Đánh giá của chủ đề:
  • 0 Bình chọn - Trung bình 0
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Topic Lâm Kiệt số 3 HỌA MI YÊU DẤU
#3
Ðề: Topic Lâm Kiệt số 3 HỌA MI YÊU DẤU

Bài 2 – THỨC ĂN DÀNH CHO HỌA MI
Thưa ACE!
Thức ăn dành cho chim họa mi là một vấn đề còn nhiều điều chưa được thống nhất, quan điểm từng vùng miền và từng người còn có nhiều điểm khác nhau về loại thức ăn và cách chế biến nhưng tựu chung vẫn gồm hai phần chính đó là cám bột và mồi tươi, tùy theo dành cho đối tượng chim chiến, chim hót hay chim non mà có cách chế biến khác nhau, ngoài ra còn bổ sung nguyên tố vi lượng bằng cách cho ăn khoáng chất. Dưới đây mình xin giới thiệu một vài công thức cám nhằm cung cấp cho các bạn mới chơi chim có được những kiến thức đầu tiên về việc chế biến thức ăn cho họa mi. Sau này các bạn sẽ tự rút ra kinh nghiệm và có thể sáng tạo ra những công thức tốt hơn.

I, Cám dành cho chim chiến
Công thức 1
Gạo trắng (bỏ tấm) 300g
Lòng đỏ trứng gà 5 cái
Lòng đỏ trứng vịt 1 cái
Bột khoáng chất 3 g
Trộn bột khoáng, lòng đỏ trứng gà và trứng vịt đều vào gạo, đem phơi nắng hoặc sấy nhẹ ở nhiệt độ dưới 60 độ C cho đến lúc thấy lòng đỏ trứng trở thành lớp keo khô bọc chặt lấy hạt gạo là được. Đựng gạo đó vào túi nilon kín, chống ẩm cẩn thận, lấy cho chim ăn dần. Công thức này rất được các bạn ở các tỉnh phía nam ưa dùng.
Công thức 2
Cám gạo 200 g (Cám xay giã thủ công)
Ngô mảnh 200 g (Chọn loại ngô vàng xay mảnh nhỏ)
Thịt bò 100 g (Băm thật nhỏ)
Cá khô nhạt 50 g (giã vụn)
Tôm nõn nhạt 30g (giã vụn)
Trứng gà 3 quả ( lấy cả lòng đỏ lẫnlòng trắng)
Trứng vịt 2 quả ( chỉ lấy lòng đỏ)
Bột khoáng chất 5 g
Tất cả trộn đều, sấy nhẹ dưới 60 độ C đến lúc cám khô rời thì được. Bảo quản chống ẩm. Bản thân tôi hay dùng công thức này.
Công thức 3
Cám trứng Ba Vì 500 g (một túi loại cám Nguyễn Công Trứ)
Ngô mảnh 100 g
Thịt bò 200 g (băm nhỏ)
Tôm nõn nhạt 50 g (giã vụn)
Nhộng tằm 100 g (nghiền vụn)
Trứng gà 5 quả
Khoáng chất 10 g
Tất cả trộn đều, sấy nhẹ dưới 60 độ C, bảo quản khô mát cho chim ăn dần.
Ngoài ra còn nhiều công thức khác nữa. Về mồi tươi có thể cho ăn thêm mỗi ngày 10con châu chấu hoặc 7 con Dế hoặc 5 con nhộng tằm…Có bạn cầu kỳ mua cả dái chó,dái gà cắt ra cho ăn nhưng không phải con họa mi nào cũng ăn những thứ đó đâu bạn ạ. Các bạn ở phía nam còn có một đặc chiêu là cho ăn con liêu điêu để chim được hăng. Riêng về sâu quy nhiều người nói là cho ăn chim sẽ bó lông hoặc đau mắt nhưng thực ra sâu quy là thức ăn cực kỳ bổ dưỡng, mỗi ngày cho ăn chừng 20 đến 40 con bằng cọng rơm thi ko sao cả. Chú ý: Nếu cho chim ăn mồi tươi nhiều quá có thể bị ỉa chảy hoặc sưng chân.

II, Cám dành cho họa mi hót
Tất nhiên chim hót mà ăn cám chim chiến thì tốt quá rồi nhưng để cho tiện và kinh tế người ta thường cho chim hót ăn cám trứng Ba Vì thứ thiệt trộn 1% bột khoáng + Mồi tươi. Ở nơi ko mua được cám trứng Ba Vì, có thể cho ăn theo công thức sau:
Công thức 4
Cám gạo hoặc cám cò nhạt 300 g
Ngô mảnh nhỏ 200 g
Thịt bò hoặc thịt lợn nạc 100 g ( băm nhỏ )
Thịt cá rô phi tươi 100 g (Cá rô phi lọc riêngthịt băm nhỏ)
Trứng gà 5 quả (lấy cả lòng đỏ lẫn lòng trắng)
Trứng vịt 1 quả (chỉ lấy lòng đỏ)
Khoáng chất 10 g
Tất cả trộn đều xấy nhẹ dưới 60 độ C đến khi cám khô rời là được. Cho ăn thêm mồi tươi chút ít.
Công thức 5
Cám trứng Ba Vì 500g = 9 000đ
Ngô mảnh 100g = 1200đ
Đậu xanh 100g = 4 000
Trứng gà 2 quả = 7 000
Trứng vịt 1 quả = 3500
Cám gạo 200g = 14 000
Gan lợn 200g = 12 000
cá con 100g = 5000


III, Cám dành cho họa mi non
Đặc điểm của tất cả các loại chim non là háu ăn và dễ tính, đút cho cái gì là chén cái đó nên thông thường người ta hay đút cho mi non cám cò nhạt trộn nước và một ít mồi tươi là xong. Riêng mồi tươi nếu dùng thịt bò, thịt lợn thái nhỏ thì càng tốt, sau này chim lớn có thể ăn những thứ đó, phòng khi ko kiếm được dế, châu chấu hay sâu quy. Điều này rất lợi cho các bạn ở nơi ko có hàng bán mồi tươi cho chim. Khi đút thức ăn cho chim non, bạn nên để nó trên tay, sau này lớn lên con chim cứ níu lấy tay bạn rất thú vị.
Trên đây là những cách cho ăn rất rất cơ bản ban đầu, chắc chắn nhiều bạn có những công thức tốt hơn, ta nên trao đổi với nhau để rút kinh nghiệm cùng chơi vui vẻ.
Mình nhớ năm 1967 nuôi con họa mi non đầu tiên do một anh bạn người Tày cùng đơn vị mang từ Lạng Sơn xuống cho, lúc ấy là bộ đội lại chiến tranh thiếu thốn, lấy đâu ra những thứ kể trên cho chim ăn,hơn nữa kiến thức về chim đã biết gì đâu. Mình đút cho nó ăn cơm, bánh bột mì luộc và hạt bo bo (hạt mì), thi thoảng vài con châu chấu. Vậy mà chú chim vẫn sống bình thường. Khoảng bảy tám tháng sau tự đứng mổ bột mì luộc chén rồi hót lứu lo đều. Đến mãi khi vào chiến trường năm 1972, tình hình ác liệt quá, mình mới phóng thích nó ở bến phà Long Đại. Con chim bay theo mãi trên đường hành quân. Về sau do bom đạn quá nhiều, nó không theo được nữa.
Chim họa mi là giống nhát nhưng khi đã thuần hóa tốt nhiều năm, nó sẽ rất tình cảm và không muốn xa rời người chủ.
Chúc ACE có được chú họa mi như ý!

Chào thân ái!

<------ Bổ sung bài viết ------->


Bài 3
KHOÁNG CHẤT
Thưa các bạn!
Hiện nay nhiều ace chơi chim chúng ta còn chưa biết dùng khoáng chất cho chim và cũng không coi trọng việc đó. Đó là một cách nghĩ rất sai lầm. Bời vì sự suy giảm thể lực của mỗi con chim theo thời gian là rất chậm nên đại đa số người nuôi chim ko biết đó là bệnh. Con chim ở ngoài thiên nhiên ăn thức ăn rất phong phú và tự điều chỉnh thức ăn cho bản thân, khi sống trong điều kiện nuôi nhốt dù ta có chăm chút thế nào cũng không thể so với khi nó sống tự do bên ngoài được nên thường thiếu rất nhiều chất trong khẩu phần thức ăn mà người nuôi chim không biết hoặc không quan tâm.
Từ năm 1817 nhà điểu học Pháp Louis Vieillot đã nhận thấy có một số chim nuôi trong nhà như họa mi, yến hót (yến kanari),sơn ca… sau mấy năm tự nhiên có con rơi xuống chết. Sau đó ông nghiên cứu và biết rằng những con chim nuôi nhốt trong nhà thường bị thiếu một số nguyên tố vi lượng nên sức khỏe dần dần bị suy giảm, đến một lúc nào đó nó bị đột quỵ do suy tim, suy hô hấp, rối loạn thần kinh do thiếu calcium. Sau này tiến sĩ PaulWalton trong hiệp hội bảo vệ chim hoàng gia Scotland đã khẳng định quan điểm của Louis Vieillot là hoàn toàn đúng. Từ đấy người ta mới đặt vấn đề bổ sung nguyên tố vi lượng cho chim cảnh trong điều kiện nuối nhốt. Mãi đến thập kỷ 70 của thế kỷ XX Việt Nam ta mới bắt đầu có người chú ý đến vấn đề này, tuy nhiên đại bộ phận người chơi chim ở Việt Nam vẫn chưa biết gì về nó cả. Trong vòng vài ba chục năm gần đây mới có nhiều người biết đến việc này. Đầu tiên là những người nuôi yến hót sinh sản (đúc yến). Khi được bổ sung khoáng chất, yến đẻ đều, yến con ít chết, yến đực chóng căng. Tiếp theo đó là những người chơi họa mi chiến ở Hà Nội. Con họa mi chiến được nuôi đủ khoáng chât có thể lực dẻo dai và gan lỳ hơn rất nhiều vì bộ khung xương của nó cứng vững nên không ngại va chạm. Chim hót có khoáng chất sẽ xung mãn thể lực nên luôn hót gọi bạn. Có một điều đáng tiếc là các bạn biết dùng khoáng chất lại coi đó là một độc chiêu bí truyền nên thường giữ kín không phổ biến rộng rãi cho mọi người.
Vậy khoáng chất cho chim là gì?
Khoáng chất cho chim là một loại bột được chế biến từ một số hợp chất có chứa những nguyên tố hóa học cần thiết cho đời sống sinh lý và cơ thể của loài chim.
Mỗi một loài chim cần có một loại khoáng chất phù hợp với yêu cầu của nó. Có loại rất đơn giản như đối với chim cu gáy chỉ cần cát vàng + đất đỏ với một ít Vitamin B1 là đủ. Có loại rất phức tạp như đối với yến hót Kanari hay Họa mi, chích chòe chẳng hạn. Do ở đây đang nói về Họa mi nên mình đưa ra công thức chế biến khoáng cho chim họa mi.
1- Đất đỏ ba zan 30% (Mình thường dùng loại đất đỏ Tây Nguyên lấy từ Buôn Mê Thuột, rất giầu Oxit sắt, Mg, Phospho, kẽm, Senennium, Brom …rất cần cho cơ thể sống của động vật. Ngoài bắc có đất đỏ Lục Ngạn cũng tốt tuy ko bằng đất Tây Nguyên nhưng dùng được, trong nam có đất đỏ Biên Hòa gần được như đấtđỏ Tây Nguyên).
2- Bột than củi 25% (Tốt nhất là bột than gỗ ổi, nên tránh than xoan và than lim vì có độc tố. Trong bột than có một lượng muối Kaly rất lớn. Nguyên tố này cùng với Natri trong muối ăn điều chỉnh ổn định thần kinh, gắn kết Calci tạo ra kết cấu mô xương làm cho xương cứng vững)
3- Bột đá hoặc bột mai mực càng tốt 20%(Đây là chất giàu Calci, thành phần chính cấu tạo mô xương)
4- Cát đãi sạch 9% (Dùng cát đen đãi sạch nước bẩn, khi nào thấy nước thật trong thì được, đem phơi khô. Trong cát có hợp chất của nguyên tố Silic và nguyên tố Alominhium cung với nhiều nguyên tố khác)
5- Đường Glucoza 8% (Mua ở hiệu thuốc tây. Tăng năng lượng cho chim)
6- Calcium loại viên 400đv (Tỷ lệ loại này3200đv/kg khoáng chiếm khỏang 2%. Mua ở cửa hàng thuốc tân dược)
7- Vitamin B1 5% (mua ở cửa hàng thuốc tây về giã nhỏ ra. B1 có tác dụng ổn định thần kinh, giảm đau và làm tăng cường sự trao đổi chất, tăng cường đào thải các Acid có hại trong cơ thể động vật)
8-NatriClorua 1% (Cái này là muối ăn nhà ai cũng có)

Tất cả tán nhỏ trộn đều với nhau, phơi thật khô, bảo quản chống ẩm tốt có thể để dùng trong nhiều năm không hỏng. Tỷ lệ trộn khoáng vào cám là 1% nghĩa là cứ 1kg cám trộn vào 10g khoáng. Đối với chim chích chòe, sáo, yểng, khuyên và chào mào… dùng khoáng này cũng rất tốt. Riêng đối với chim yến Kanari đẻ công thức hơi khác một chút. Bạn cũng có thể dùng công thức này cho chim yến Kanari đẻ nhưng tăng thêm 10% mai mực.

Dưới đây mình xin giới thiệu nguyên văn một bài khoáng chất khác của ông Việt Chương viết trong cuốn NGHỆ THUẬT NUÔI CHIM HÓT CHIM KIỂNGtrang 207, NXB Đồng Nai năm 1999.

“Tất cả chim nuôi nhốt trong lồng, trongchuồng trại đều phải có khoáng chất, thiếu khoáng, chim sẽgầy còm, sinh sản kémrồi sẽ tàn lụi dần.

Công thức:

Cát…………………………….25phần trăm
Đất đỏ BiênHòa………..25 phần trăm
Thanchết…………………..35 phần trăm
Muốibọt…………………….01 phần trăm
Muốihột…………………….01 phần trăm
Đườngcát………………….01 phần trăm
Vỏhàu……………………….10 phần trăm
Bột cỏcú………………….. 01 phần trăm
Bột camthảo……………. 01 phần trăm

Cát sàng sạch rác rến
Đất đỏ đập nhỏ phơi khô rây bột
Than chết tức than đã chụm rồi giã nát râylấy bột.
(Ba thứ trên bỏ vào chảo rang lên để khửtrùng)
Muối hột đâm nhỏ
Vò hàu nướng lên rồi đâm nhỏ, rây kỹ
Tất cả 09 vị, đem cân theo đúng tỷ lệ củacông thức rồi trộn đều nhau, đem cất ăn dần.
Một lần trộn có thể ăn cả năm
Tránh nơi ẩm ướt.”


CÔNG THỨC KHOÁNG CHO HỌA MI VÀ CÁC LOẠI CHIM RỪNG
(Hiệnđang xử dụng)

1- Đất đỏ Tây Nguyên 30 %
2- Bột than ổi 20 %
3- Bột đá 30 %
4- Cát sạch 9 %
5- Glucoza 5 %
6- Vitamin B1 3 %
7- Calcium 2 %
8- NaCl

Phần bổ sung: Nhân có câu hỏi của bạn Thong.Phạm. Tôi xin trả lời luôn trên đây để ace nào có điều có thể nên áp dụng.
Họa Mi Mộc hỏi
Cháu chào chú Lâm Kiệt!
Sau hơn một năm cháu làm khoáng cho chim ăn theo chế độ như chú hướng dẫn, đúng là chim có đẹp lên rất nhiều, chăm hót hơn và thể lực cũng sung mãn hơn nhưng có điều khoáng cháu làm ra đúng theo công thức của chú nhưng không thấy tốt bằng khoáng mua của chú. Hôm đến nhà chú, cháu thấy chú trộn khoáng với 11 thành phần chứ không phải 8 thành phần như trong công thức, vậy chú cho cháu hỏi là còn những thành phần gì chú giữ bí kíp kg ạ? 3 thành phần còn lại là những thứ gì, chú có thể chia sẻ với chúng cháu được kg ạ?
Cảm ơn chú rất nhiều.

Lâm Kiệt trả lời:
Câu hỏi này hay đấy! Thực ra chú ko giữ bí kíp gì cả, thiếu 3 thành phần đó đúng là chất lượng khoáng giảm đi gần một nửa nhưng nếu công bố đủ 11 thành phần chắc rất ít người muốn làm khoáng vì 3 thành phần còn lại rất khó kiếm, sợ ace nản, mà mục đích của chú là muốn phổ biến để ace ở xa cũng có thể làm khoáng cho chim ăn, dù không tốt lắm nhưng cũng hơn không có. Ba thành phần đó là:
- Long duyên hương 0,3% (là nhớt cá voi tiết ra khi chúng giao phối ngoài biển. Người ta vớt lấy, chế biến làm thuốc yếu sinh lý cho người. Cái này đắt và hiếm hơn cả yến sào, chú phải gửi mua ở Singapo mới có. Có tài liệu viết là Long diên hương và cho rằng đó là chất hình thành trong hệ tiêu hóa của cá nhà táng…Các tài liệu còn chưa thống nhất về một số điểm nhưng trong y học đông phương đã sử dụng rất lâu rồi. Hiện nay Long duyên hương được dùng trong công nghiệp mỹ phẩm để chế ra những loại nước hoa rất đắt tiền)
- Mật đà tăng 5%, đây là cặn lò nung bạc thủa xưa, là một vị thuốc cổ. Hiện nay việc chế tác bạc đã được hiện đại hóa nên cặn lò bạc rất hiếm, muốn có phải biết chế từ bạc nguyên chất khá phức tạp. Một vài hiệu thuốc bắc có bán mật đà tăng nhưng ko phải là cặn lò bạc mà họ khai thác từ cặn lò rèn sắt nên khá độc, ko dùng được. Chất này chú phải tự chế.
- Lộc giác phấn 15%, đây là bột sừng hươu lấy từ bã cao ban long, phải liên hệ với những cơ sở nấu cao ban long mới mua được. Đây là vị thuốc trợ thận và bồi bổ thể lực, cung cấp calxi rất tốt.
Vì nó phức tạp như thế nên chú ko đưa vào công thức, ace nào có điều kiện nên thêm vào nhưng cần lưu ý khi có thêm ba chất này, các chất khác phải điều chỉnh cho có tỷ lệ phù hợp.
Chúc cháu và mọi người thành công!

Hôm sau mình sẽ giới thiệu bài 3bis để ace hiểu sâu về tác dụng của các nguyên tố hóa học đối với cơthể sống của động vật nói chung và của chim nói riêng.
Chúc các bạn có được những chú chim như ý
Chào thân ái!
<------ Bổ sung bài viết ------->


Bài 3 bis
(Bàiđọc tham khảo)

SỰ CẦN THIẾT CỦA KHOÁNG CHẤT VỚI CƠ THỂ ĐỘNG VẬT

I- Nguyên tố đa lượng và nguyên tố vi lượng
Trong cơ thể mọi đông vật đều chứa hai phần là nguyên tố đa lượng và nguyên tốvi lượng.
-
Nguyên tố đa lượng: Cacbon, Oxy, Hydro,Nitơ, chúng là thành phần cơ bản tạo nên nước, protein, xương, cơ (hay còn ở dạng chất đạm, chất đường và chất béo -chúng có thể coi là các hợp chất hóa học hữu cơ) trong cơ thể động vật, các nguyên tố đa lượng này chiếm 96% trọng lượng cơ thể.
-
Nguyên tố vi lượng: Có khoảng 4%trọng lượng cơ thể động vật là các chất hóa học vô cơ (khi cơ thể động vật bị đốt cháy hoàn toàn chỉ còn lại các chất này, sẽ đọng lại thành tro). Hay còn được gọi là các khoáng chất. Trong số đó có một số nguyên tố là thiết yếu và cần thiết cho cơ thể sống nhưng chúng lại chỉ chiếm lượng nhỏ, chúng thường hay được gọi là các nguyên tố vi lượng (hay còn gọi là vi khoáng).
Vi lượng tố, còn gọi là nguyên tố vi lượng, là những [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%C3%AAn_t%E1%BB%91_h%C3%B3a_h%E1%BB%8Dc"]nguyên tố hóa học[/URL] cần thiết cho cơ thể ở lượng rất nhỏ,cần dùng trong các chức năng trao đổi chất quan trọng cho sự sống. Chúng phải được đưa vào cơ thể đều đặn. Lượng cần dùng hằng ngày của mộtcơ thể sống khỏe mạnh ở vào khoảng từ một vài trăm micrôgam (cho selen và asen- thạch tín) cho đến một vài miligam (sắt và iốt).
Những nguyên tố:[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Canxi"]canxi[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Magi%C3%AA"]magiê[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Natri"]natri[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Clo"]clo[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0u_hu%E1%BB%B3nh"]lưu huỳnh[/URL] và [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BB%91tpho"]phốt pho[/URL].Chúng phải được đưa vào cơ thể với số lượng lớn hơn (cho đến vài trăm miligamhằng ngày).
Các chất nói chung được công nhận là vi lượng tố không thể thiếu (cần thiết cho cuộc sống) là:[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Asen"]asen[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Crom"]crôm[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BA%AFt"]sắt[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Flo"]flo[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/I%E1%BB%91t"]iốt[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%C3%B4bal&action=edit&redlink=1"]côbal[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng"]đồng[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Mangan"]mangan[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Molyp%C4%91en&action=edit&redlink=1"]molypđen[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Selen"]selen[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Vanadi"]vanađi[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/K%E1%BA%BDm"]kẽm[/URL] và t[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%E1%BA%BFc"]hiếc[/URL].Các nguyên tố sau đây nói chung không được công nhận là vi lượng tố không thể thiếu hoặc là chức năng của chúng chỉ mới được phỏng đoán:[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Bari"]bari[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Bismut&action=edit&redlink=1"]bismut[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Bo_(nguy%C3%AAn_t%E1%BB%91)&action=edit&redlink=1"]bo[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Liti"]liti[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Niken"]kền[/URL](niken),[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7y_ng%C3%A2n"]thủy ngân[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Rubi%C4%91i"]rubiđi[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Silic"]silic[/URL](silicon),[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Stronti"]stronti[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Telua"]telua[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Titan"]titan[/URL] [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Wolfram"]vonfram[/URL](tungsten).
Thiếu vi lượng tố có thể trực tiếp hay gián tiếp gây ra nhiều bệnh: thiếu sắt dẫn đến bệnh thiếu máu (thiếu hồng huyết cầu trong máu), thiếu kẽm ảnh hưởng đến các hoóc môn tăng trưởng, thiếu iốt gây ra bệnh bướu cổ, thiếu kẽm có thể gây ra vô sinh…

II- Tác dụng cụ thể của 16 nguyên tố hóa học quan trọng nhất trong cơ thể sống
1. Sắt: rất cần thiết để hình thành hemoglobin trong hồng cầu. Nó là thành phần của nhiều enzyme.
Thiếu sắt sẽ bị thiếu máu, da nhợt nhạt,mệt mỏi, khó thở, giảm sức đề kháng. Sắt là yếu tố vi lượng cổ xưa nhất được nghiên cứu. Mặc dù hiện diện trong cơ thể sống với một lượng rất nhỏ nhưng nó rất cần thiết cho sự sống:
- Chức năng hô hấp: tạo nên hemoglobin để vận chuyển ôxy từ phổi về tất cả các cơ quan.
- Nó tham dự vào quá trình tạo thành myoglobin,sắc tố hô hấp của cơ cũng như tạo thành đặc tính dự trữ oxy của cơ.
- Sắt bị oxy hóa và khử dễ dàng, nó tham gia vào cấu tạo của nhiều enzyme. Đặc biệt trong chuỗi hô hấp, sắt đóng vai trò vận chuyển điện tích.
Ba chức năng này sẽ tham gia vào kênh năng lượng của hiện tượng oxy hóa. Do đó,thiếu sắt sẽ đưa đến giảm năng lượng.

- Hậu quả của thiếu Sắt là thiếu máu, nhưng triệu chứng thiếu Sắt thường xuất hiện trước vì thiếu máu đôi khi được chịu đựng tốt nên nó diễn ra từ từ.
- Suy nhược, mệt mỏi.

- Khó thở khi gắng sức, hồi hộp.

- Chậm phát triển thể chất.

- Sức đề kháng với nhiễm trùng rất kém.
- Ảnh hưởng đến sự phát triển của da, lông và móng như: da sần sùi, lông vàmóng dễ gãy rụng, móng mất độ bóng.
Trong các điều tra về nhu cầu dinh dưỡng của các tổ chức thế giới, người ta xác định rằng: thiếu Sắt là trường hợp thường hay xảy ra. Có 4 trường hợp thiếu máu hay gặp:
+ Thiếu từ nguồn đưa vào
+ Thiếu do mất sau khi bị chảy máu. Ngoài ra còn gặp trong các trường hợp chảy máu cấp, chảy máu ít nhưng âm ỉ kéo dài hoặc bệnh ký sinh trùng cũng làm mất một lượng Sắt trong cơ thể.Tất cả các trường hợp đó đều phải tăng nhu cầu cho phù hợp.
+ Thiếu do kém hấp thu: Nếu thường xuyên ăn các thức ăn chứa nhiều chất ngăn cản sự hấp thu Sắt như: sữa, phomat, lòng đỏ trứng…
+ Thiếu sử dụng: xảy ra do rối loạn tổng hợp hemoglobin, do thiếu pholat.

2. Zn (Kẽm): Có khoảng 100 loại enzyme cần có Kẽm để hình thành các phản ứng hóa học trong tế bào. Tỷ lệ kẽm trong cơ thể sống chiếm khoảng 4 đến 5/100000, hiện diện trong hầu hết các loại tế bào và các bộ phận của cơ thể, nhưng nhiều nhất tại gan, thận, lá lách, xương, tinh hoàn, da,lông và móng.
Mất đi 1 lượng nhỏ Kẽm có thể đực sút cân,giảm khả năng tình dục và có thể mắc bệnh vô sinh. Cơ thể cái thiếu kẽm sẽ dẫn đến úng trứng, lưu thai… Cơ thể non thiếu Kẽm đưa đến chậm lớn, bộ phận sinh dục teo nhỏ, dễ bị các bệnh ngoài da,giảm khả năng đề kháng, …
Kẽm còn cần thiết cho thị lực (chim có thị lực phát triển cao nên rất cần có kẽm). Kẽm còn giúp cơ thể chống lại bệnh tật, kích thích tổng hợp protein, giúp tế bào hấp thu chất đạm để tổng hợp tế báo mới,tăng liền sẹo.
Bạch cầu cần có Kẽm để chống lại nhiễm trùng và ung thư.

3. Magne
+ Duy trì Canxi, giúp cơ thể sử dụng tốt Canxi.
+ Góp phần chống bệnh động mạch vành và chứng loạn nhịp tim, do nó có vai trò như một chất mang chủ động các ion điện tích qua màng tế bào một cách dễ dàng.
+ Tham gia khoảng 300 phản ứng enzyme trong cơ thể sống.
+ Cùng Phốt pho và Canxi tham gia quá trình tạo xương, là một thành phần quan trọng trong cấu trúc của xương.
+ Tham gia vào các thành phần của cơ bắp, dịch cơ thể và các mô mềm như tim,thận.
+ Giúp chuyển hóa hydrat car bon, protein vàchất béo thành năng lượng
+ Tham gia vào các hoạt động giãn và co cơ cũng như sự dẫn truyền thần kinh
+ Tham gia điều hòa thân nhiệt, quá trình thông khí ở phổi (rất quan trọng đối với chim)
Thức ăn tự nhiên chứa nhiều Magné (các loại quả hạch như: lạc, điều, đậu nành…;rau, hạt nguyên cám, hải sản, rau xanh sẫm…).Thiếu hụt Magné sẽ ảnh hưởng tới tất cả các mô trong cơ thể, đặc biệt là tim,thần kinh và thận ( Chim thiếu Magne rất dễ bị ngoái cổ).
Tuy nhiên ko thể sử dụng nhiều nguyên tố này vì dễ gây ngộ độc.

4. Mangan: góp phần quan trọng vào sự vững chắc của xương. Mangan còn cóvai trò quan trọng trong việc kiểm soát lượng insulin trong cơ thể.

Nghiên cứu trên súc vật cho thấy, nếu khi mang thai mà thiếu Mangan thì đẻ con ra sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển không đều của bộ xương , thần kinh bị mắc chứng bệnh không phối hợp cử động điều hòa được,một bên màng nhĩ trong tai bị hóa xương, biến đổi di truyền màu, da lợt màu, lá lách teo nhỏ.

5. Đồng: là nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho các loài động thực vật bậc cao, nó được tìm thấy trong 1 số loại enzyme. Khoảng 90% Đồng trong máu kết hợp với chất đạm Ceruloplasmin và được vận chuyển vào trong tế bào dưới hình thức thẩm thấu và một phần nhỏ dưới hình thức vận chuyển mang theo chất đạm.Phần lớn Đồng được bài tiết theo mật qua đường phân cùng với lượng Đồng không thẩm thấu được vào máu.

Đồng cần thiết cho chuyển hóa Sắt và Lipid, có tác dụng bảo trì cơ tim, cần cho hoạt động của hệ thần kinh và hệ miễn dịch, góp phần bảo trì màng tế bào hồng cầu,góp phần tạo xương và biến năng Cholesterol thành vô hại.Các nhà khoa học cho rằng Kẽm cùng với Molypden là cạnh tranh về phương diện hấp thu với Đồng trong bộ máy tiêu hóa, vì thế việc ăn uống dư thừa 1 chất này sẽ làm thiếu hụt chất kia. Từ đó chúng ta thấy rằng việc chế biến thức ăn cho người, gia súc,gia cầm cần phải cân nhặc tính toán một cách rất khoa học, ko thể tùy thích theo cảm tính được.

6. Coban: Cơ thể thiếu Coban có những biểu hiện đầu tiên là cảm giác mệt mỏi, thần kinh làm việc thiếu tập trung và thiếu máu. Coban kết hợp với Mangancó tác dụng rất tốt đối với các triệu chứng đau nửa đầu ở người.
Cho vào trong đất một lượng nhỏ từ 0.13mg –0.30mg Coban trên 1kg đất sẽ làm tăng sức khỏe của những động vật ăn cỏ ở vùng đất đó.
Coban là một thành phần trung tâm của vitamincobalamin hoặc vitamin B12, có trong sô cô la, tôm, cua, 1 số quả khô, hạt códầu. Trong trái cây và rau đậu không có Coban, những người ăn chay trường sẽ bị thiếu Coban, sau 3-6 năm sẽ xuất hiện triệu chứng bệnh.

7. Molypden: Có vai trò cần thiết trong quá trình cố định đạm của cơ thể sống.

8. Vanadium:được phân bố nhiều hơn ở thận và xương, cần thiết cho 1 sốenzyme. Có vai trò trong việc tạo sắc tố của máu cùng với sắt. Điều hòa việc bơm Na+ và K+ trong tế bào, giúp cân bằng điện giải trong và ngoài tế bào .Ngoài ra, nó còn giúp cải thiện khả năng kiểm soát Glucose, chất có vai trò quan trọng trong việc khử các gốc tự do thừa, đồng thời Vanadium cũng đóng vaitrò thiết yếu trong cơ chế khử độc bằng cation.

Vanadium ngăn không cho sản xuất quá nhiều Cholesterol, giảm sự lắng đọng Cholesterol trong động mạch.

9. Niken: Có tác dụng kích thích hệ gan-tụy. Giúp làm tăng hấp thu Sắt.Nikencó thể thay thế cho các yếu tố vi lượng trong việc đảm bảo hoạt tính củanhiều enzyme.

10. Bo: Tồn tại trong nước, phần nhiều ở dạng axit boric. Nguyên tố này giúp điều hòa các kích thích tố gây nên bệnh loãng xương, giúp làm giảm loãng xương và phòng ngừa loãng xương.


11. Asen: Đây là một độc tố rất mạnh (thạch tín) nhưng cơ thể ko thể ko có nó vì nó có vai trò diệt khuẩn và lưu thông máu. Thiếu Asen cơ thể sống sẽ ko thể chống lại những bệnh do nhiễm trùng và dễ bị tắc nghẽ huyết quản. Tuy nhiên nếu quá liều lượng sẽ gây ngộ độc rất nguy hiểm.

12. Brom: Làm trấn tĩnh hệ thần kinh, điều tiết tác dụng và hoạt động của thần kinh trung ương.


13. Selen: Giữ vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của tim.Trong võng mạc mắt, người ta nghiên cứu và thấy rằng chim ưng tinh mắt nhờ nồng độ Selen trong võng mạc cao gấp hàng trăm lần người. Selen cũng được sử dụng rộng rãi trong các chế phẩm thuốc với vai trò như một chất chống oxy hóa cùng với vài loại vitamin,ngoài ra nó được sử dụng trong một số thuốc bổ mắt, giảm sự thoái hóa của hoàng điểm. Selen kết hợp với Asen là một loại thuốc độc cổ truyền của phương đông,đó là thạch tín.

14. Flour
(F): Rất cần thiết cho xương của động vật đã già, giúp vết thương mau lành, ngăn ngừa thiếu máu.

15. Crom:Thiếu Crom sẽ liên quan đến sự hạ đường huyết, làm chóng mặt,cồn cào, loạn nhịp tim . Lúa, thịt, men bia, phomat có nhiều Crom.

16. Bạc
(Ag): Nguyên tố bạc có khả năng tiêu diệt nhiều loại vi khuẩn.

Bài sau mình sẽ nói về thuần hóa mi mộc.
Chúc ace vui vẻ và may mắn!


Bài 4
THUẦN HÓA CHIM HỌA MI MỘC

Thuần hóa chim nói riêng và động vật nói chung là một công việc ko thể nóng vội, nó cần nhiều thời gian và đúng cách thức sẽ đem lại kết quả tốt. Vì thế các bạn mới chơi chim cần phải kiên nhẫn.Bạn nào nóng tính thì phải tập nhẫn nại kiên trì, thế mới có câu: “Trước khi tập cho chim phải tập cho người”.
1-Giai đoạn vào cám.
Giai đoạn này ko mất nhiều thời gian, chỉ cần ba ngày đến một tuần là đủ. Hơn nữa các bạn ở đồng bằng và thành phố thường mua chim ở hiệu về chơi nên chim đã được vào cám rồi. Điều đó rất thuận lợi, ko cần phải quan tâm đến giai đoạn này.
Trường hợp chim mới bẫy về hoặc mua của người mới bẫy về, nó chưa biết ăn cám, bạn có thể làm như sau:
Chuẩn bị sẵn một lồng có đặt đủ nước, cóng cám, cóng mồi tươi có sẵn chừng 15 con sâu quy hoặc 5 con dế hoặc 5 con châu chấu (đừng cho nhiều nhé), phủ kín áo lồng rồi đặt ở nơi thật vắng người.Khoảng bốn năm tiếng đồng hồ sau nhẹ nhàng hé áo lồng xem chim ăn thế nào. Nếu mồi tươi đã hết mà cám lại vãi rải rác xung quanh lồng là quá tuyệt vời. Như vậy chứng tỏ chim ăn mổi tươi ko đủ no, đã chấp nhận ăn cám. Trường hợp mồi tươi hết mà cóng cám nguyên vẹn thì tạm thời ko cho thêm mồi, cứ dậy kín lại đến cuối ngày mới kiểm tra lại, nếu cóng cám vơi đi là tốt rồi, còn cóng cám vẫn nguyên thì cho thêm mồi tươi chừng dăm con châu chấu là được để chim ko bị chết đói qua đêm. Hôm sau nên cho chim ăn muộn một chút chừng 9h sáng là vừa, vì sáng ra chim đói sẽ phải ăn cám, lúc 9h cho mồi tươi vào để bổ sung dinh dưỡng cho chim và làm lại như ngày hôm trước. Cứ như thế chừng 3 đến 5 ngày là chim chịu ăn cám, lâu lắm đến một tuần là cùng. Như vậy là ta đã chuyển được thói quen ăn thức ăn hoang dã của một con chim sang chế độ ăn thức ăn nhân tạo. Việc này coi như xong.
2-Giai đoạn thuần chim.
Giai đoạn này cần thời gian từ 8 tháng đến một năm tùy theo từng con chim và có 2 trường là thuần chimcó mái và thuần chim không mái.
A- Thuần chim có mái
Con mái yêu cầu phải thật thuần, có tuổi lồng trên hai năm, biết ghẹ trống càng tốt. Chọn một góc tường ở sân không đông người quá, cũng đừng vắng quá để đặt lồng chim trống bổi. Lồng chim trống đặt cao chừng nửa mét đến một mét, phủ áo kín chỉ để hở phần cửa lồng quay sang phía chim mái.
Lồng chim mái đặt cách lồng chim trống khoảng 1m đến 1,5m, thấp hơn lồng chim trống 0,3m là tốt nhất và để hở hoàn toàn (không phủ áo lồng).
Hàng ngày vào lúc 13h00 đến 13h30 tắm cho chim mái trước. Lồng tắm đặt sao cho chim trống nhìn thấy chim mái tắm để nó bắt chước.
Khoảng 1 tuần đến 10 ngày sau mang chim mái ra xa khuất hẳn chừng vài giờ. Chim mái nhớ trống sẽ xùy và chim trống sẽ hót trả lời hoặc ngược lại chim trống hót gọi trước và chim mái xùy để trả lời.Sau đó lại cho hai chim về vị trí cũ để chúng ghẹ nhau. Cứ như thế 3 đến 5 ngày một lần tách chim cho chúng gọi nhau. Sau chừng 45 ngày cho lồng mái cách xa ra khoảng 4 đến 6 mét nhưng vẫn để trống nhìn thấy và làm như trên. Áo lồng chim trống vén rộng dần ra. Chừng 180 ngày có thể bỏ hẳn mái đi chỗ khác, chim trống bắt đầu dạn người. Đến 240 ngày chim trống đứng lồng tạm được rồi. 300 ngày Chim trống đứng lồng không nhảy nữa, có thể mỗi ngày tắm xong thì bỏ hẳn áo lồng đến tối mới khoác vào. 360 ngày là việc thuần một con chim đã hoàn toàn thành công.
Nhớ tắm đều cho chim, ngày nào cũng vậy.Rét 10 độ chim vẫn tắm nhưng cho nó tí nước âm ấm. Năng cho tắm chim mau thuần hơn.
B- Thuần chim không mái
Thông thường người nuôi chim chiến mới cần đến mái còn những người nuôi chim hót ít khi nuôi mái. Có mái chim mộc đỡ nhảy hơn và mau thuần hơn. Không có mái việc thuần chim sẽ lâu hơn một chút.
Chọn một góc tường ở sân nơi thỉnh thoảng có người qua lại nhưng đừng gần quá, đặt hoặc treo lồng chim cao chừng 1m, áo lồng phủ chỉ để hở một ít quay ra phía có người qua lại. Nên tránh việc có người cầm gậy gộc, cây lau nhà, chổi cán dài khua khoắng gần nơi đặt chim làm chim sợ nhảy tứ tung, lông lá tan nát, mặt mũi vỡ be bét máu me.
Hàng ngày tắm cho chim vào lúc 10h30.Trong khi chim tắm thì đem lồng ra chỗ khác làm vệ sinh, tiếp thêm nước và cám.
Chừng vài ba giờ một lần cho nó vài con mồi tươi là đủ vì cám làm theo công thức trên đã nhiều đạm lắm rồi, nếu nhiều mồi tươi quá chim có thể bị ỉa chảy. Khi cho môi tươi hay mọi động tác phục vụ khác đều phải rất nhẹ nhàng, không làm chim sợ hãi đột ngột. Dùng cái panh kẹp gắp mồi tươi nhẹ nhàng đưa vào cóng mồi. Khi phát hiện chim thay lông, nên choăn tăng khoáng chất lên gấp rưỡi để quá trình thay lông được nhanh.
Một tháng sau vén rộng dần cửa áo lồng. Khoảng 3 đến 5 ngày dùng còi xùy, điện thoại hay máy tính xùy cho chim hót một lần vào buổi sáng lúc 9h00 đến 9h30 hoặc lúc 16h00 đến 16h30. Những con tự hót được thì không cần xùy kích. Tuyệt đối tránh kích xùy nhiều. Xùy vô tội vạ sẽ rất hại chim.
8 tháng có thể bỏ áo lồng sau khi tắm, đến tối khoác lại. Một năm chim đứng lồng. Một năm rưỡi thì chim thuần lắm rồi, có thể xách đi chơi được.
Mình nhắc lại bí quyết muôn thủa của việc này là kiên nhẫn.
Chúc các bạn vui vẻ và thuần được những con chim tuyệt vời.
Bài sau mình sẽ nói về một số bệnh mà họa mi thường mắc và cách phòng chữa.
Bạn nào có cách khác tốt hơn thì cứ phát biểu để ace cùng chơi nhé.
Chào thân ái!
Trả lời


Tin nhắn trong chủ đề này
RE: Topic Lâm Kiệt số 3 HỌA MI YÊU DẤU - bởi Lâm Kiệt - 10-09-2013, 05:48 PM
RE: Topic Lâm Kiệt số 3 HỌA MI YÊU DẤU - bởi compaq - 12-10-2013, 09:24 PM

Đi tới chuyên mục:


Người dùng đang xem chủ đề: 1 Khách