05-02-2013, 04:20 PM
Ðề: Cá đuối nước ngọt/Sam
1) Lịch sử tiến hóa:
Về mặt phân loại, cá đuối cùng với cá mập và cá nhám thuộc lớp cá sụn (Chondrichthyes), phân lớp mang tấm (Elasmobranchii). Chúng được cho là có chung một tổ tiên sơ khai vào kỷ Silurian (cách nay 443 - 416 triệu năm); tuy nhiên, người ta không hề tìm ra các hóa thạch chứng minh cho quá trình tiến hóa của chúng bởi vì khung xương của cá sụn rất dễ bị phân hủy nên hầu như không lưu lại dấu vết nào ngày nay ngoài những cái răng có niên đại vào thế Miocene (cách nay 23 – 5 triệu năm). Hóa thạch nguyên vẹn xưa nhất của cá đuối được phát hiện có niên đại vào thế Eocene (cách nay 56 – 34 triệu năm) tuy nhiên căn cứ vào những khác biệt giữa cá đuối và cá mập, người ta cho rằng chúng đã phát triển một cách độc lập từ rất lâu trước đó (chẳng hạn cá mập thở bằng cách hút nước đi vào miệng và đẩy ra ngoài qua mang trong khi cá đuối hút nước qua một lỗ phía sau mắt rồi mới đẩy ra qua mang. Lỗ này là vết tích của một khe mang bị thoái hóa). Gần đây, khi nghiên cứu một số dấu vết từng được cho là dấu chân khủng long có niên đại vào kỷ Cretaceous muộn (cách nay 99 – 70 triệu năm) ở Tây Ban Nha, người ta đặt ra một giả thiết mới rằng có lẽ đó là những dấu vết được hình thành khi cá đuối vùi mình dưới bùn để rình mồi, một hành vi thông thường ở loài này. Nếu điều này được chứng minh thì tổ tiên cá đuối phải xuất hiện từ trước đó. Tuy vậy, không ai biết đâu là thời điểm mà nhóm cá đuối bắt đầu được hình thành (do không tìm thấy bằng chứng hóa thạch nào hết) và vì vậy người ta thường nói rằng cá đuối hay cá sụn nói chung là những loài “không rõ nguồn gốc”.
![[Hình ảnh: intro_ray_17.jpg]](http://www.diendancacanh.com/pictures/Aquarticles/intro_ray_17.jpg)
Tổ tiên của cá đuối vốn sống ở biển nhưng một số loài lại tiến hóa để thích nghi với đời sống trong môi trường nước ngọt. Ngày nay, người ta phát hiện nhiều đại diện sống trong môi trường nước ngọt thuộc các họ cá đuối Dasyatidae, Rhinobatidae và Potamotrygonidae ở châu Mỹ, châu Á, châu Úc và châu Phi. Các loài cá đuối phổ biến trên thị trường cá cảnh đều thuộc về họ cá đuối Potamotrygonidae, phân bố ở lưu vực những con sông vùng Nam Mỹ và các nhánh của chúng bao gồm Amazon, Orinoco, Magdalena, Paraná và Tocantins. Có ý kiến đòi xếp họ Potamotrygonidae làm một nhóm thuộc họ Dasyatidae nhưng điều này vẫn còn trong vòng tranh cãi. Đây là một họ cá đặc biệt, người ta gọi chúng một cách nôm na là “cá đuối sông” bởi vì chúng là họ cá duy nhất mà tất cả các loài thành viên đều sinh ra và lớn lên trong vùng thuần nước ngọt. Họ [URL="http://en.wikipedia.org/wiki/Potamotrygonidae"]
Potamotrygonidae[/URL]
có khoảng 20 loài phân bố trong các chi Paratrygon, Plesiotrygon và Potamotrygon. Hai chi đầu tiên là chi đơn tức chỉ có một loài duy nhất nên phần lớn các loài thuộc về chi sau cùng. Hiện còn một số loài vẫn chưa được mô tả, do vậy số lượng các loài được ghi nhận trong tương lai chắc chắn sẽ tăng lên. Một số loài có vùng phân bố rộng chẳng hạn như loài Potamotrygon motoro rất phổ biến trên thị trường cá cảnh; trong khi có những loài đặc hữu chỉ phân bố ở một vùng nhất định.
![[Hình ảnh: intro_ray_18.jpg]](http://www.diendancacanh.com/pictures/Aquarticles/intro_ray_18.jpg)
Về mặt tiến hóa, có hai giả thuyết về sự hình thành của họ cá đuối nước ngọt Potamotrygonidae. Theo giả thuyết thứ nhất, tổ tiên của chúng là loài cá đuối Đại Tây Dương hay loài cá đuối nước lợ sống ở cửa sông Amazon. Các biến động địa chất dẫn đến việc mực nước biển dâng cao diễn ra cách nay từ 3-5 triệu năm giúp cho tổ tiên của chúng tiến sâu vào trong nội địa. Sau này, khi mực nước biển rút xuống một cách đột ngột, cá đuối bị kẹt lại trong các hồ nước mặn ở đó. Cùng với thời gian khi độ mặn giảm dần do nước mưa và các dòng chảy nhỏ thì chúng phải dần dần thích nghi với môi trường mới để cuối cùng trở thành loài sống hoàn toàn trong môi trường nước ngọt. Giả thuyết thứ hai được nhiều người ủng hộ hơn và có nhiều bằng chứng về địa lý và sinh học. Người ta phát hiện loại giun ký sinh trên các loài thuộc họ Potamotrygonidae tương tự với loại giun ký sinh trên một số loài thuộc họ cá đuối tròn Urolophidae sống ở Thái Bình Dương; sự kiện dẫn đến giả thuyết rằng tổ tiên của họ Potamotrygonidae là loài cá đuối Thái Bình Dương. Nhưng điều này xảy ra như thế nào? Vào đầu kỷ Cretaceous, dãy núi Andes bắt đầu trồi lên và ổn định vào khoảng giữa của thế Miocene, biến cố này làm thay đổi dòng chảy của sông Amazon, vốn trước đó đổ ra Thái Bình Dương, phải đổ ra Đại Tây Dương. Loài cá đuối Thái Bình Dương bị kẹt lại trong nội địa và dần dần tiến hóa thành các loài cá đuối nước ngọt ở Nam Mỹ như ngày nay.
2) Tên gọi. Một số người gọi cá đuối nước ngọt là con sam. Cách gọi này có thể gây nhầm lẫn bởi vì con sam như mọi người vẫn biết là động vật chân đốt (anthropoda) thuộc [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_Sam"]họ Sam (Limulidae)[/URL] chứ không phải là cá.
3) Gai độc. Gai của cá đuối nước ngọt thậm chí còn độc hơn cả cá đuối biển (xem [URL="http://diendancacanh.com/forum/tin-tuc/531-nghien-c-u-v-gai-c-c-ca-u-i.html"]Một nghiên cứu về gai độc của cá đuối[/URL]). Gai chỉ là khúc xương đặc và nhọn, nọc độc nằm trên lớp da bao xung quanh. Có báo cáo ghi nhận rằng một khi bị gai đâm phải thì vùng cơ bị đâm sẽ không bao giờ phục hồi 100% được nữa. Để an toàn, gai cá đuối đôi khi được xỏ bao bên ngoài như một số hình trong bài trên.
![[Hình ảnh: intro_ray_sting.jpg]](http://www.diendancacanh.com/pictures/Aquarticles/intro_ray_sting.jpg)
4) “Mang thai”. Được biết, cá đuối nước ngọt là những loài đẻ con tuy nhiên cơ chế “mang thai” lại khác với các loài thú có vú. Ở thú có vú, bào thai được nuôi dưỡng trực tiếp từ mạch máu của mẹ; phải mất thời gian để bào thai phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh. Ở cá đuối, trứng được thụ tinh và nở ra bên trong tử cung của cá mẹ, cá con mới nở có đầy đủ các bộ phận như cá trưởng thành. Tuy nhiên, chúng tiếp tục được cá mẹ nuôi dưỡng thông qua những ống nhỏ trên thành tử cung. Khi cá con trưởng thành hoặc khi cá mẹ bị căng thẳng, tử cung cá mẹ sẽ co bóp để đẩy chúng ra ngoài. Hình thức sinh sản như thế này gọi là [URL="http://en.wikipedia.org/wiki/Ovoviviparity"]
Ovoviviparity[/URL]
.
5) Khả năng nổi. Cá đuối có thể nổi lên mặt nước để thở khi ở đáy thiếu ô-xy. Không rõ cơ chế nổi này ở cá đuối nước ngọt như thế nào nhưng các loài thuộc phân lớp mang tấm nói chung không có bóng hơi; vì vậy, để nổi lên mặt nước chúng phải bơi liên tục, tốn rất nhiều sức lực.
6) Ký hiệu loài và biến thể
P1-Potamotrygon motoro
P2-Potamotrygon sp. "Aparico"
P3-Potamotrygon motoro “Variant”
P4-Potamotrygon schroederi "Colombia"
P5-Potamotrygon aff. Motoro (Potamotrygon sp. "B")
P6-Potamotrygon hystrix - "Brazil" (Potamotrygon sp "C")
P7-Potamotrygon scobina
P8-Potamotrygon sp. “Marmor”
P9-Potamotrygon dumerilii
P10-Potamotrygon humerosa
P11-Potamotrygon orbignyi
P12-Potamotrygon henlei
P13-Potamotrygon leopoldi
P14-Potamotrygon sp. "Itaituba"
P15-Plesiotrygon iwamae - “Antenna Ray”
P16-Plesiotrygon iwamae - “Antenna Ray”
P17-Plesiotrygon sp."Blacktailed Antenna ray"
P18-Plesiotrygon sp."Blacktailed Antenna ray"
P19-Potamotrygon sp. “Mantilla”
P20-Potamotrygon sp. “Mantilla”
P21-Potamotrygon sp. “Mantilla”
P22-Potamotrygon sp. “Orange”
P23-Potamotrygon humerosa
P24-Potamotrygon sp. “Marmor”
P25-Potamotrygon castexi “Otorongo”
P26-Potamotrygon castexi “Otorongo”
P27-Potamotrygon castexi “Estrella”
P28-Potamotrygon castexi “Otorongo”
P29-Potamotrygon castexi “Hawaiian”
P30-Potamotrygon castexi
P31-Potamotrygon castexi “Tigrinus”
P32-Potamotrygon castexi “Tigrillo”
P33-Potamotrygon castexi "Estrella"
P34-Potamotrygon castexi "Estrella"
P35-Potamotrygon castexi “Otorongo”
P36-Potamotrygon castexi “Motelo”
P37-Potamotrygon scobina “Belem”
P38-Potamotrygon scobina “Belem"
P39-Potamotrygon scobina “Belem”
P40-Potamotrygon schroederi “Peru Flower”
P41-Potamotrygon signata
P42-Potamotrygon dumerilii
P43-Potamotrygon sp. “Chocolate”
P44-Potamotrygon motoro sp. “Morph”
P45-Potamotrygon schroederi - “Sacha”
P46-Potamotrygon humerosa - “Mosaic Ray”
P47-Potamotrygon dumerilii - “Blume"
P48-Potamotrygon signata
P49-Potamotrygon sp. "Tiger"
P50-Potamotrygon sp. "Tiger"
P51-Potamotrygon sp. "Tiger"
P52-Potamotrygon sp. "Tiger"
P53-Potamotrygon falkneri
P54-Potamotrygon castexi - “Carpet Ray”
P55-Potamotrygon cf. Yepezi
P56-Paratrygon aiereba - "Ceja"
P57-Paratrygon aiereba - “Manzana”
P58-Potamotrygonidae gen.sp. "China ray"
P59-Potamotrygonidae gen.sp. "Coly ray"
P60-Potamotrygon cf. hystrix sp. “Rio Negro”
P61-Potamotrygon humerosa
P62-Potamotrygon leopoldi "Sao Felix"
Các biến thể cùng loài
Potamotrygon leopoldi -"Eclipse"
Potamotrygon leopoldi -"Black Isle"
Potamotrygon leopoldi -"Black Diamond"
Potamotrygon motoro - "Marbled"
Potamotrygon motoro - "Chain-Link"
Potamotrygon motoro - "Triple Spot"
7) Cá đuối nước ngọt Việt Nam?
Thông tin về cá đuối nước ngọt Việt Nam rất ít, chỉ biết rằng một số trang web nước ngoài đăng tên loài Himantura oxyrhyncha (marbled whipray) với xuất xứ Việt Nam. Nhưng đấy cũng có thể là loài Himantura krempfi vì chúng rất giống nhau, rất khó phân biệt nếu không phải là nhà chuyên môn. Chúng có đuôi mảnh và dài như cái roi, vành đĩa có chóp phía trước đầu trong khi cá đuối sông Amazon có đuôi ngắn, vành đĩa tròn. Một số triển lãm cá cảnh hay tiệm cá thỉnh thoảng cũng trưng bày loại cá đuối nước ngọt nội địa này. Nhìn chung, chúng rất khó nuôi và màu sắc/hoa văn cũng không đẹp bằng các loài ở Nam Mỹ.
![[Hình ảnh: intro_ray_19.jpg]](http://www.diendancacanh.com/pictures/Aquarticles/intro_ray_19.jpg)
1) Lịch sử tiến hóa:
Về mặt phân loại, cá đuối cùng với cá mập và cá nhám thuộc lớp cá sụn (Chondrichthyes), phân lớp mang tấm (Elasmobranchii). Chúng được cho là có chung một tổ tiên sơ khai vào kỷ Silurian (cách nay 443 - 416 triệu năm); tuy nhiên, người ta không hề tìm ra các hóa thạch chứng minh cho quá trình tiến hóa của chúng bởi vì khung xương của cá sụn rất dễ bị phân hủy nên hầu như không lưu lại dấu vết nào ngày nay ngoài những cái răng có niên đại vào thế Miocene (cách nay 23 – 5 triệu năm). Hóa thạch nguyên vẹn xưa nhất của cá đuối được phát hiện có niên đại vào thế Eocene (cách nay 56 – 34 triệu năm) tuy nhiên căn cứ vào những khác biệt giữa cá đuối và cá mập, người ta cho rằng chúng đã phát triển một cách độc lập từ rất lâu trước đó (chẳng hạn cá mập thở bằng cách hút nước đi vào miệng và đẩy ra ngoài qua mang trong khi cá đuối hút nước qua một lỗ phía sau mắt rồi mới đẩy ra qua mang. Lỗ này là vết tích của một khe mang bị thoái hóa). Gần đây, khi nghiên cứu một số dấu vết từng được cho là dấu chân khủng long có niên đại vào kỷ Cretaceous muộn (cách nay 99 – 70 triệu năm) ở Tây Ban Nha, người ta đặt ra một giả thiết mới rằng có lẽ đó là những dấu vết được hình thành khi cá đuối vùi mình dưới bùn để rình mồi, một hành vi thông thường ở loài này. Nếu điều này được chứng minh thì tổ tiên cá đuối phải xuất hiện từ trước đó. Tuy vậy, không ai biết đâu là thời điểm mà nhóm cá đuối bắt đầu được hình thành (do không tìm thấy bằng chứng hóa thạch nào hết) và vì vậy người ta thường nói rằng cá đuối hay cá sụn nói chung là những loài “không rõ nguồn gốc”.
![[Hình ảnh: intro_ray_17.jpg]](http://www.diendancacanh.com/pictures/Aquarticles/intro_ray_17.jpg)
Tổ tiên của cá đuối vốn sống ở biển nhưng một số loài lại tiến hóa để thích nghi với đời sống trong môi trường nước ngọt. Ngày nay, người ta phát hiện nhiều đại diện sống trong môi trường nước ngọt thuộc các họ cá đuối Dasyatidae, Rhinobatidae và Potamotrygonidae ở châu Mỹ, châu Á, châu Úc và châu Phi. Các loài cá đuối phổ biến trên thị trường cá cảnh đều thuộc về họ cá đuối Potamotrygonidae, phân bố ở lưu vực những con sông vùng Nam Mỹ và các nhánh của chúng bao gồm Amazon, Orinoco, Magdalena, Paraná và Tocantins. Có ý kiến đòi xếp họ Potamotrygonidae làm một nhóm thuộc họ Dasyatidae nhưng điều này vẫn còn trong vòng tranh cãi. Đây là một họ cá đặc biệt, người ta gọi chúng một cách nôm na là “cá đuối sông” bởi vì chúng là họ cá duy nhất mà tất cả các loài thành viên đều sinh ra và lớn lên trong vùng thuần nước ngọt. Họ [URL="http://en.wikipedia.org/wiki/Potamotrygonidae"]
có khoảng 20 loài phân bố trong các chi Paratrygon, Plesiotrygon và Potamotrygon. Hai chi đầu tiên là chi đơn tức chỉ có một loài duy nhất nên phần lớn các loài thuộc về chi sau cùng. Hiện còn một số loài vẫn chưa được mô tả, do vậy số lượng các loài được ghi nhận trong tương lai chắc chắn sẽ tăng lên. Một số loài có vùng phân bố rộng chẳng hạn như loài Potamotrygon motoro rất phổ biến trên thị trường cá cảnh; trong khi có những loài đặc hữu chỉ phân bố ở một vùng nhất định.
![[Hình ảnh: intro_ray_18.jpg]](http://www.diendancacanh.com/pictures/Aquarticles/intro_ray_18.jpg)
Về mặt tiến hóa, có hai giả thuyết về sự hình thành của họ cá đuối nước ngọt Potamotrygonidae. Theo giả thuyết thứ nhất, tổ tiên của chúng là loài cá đuối Đại Tây Dương hay loài cá đuối nước lợ sống ở cửa sông Amazon. Các biến động địa chất dẫn đến việc mực nước biển dâng cao diễn ra cách nay từ 3-5 triệu năm giúp cho tổ tiên của chúng tiến sâu vào trong nội địa. Sau này, khi mực nước biển rút xuống một cách đột ngột, cá đuối bị kẹt lại trong các hồ nước mặn ở đó. Cùng với thời gian khi độ mặn giảm dần do nước mưa và các dòng chảy nhỏ thì chúng phải dần dần thích nghi với môi trường mới để cuối cùng trở thành loài sống hoàn toàn trong môi trường nước ngọt. Giả thuyết thứ hai được nhiều người ủng hộ hơn và có nhiều bằng chứng về địa lý và sinh học. Người ta phát hiện loại giun ký sinh trên các loài thuộc họ Potamotrygonidae tương tự với loại giun ký sinh trên một số loài thuộc họ cá đuối tròn Urolophidae sống ở Thái Bình Dương; sự kiện dẫn đến giả thuyết rằng tổ tiên của họ Potamotrygonidae là loài cá đuối Thái Bình Dương. Nhưng điều này xảy ra như thế nào? Vào đầu kỷ Cretaceous, dãy núi Andes bắt đầu trồi lên và ổn định vào khoảng giữa của thế Miocene, biến cố này làm thay đổi dòng chảy của sông Amazon, vốn trước đó đổ ra Thái Bình Dương, phải đổ ra Đại Tây Dương. Loài cá đuối Thái Bình Dương bị kẹt lại trong nội địa và dần dần tiến hóa thành các loài cá đuối nước ngọt ở Nam Mỹ như ngày nay.
2) Tên gọi. Một số người gọi cá đuối nước ngọt là con sam. Cách gọi này có thể gây nhầm lẫn bởi vì con sam như mọi người vẫn biết là động vật chân đốt (anthropoda) thuộc [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_Sam"]họ Sam (Limulidae)[/URL] chứ không phải là cá.
3) Gai độc. Gai của cá đuối nước ngọt thậm chí còn độc hơn cả cá đuối biển (xem [URL="http://diendancacanh.com/forum/tin-tuc/531-nghien-c-u-v-gai-c-c-ca-u-i.html"]Một nghiên cứu về gai độc của cá đuối[/URL]). Gai chỉ là khúc xương đặc và nhọn, nọc độc nằm trên lớp da bao xung quanh. Có báo cáo ghi nhận rằng một khi bị gai đâm phải thì vùng cơ bị đâm sẽ không bao giờ phục hồi 100% được nữa. Để an toàn, gai cá đuối đôi khi được xỏ bao bên ngoài như một số hình trong bài trên.
![[Hình ảnh: intro_ray_sting.jpg]](http://www.diendancacanh.com/pictures/Aquarticles/intro_ray_sting.jpg)
4) “Mang thai”. Được biết, cá đuối nước ngọt là những loài đẻ con tuy nhiên cơ chế “mang thai” lại khác với các loài thú có vú. Ở thú có vú, bào thai được nuôi dưỡng trực tiếp từ mạch máu của mẹ; phải mất thời gian để bào thai phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh. Ở cá đuối, trứng được thụ tinh và nở ra bên trong tử cung của cá mẹ, cá con mới nở có đầy đủ các bộ phận như cá trưởng thành. Tuy nhiên, chúng tiếp tục được cá mẹ nuôi dưỡng thông qua những ống nhỏ trên thành tử cung. Khi cá con trưởng thành hoặc khi cá mẹ bị căng thẳng, tử cung cá mẹ sẽ co bóp để đẩy chúng ra ngoài. Hình thức sinh sản như thế này gọi là [URL="http://en.wikipedia.org/wiki/Ovoviviparity"]
.
5) Khả năng nổi. Cá đuối có thể nổi lên mặt nước để thở khi ở đáy thiếu ô-xy. Không rõ cơ chế nổi này ở cá đuối nước ngọt như thế nào nhưng các loài thuộc phân lớp mang tấm nói chung không có bóng hơi; vì vậy, để nổi lên mặt nước chúng phải bơi liên tục, tốn rất nhiều sức lực.
6) Ký hiệu loài và biến thể
P1-Potamotrygon motoro
P2-Potamotrygon sp. "Aparico"
P3-Potamotrygon motoro “Variant”
P4-Potamotrygon schroederi "Colombia"
P5-Potamotrygon aff. Motoro (Potamotrygon sp. "B")
P6-Potamotrygon hystrix - "Brazil" (Potamotrygon sp "C")
P7-Potamotrygon scobina
P8-Potamotrygon sp. “Marmor”
P9-Potamotrygon dumerilii
P10-Potamotrygon humerosa
P11-Potamotrygon orbignyi
P12-Potamotrygon henlei
P13-Potamotrygon leopoldi
P14-Potamotrygon sp. "Itaituba"
P15-Plesiotrygon iwamae - “Antenna Ray”
P16-Plesiotrygon iwamae - “Antenna Ray”
P17-Plesiotrygon sp."Blacktailed Antenna ray"
P18-Plesiotrygon sp."Blacktailed Antenna ray"
P19-Potamotrygon sp. “Mantilla”
P20-Potamotrygon sp. “Mantilla”
P21-Potamotrygon sp. “Mantilla”
P22-Potamotrygon sp. “Orange”
P23-Potamotrygon humerosa
P24-Potamotrygon sp. “Marmor”
P25-Potamotrygon castexi “Otorongo”
P26-Potamotrygon castexi “Otorongo”
P27-Potamotrygon castexi “Estrella”
P28-Potamotrygon castexi “Otorongo”
P29-Potamotrygon castexi “Hawaiian”
P30-Potamotrygon castexi
P31-Potamotrygon castexi “Tigrinus”
P32-Potamotrygon castexi “Tigrillo”
P33-Potamotrygon castexi "Estrella"
P34-Potamotrygon castexi "Estrella"
P35-Potamotrygon castexi “Otorongo”
P36-Potamotrygon castexi “Motelo”
P37-Potamotrygon scobina “Belem”
P38-Potamotrygon scobina “Belem"
P39-Potamotrygon scobina “Belem”
P40-Potamotrygon schroederi “Peru Flower”
P41-Potamotrygon signata
P42-Potamotrygon dumerilii
P43-Potamotrygon sp. “Chocolate”
P44-Potamotrygon motoro sp. “Morph”
P45-Potamotrygon schroederi - “Sacha”
P46-Potamotrygon humerosa - “Mosaic Ray”
P47-Potamotrygon dumerilii - “Blume"
P48-Potamotrygon signata
P49-Potamotrygon sp. "Tiger"
P50-Potamotrygon sp. "Tiger"
P51-Potamotrygon sp. "Tiger"
P52-Potamotrygon sp. "Tiger"
P53-Potamotrygon falkneri
P54-Potamotrygon castexi - “Carpet Ray”
P55-Potamotrygon cf. Yepezi
P56-Paratrygon aiereba - "Ceja"
P57-Paratrygon aiereba - “Manzana”
P58-Potamotrygonidae gen.sp. "China ray"
P59-Potamotrygonidae gen.sp. "Coly ray"
P60-Potamotrygon cf. hystrix sp. “Rio Negro”
P61-Potamotrygon humerosa
P62-Potamotrygon leopoldi "Sao Felix"
Các biến thể cùng loài
Potamotrygon leopoldi -"Eclipse"
Potamotrygon leopoldi -"Black Isle"
Potamotrygon leopoldi -"Black Diamond"
Potamotrygon motoro - "Marbled"
Potamotrygon motoro - "Chain-Link"
Potamotrygon motoro - "Triple Spot"
7) Cá đuối nước ngọt Việt Nam?
Thông tin về cá đuối nước ngọt Việt Nam rất ít, chỉ biết rằng một số trang web nước ngoài đăng tên loài Himantura oxyrhyncha (marbled whipray) với xuất xứ Việt Nam. Nhưng đấy cũng có thể là loài Himantura krempfi vì chúng rất giống nhau, rất khó phân biệt nếu không phải là nhà chuyên môn. Chúng có đuôi mảnh và dài như cái roi, vành đĩa có chóp phía trước đầu trong khi cá đuối sông Amazon có đuôi ngắn, vành đĩa tròn. Một số triển lãm cá cảnh hay tiệm cá thỉnh thoảng cũng trưng bày loại cá đuối nước ngọt nội địa này. Nhìn chung, chúng rất khó nuôi và màu sắc/hoa văn cũng không đẹp bằng các loài ở Nam Mỹ.
![[Hình ảnh: intro_ray_19.jpg]](http://www.diendancacanh.com/pictures/Aquarticles/intro_ray_19.jpg)

