Đánh giá của chủ đề:
  • 0 Bình chọn - Trung bình 0
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Chim yến hót - một thú chơi tao nhã
#19
Ðề: Chim yến hót - một thú chơi tao nhã

Bài 3 bis
(Bài để tham khảo, đọc chơi thôi nhé )

SỰ CẦN THIẾT CỦA KHOÁNG CHẤT VỚI CƠ THỂ ĐỘNG VẬT

I- Nguyên tố đa lượng và nguyên tố vi lượng
Trong cơ thể mọi đông vật đều chứa hai phần là nguyên tố đa lượng và nguyên tố vi lượng.
- Nguyên tố đa lượng: Cacbon, Oxy, Hydro, Nitơ, chúng là thành phần cơ bản tạo nên nước, protein, xương, cơ (hay còn ở dạng chất đạm, chất đường và chất béo -chúng có thể coi là các hợp chất hóa học hữu cơ) trong cơ thể động vật, các nguyên tố đa lượng này chiếm 96% trọng lượng cơ thể.
- Nguyên tố vi lượng: Có khoảng 4%trọng lượng cơ thể động vật là các chất hóa học vô cơ (khi cơ thể động vật bị đốt cháy hoàn toàn chỉ còn lại các chất này, sẽ đọng lại thành tro). Hay còn được gọi là các khoáng chất. Trong số đó có một số nguyên tố là thiết yếu và cần thiết cho cơ thể sống nhưng chúng lại chỉ chiếm lượng nhỏ, chúng thường hay được gọi là các nguyên tố vi lượng (hay còn gọi là vi khoáng).

Vi lượng tố, còn gọi là nguyên tố vi lượng, là những [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%C3%AAn_t%E1%BB%91_h%C3%B3a_h%E1%BB%8Dc"]nguyên tố hóa học[/URL] cần thiết cho cơ thể ở lượng rất nhỏ,cần dùng trong các chức năng trao đổi chất quan trọng cho sự sống. Chúng phải được đưa vào cơ thể đều đặn. Lượng cần dùng hằng ngày của một cơ thể sống khỏe mạnh ở vào khoảng từ một vài trăm micrôgam (cho selen và asen - thạch tín) cho đến một vài miligam (sắt và iốt).
Những nguyên tố: [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Canxi"]canxi[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Magi%C3%AA"]magiê[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Natri"]natri[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Clo"]clo[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0u_hu%E1%BB%B3nh"]lưuhuỳnh[/URL] và [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BB%91tpho"]phốt pho[/URL].Chúng phải được đưa vào cơ thể với số lượng lớn hơn (cho đến vài trăm miligamhằng ngày).
Các chất nói chung được công nhận là vi lượng tố không thể thiếu (cần thiết cho cuộc sống) là: [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Asen"]asen[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Crom"]crôm[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BA%AFt"]sắt[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Flo"]flo[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/I%E1%BB%91t"]iốt[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%C3%B4bal&action=edit&redlink=1"]côbal[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng"]đồng[/URL],[URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Mangan"]mangan[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Molyp%C4%91en&action=edit&redlink=1"]molypđen[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Selen"]selen[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Vanadi"]vanađi[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/K%E1%BA%BDm"]kẽm[/URL] và [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%E1%BA%BFc"]thiếc[/URL]. Các nguyên tố sau đây nói chung không được công nhận là vi lượng tố không thể thiếu hoặc là chức năng của chúng chỉ mới được phỏng đoán: [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Bari"]bari[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Bismut&action=edit&redlink=1"]bismut[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Bo_(nguy%C3%AAn_t%E1%BB%91)&action=edit&redlink=1"]bo[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Liti"]liti[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Niken"]kền[/URL] (niken), [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%A7y_ng%C3%A2n"]thủy ngân[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Rubi%C4%91i"]rubiđi[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Silic"]silic[/URL] (silicon), [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Stronti"]stronti[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Telua"]telua[/URL], [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Titan"]titan[/URL] và [URL="http://vi.wikipedia.org/wiki/Wolfram"]vonfram[/URL] (tungsten).
Thiếu vi lượng tố có thể trực tiếp hay gián tiếp gây ra nhiều bệnh: thiếu sắt dẫn đến bệnh thiếu máu (thiếu hồng huyết cầu trong máu), thiếu kẽm ảnh hưởng đến các hoóc môn tăng trưởng, thiếu iốt gây ra bệnh bướu cổ, thiếu kẽm có thể gây ra vô sinh…

II- Tác dụng cụ thể của 16 nguyên tố hóa học quan trọng nhất trong cơ thể sống
1. Sắt: rất cần thiết để hình thành hemoglobin trong hồng cầu. Nó là thành phần của nhiều enzyme. Thiếu sắt sẽ bị thiếu máu, da nhợt nhạt, mệt mỏi, khó thở, giảm sức đề kháng. Sắt là yếu tố vi lượng cổ xưa nhất được nghiên cứu. Mặc dù hiện diện trong cơ thể sống với một lượng rất nhỏ nhưng nó rất cần thiết cho sự sống:
- Chức năng hô hấp: tạo nên hemoglobin để vận chuyển ôxy từ phổi về tất cả các cơ quan.
- Nó tham dự vào quá trình tạo thành myoglobin,sắc tố hô hấp của cơ cũng như tạo thành đặc tính dự trữ oxy của cơ.
- Sắt bị oxy hóa và khử dễ dàng, nó tham gia vào cấu tạo của nhiều enzyme. Đặc biệt trong chuỗi hô hấp, sắt đóng vai trò vận chuyển điện tích.
Ba chức năng này sẽ tham gia vào kênh năng lượng của hiện tượng oxy hóa. Do đó, thiếu sắt sẽ đưa đến giảm năng lượng.

- Hậu quả của thiếu Sắt là thiếu máu, nhưng triệu chứng thiếu Sắt thường xuất hiện trước vì thiếu máu đôi khi được chịu đựng tốt nên nó diễn ra từ từ.
- Suy nhược, mệt mỏi.

- Khó thở khi gắng sức, hồi hộp.
- Chậm phát triển thể chất.
- Sức đề kháng với nhiễm trùng rất kém.
- Ảnh hưởng đến sự phát triển của da, lông và móng như: da sần sùi, lông và móng dễ gãy rụng, móng mất độ bóng.
Trong các điều tra về nhu cầu dinh dưỡng của các tổ chức thế giới, người ta xác định rằng: thiếu Sắt là trường hợp thường hay xảy ra. Có 4 trường hợp thiếu máu hay gặp:
+ Thiếu từ nguồn đưa vào

+ Thiếu do mất sau khi bị chảy máu. Ngoài ra còn gặp trong các trường hợp chảy máu cấp, chảy máu ít nhưng âm ỉ kéo dài hoặc bệnh ký sinh trùng cũng làm mất một lượng Sắt trong cơ thể.Tất cả các trường hợp đó đều phải tăng nhu cầu cho phù hợp.
+ Thiếu do kém hấp thu: Nếu thường xuyên ăn các thức ăn chứa nhiều chất ngăn cản sự hấp thu Sắt như: sữa, phomat, lòng đỏ trứng…

+ Thiếu sử dụng: xảy ra do rối loạn tổng hợp hemoglobin, do thiếu pholat.

2. Zn (Kẽm): Có khoảng 100 loại enzyme cần có Kẽm để hình thành các phản ứng hóa học trong tế bào. Tỷ lệ kẽm trong cơ thể sống chiếm khoảng 4 đến 5/100 000, hiện diện trong hầu hết các loại tế bào và các bộ phận của cơ thể, nhưng nhiều nhất tại gan, thận, lá lách, xương, tinh hoàn, da,lông và móng.
Mất đi 1 lượng nhỏ Kẽm có thể đực sút cân,giảm khả năng tình dục và có thể mắc bệnh vô sinh. Cơ thể cái thiếu kẽm sẽ dẫn đến úng trứng, lưu thai… Cơ thể non thiếu Kẽm đưa đến chậm lớn, bộ phận sinh dục teo nhỏ, dễ bị các bệnh ngoài da, giảm khả năng đề kháng, …
Kẽm còn cần thiết cho thị lực (chim có thị lực phát triển cao nên rất cần có kẽm). Kẽm còn giúp cơ thể chống lại bệnh tật, kích thích tổng hợp protein, giúp tế bào hấp thu chất đạm để tổng hợp tế báo mới,tăng liền sẹo.
Bạch cầu cần có Kẽm để chống lại nhiễm trùng và ung thư.

3. Magne
+ Duy trì Canxi, giúp cơ thể sử dụng tốt Canxi.

+ Góp phần chống bệnh động mạch vành và chứng loạn nhịp tim, do nó có vai trò như một chất mang chủ động các ion điện tích qua màng tế bào một cách dễ dàng.
+ Tham gia khoảng 300 phản ứng enzyme trong cơ thể sống.
+ Cùng Phốt pho và Canxi tham gia quá trình tạo xương, là một thành phần quan trọng trong cấu trúc của xương.
+ Tham gia vào các thành phần của cơ bắp, dịch cơ thể và các mô mềm như tim, thận.
+ Giúp chuyển hóa hydrat car bon, protein vàchất béo thành năng lượng
+ Tham gia vào các hoạt động giãn và co cơ cũng như sự dẫn truyền thần kinh
+ Tham gia điều hòa thân nhiệt, quá trình thông khí ở phổi (rất quan trọng đối với chim)
Thức ăn tự nhiên chứa nhiều Magné (các loại quả hạch như: lạc, điều, đậu nành…; rau, hạt nguyên cám, hải sản, rau xanh sẫm…).Thiếu hụt Magné sẽ ảnh hưởng tới tất cả các mô trong cơ thể, đặc biệt là tim,thần kinh và thận ( Chim thiếu Magne rất dễ bị ngoái cổ).
Tuy nhiên ko thể sử dụng nhiều nguyên tố này vì dễ gây ngộ độc.


4. Mangan: góp phần quan trọng vào sự vững chắc của xương. Mangan còn có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lượng insulin trong cơ thể.
Nghiên cứu trên súc vật cho thấy, nếu khi mang thai mà thiếu Mangan thì đẻ con ra sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển không đều của bộ xương , thần kinh bị mắc chứng bệnh không phối hợp cử động điều hòa được,một bên màng nhĩ trong tai bị hóa xương, biến đổi di truyền màu, da lợt màu, lá lách teo nhỏ.

5. Đồng: là nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho các loài động thực vật bậc cao, nó được tìm thấy trong 1 số loại enzyme. Khoảng 90% Đồng trong máu kết hợp với chất đạm Ceruloplasmin và được vận chuyển vào trong tế bào dưới hình thức thẩm thấu và một phần nhỏ dưới hình thức vận chuyển mang theo chất đạm. Phần lớn Đồng được bài tiết theo mật qua đường phân cùng với lượng Đồng không thẩm thấu được vào máu.

Đồng cần thiết cho chuyển hóa Sắt và Lipid, có tác dụng bảo trì cơ tim, cần cho hoạt động của hệ thần kinh và hệ miễn dịch, góp phần bảo trì màng tế bào hồng cầu,góp phần tạo xương và biến năng Cholesterol thành vô hại. Các nhà khoa học cho rằng Kẽm cùng với Molypden là cạnh tranh về phương diện hấp thu với Đồng trong bộ máy tiêu hóa, vì thế việc ăn uống dư thừa 1 chất này sẽ làm thiếu hụt chất kia. Từ đó chúng ta thấy rằng việc chế biến thức ăn cho người, gia súc, gia cầm cần phải cân nhặc tính toán một cách rất khoa học, ko thể tùy thích theo cảm tính được.

6. Coban: Cơ thể thiếu Coban có những biểu hiện đầu tiên là cảm giác mệt mỏi, thần kinh làm việc thiếu tập trung và thiếu máu. Coban kết hợp với Mangan có tác dụng rất tốt đối với các triệu chứng đau nửa đầu ở người.
Cho vào trong đất một lượng nhỏ từ 0.13mg –0.30mg Coban trên 1kg đất sẽ làm tăng sức khỏe của những động vật ăn cỏ ở vùng đất đó.
Coban là một thành phần trung tâm của vitamincobalamin hoặc vitamin B12, có trong sôcôla, tôm, cua, 1 số quả khô, hạt códầu. Trong trái cây và rau đậu không có Coban, những người ăn chay trường sẽ bị thiếu Coban, sau 3-6 năm sẽ xuất hiện triệu chứng bệnh.


7. Molypden: Có vai trò cần thiết trong quá trình cố định đạm của cơ thể sống.


8. Vanadium:được phân bố nhiều hơn ở thận và xương, cần thiết cho 1 số enzyme. Có vai trò trong việc tạo sắc tố của máu cùng với sắt. Điều hòa việc bơm Na+ và K+ trong tế bào, giúp cân bằng điện giải trong và ngoài tế bào . Ngoài ra, nó còn giúp cải thiện khả năng kiểm soát Glucose, chất có vai trò quan trọng trong việc khử các gốc tự do thừa, đồng thời Vanadium cũng đóng vai trò thiết yếu trong cơ chế khử độc bằng cation.
Vanadium ngăn không cho sản xuất quá nhiều Cholesterol, giảm sự lắng đọng Cholesterol trong động mạch.


9. Niken: Có tác dụng kích thích hệ gan-tụy. Giúp làm tăng hấp thu Sắt. Nikencó thể thay thế cho các yếu tố vi lượng trong việc đảm bảo hoạt tính của nhiều enzyme.


10. Bo: Tồn tại trong nước, phần nhiều ở dạng axit boric. Nguyên tố này giúp điều hòa các kích thích tố gây nên bệnh loãng xương, giúp làm giảm loãng xương và phòng ngừa loãng xương.


11. Asen:Đây là một độc tố rất mạnh (thạch tín) nhưng cơ thể ko thể ko có nó vì nó có vai trò diệt khuẩn và lưu thông máu. Thiếu Asen cơ thể sống sẽ ko thể chống lại những bệnh do nhiễm trùng và dễ bị tắc nghẽ huyết quản. Tuy nhiên nếu quá liều lượng sẽ gây ngộ độc rất nguy hiểm.

12. Brom: Làm trấn tĩnh hệ thần kinh, điều tiết tác dụng và hoạt động của thần kinh trung ương.


13. Selen: Giữ vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của tim. Trong võng mạc mắt,người ta nghiên cứu và thấy rằng chim ưng tinh mắt nhờ nồng độ Selen trong võng mạc cao gấp hàng trăm lần người. Selen cũng được sử dụng rộng rãi trong các chế phẩm thuốc với vai trò như một chất chống oxy hóa cùng với vài loại vitamin,ngoài ra nó được sử dụng trong một số thuốc bổ mắt, giảm sự thoái hóa của hoàng điểm. Selen kết hợp với Asen là một loại thuốc độc cổ truyền của phương đông,đó là thạch tín.

14. Flour (F): Rất cần thiết cho xương của động vật đã già, giúp vết thương mau lành, ngăn ngừa thiếu máu.


15. Crom:Thiếu Crom sẽ liên quan đến sự hạ đường huyết, làm chóng mặt, cồn cào, loạn nhịp tim . Lúa, thịt, men bia, phomat có nhiều Crom.

16. Bạc (Ag): Nguyên tố bạc có khả năng tiêu diệt nhiều loại vi khuẩn.
Trả lời


Tin nhắn trong chủ đề này
RE: Chim yến hót - một thú chơi tao nhã - bởi Lâm Kiệt - 03-01-2013, 03:23 PM

Đi tới chuyên mục:


Người dùng đang xem chủ đề: 1 Khách