương sống.
Màu lông : thuần nhất : Vàng da bò, đen, vện và màu kem (isabella). Màu vàng lửa có mặt nạ đen là màu được chuộng.
SỐ ĐO : Chiều cao lý tưởng :
Con đực : cao khỏang 55 cm.
Con cái : thấp hơn con đực.
TRỌNG LƯỢNG :
Con đực : cân nặng khỏang 18-20 kg.
Con cái : nhẹ ký hơn con đực.
NHỮNG LỖI : Những gì khác biệt với các đặc điểm đã nêu ở trên thì bị coi là lỗi và phải nghiêm khắc xem xét mọi chi tiết một cách nghiêm ngặt.
• Đầu: Quá hẹp, quá dài, quá ngắn. Chỗ tiếp giáp giữa sống mũi và trán không cong (thẳng) hoặc cong quá nhiều (gấp khúc). Không có nết nhăn dọc theo đầu khi chó đang chú ý.
• Hộp sọ: Quá cong hoặc nổi gồ khi nhìn ngang.
• Trán: Nổi gồ.
• Râu: Màu nhạt, trắng, quá ngắn.
• Mũi: Nhỏ, hẹp, lỗ mũi quá hẹp. Màu nhạt, gan gà, hồng đỏ, lốm đốm... Không đen sáng bóng. Có rãnh dọc sống mũi, cong hoặc gồ.
• Mõm: Quá dài, quá hẹp, nhọn, vuông ngắn.
• Má: Xương gò má lép, không nổi rõ.
• Môi: Màu nhạt hoặc hồng, lốm đốm. Môi trên chảy xệ phủ kín môi dưới, môi dưới xệ thòng ra phía ngòai.
• Lưỡi: Không có đốm ( cần phân biệt giữa có đốm lưỡi và bệnh lưỡi đen).
• Hàm: Dài, hẹp, hô, vểu.
• Răng: Không đầy đủ PM 1,2,3,4. Bể, mẻ, màu xám đen, mọc lỉa chỉa. Khỏang cách giữa các răng hở. Răng cắn không khít hình cắt kéo.
• Mắt: Các mi mắt không phải màu đen, chảy xệ. Viền mắt trở ra trắng. Màu mắt nhạt (vàng, xanh…). Mắt tròn xoe, lồi, lõm sâu. Hai mắt khác màu nhau.
• Tai: Không đối xứng, quá to, quá nhỏ, đầu tai nhọn. Tai hướng về phía sau.
• Cổ: Quá to, ngắn. Mảnh khảnh, không thể giữ đầu chếch lên cao so với xương sống.
• Lưng: Võng, cong gù lên, lỏng lẻo, quá dài.
• Eo: to rộng, cơ nhão.
• Mông: Quá dốc, quá dài, quá ngắn.
• Ngực: Hẹp, tròn như thùng rượu. Các xương xườn thưa, không khít. Chó trưởng thành ngực không sâu đến khủyu chân trước.
• Bụng: To, rộng, võng.
• Ức: Hẹp, lõm.
• Đuôi: Quá cao trên lưng hoặc quá thấp. Đuôi cụp, đổ về hai bên của lưng, cong quá một vòng, đầu của đuôi chạm vào lưng. Đuôi quá dài ( dài hơn kheo chân sau). Lông đuôi quá dài, xù, quăn.
Hai chân trước:
• Vai: Không có vai.
• Chân trước: Không có cơ bắp, cẳng chân quá ngắn, vòng kiềng, cán vá. Nhìn từ phía trước chân không song song. Độ hở giữa hai chân quá hẹp.
• Cổ chân: Quá thẳng, yếu (khi nhìn ngang).
• Bàn chân: Quá dài, hẹp. Đệm chân kém phát triển.
• Ngón chân: Quá dài, ốm, méo mó, dị tật, bè ra như hình nải chuối.
• Móng: Màu nhạt.
Hai chân sau:
Nếu có móng đeo thì nên cắt bỏ khi chó còn sơ sinh.
• Bắp đùi: Hẹp, cơ bắp kém phát triển.
• Khuỷu chân sau: Hẹp, yếu, thẳng tắp hoặc quá gấp khúc.
• Cổ chân: Lệch lạc khi nhìn từ phía sau, cán vá, vòng kiềng.
• Bàn chân: Quá dài, hẹp, đệm chân kém phát triển.
• Ngón chân: Dài, lệch lạc, ốm, dị tật, bè ra như hình nải chuối.
• Móng: Màu nhạt.
• Da: Dầy, chảy xệ, có nếp gấp.
• Sợi lông: Cần đủ hai lớp, không chấp nhận chó chỉ có lớp lông nhung (lông bông). Lông dài quá 2cm, lông quăn.
• Màu lông: Màu trắng, đốm, vá, xám, ruốc, back and tan ( và các loại màu lông tương tự), sôcôla.
• Dải lông mọc ngược và các xoáy: Quá ngắn, quá rộng, không cân xứng qua xương sống (Các xoáy tròn gắn liền với dải lông mọc ngược phải tròn đều và đối xứng qua xương sống).
• Chiều cao và trọng lượng: Quá cao, dài, nhỏ. Quá nhẹ, quá nặng.
• Tính khí: Hoang dã, không chịu khuất phục. Quá nhút nhát, quá hung dữ và có những biểu hiện tâm lý bất ổn.
LỖI NGHIÊM TRỌNG :
• Quá dữ tợn hoặc quá nhút nhát.
• Những con chó không có dải lông mọc ngược.
• Bị bệnh u nan biểu bì (DSC).
• Lông dài quá 2cm hoặc loại toàn thân đều là lông bông ( lông nhung).
• Mi mắt trắng, nhạt màu, mũi màu gan gà ( mũi đỏ), môi không phải màu đen. Màu mắt nhạt, hai mắt khác màu nhau.
Chú ý : Con chó đực phải có đầy đủ hai tinh hoàn nằm trong bìu dái khi nhìn bằng mắt thường. Nên chọn chó cái có các cặp vú cân xứng và hông không quá hẹp.
Bản mô tả được xây dựng dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của giáo sư Dư Thanh Khiêm. Viện trưởng viện giáo dục Woluwe Saint Pierre ở Brussels, thủ đô Vương quốc Bỉ. [/INDENT]

