01-12-2011, 08:13 PM
Ðề: Đôi nét về chim mỏ sừng ở VIỆT NAM
[SIZE="5"]Cao cát đen Anthracoceros malayanus[/SIZE]
[IMG]
[/IMG]
Female bird on the left with the all black bill and Male bird on the right with the white bill Sukau, Sabah (Malaysia), Borneo
[IMG]
[/IMG]
Black Hornbill (Anthracoceros malayanus) --A male. Jurong Bird Park, Singapore (Monotypic species)
[IMG]
[/IMG]
Black Hornbill (Anthracoceros malayanus) --Distribution: S Thailand (S from Trang), Peninsular Malaysia, Lingga Archipelago (Singkep), Sumatra, including Bangka I and Belitung I, and Borneo.
[COLOR="Blue"][SIZE="5"]NIỆC NÂU --Austen's Brown Hornbill (Anorrhinus austeni)[/SIZE][/COLOR]
Chim trưởng thành có kích thước nhỏ hơn so với các loài khác cùng họ. Bộ lông nhìn chung có màu nâu đến hung nâu (phía trên cơ thể nâu xám tối phía trước màu hung). Lông đuôi và cánh sơ cấp, có đầu mút trắng. Cằm, họng, hai bên cổ, trước cổ và hai bên ngực trắng hơi phớt hung. Mắt nâu nhạt. Mỏ nâu vàng nhạt ở chim đực và nâu ở chim cái. Mũ sừng nhỏ. Chân xám nhạt.
Sinh học:
Các nghiên cứu ở Thái Lan (Poonswad và những người khác, 1989) cho thấy mùa sinh sản của niệc hung từ cuối tháng 2 hay đầu tháng 3 đến tháng 5, kéo dài khoảng 83 - 92 ngày. Tổ làm trong các hốc cây to ở rừng. Đẻ 3 - 4 trứng (thường là 3). Khi chim cái bắt đầu ấp miệng tổ được trát kín cho đến khi chim non rời tổ. Chim đực mớm thức ăn cho chim cái và chim con. Thành phần thức ăn gồm thực vật (60 loâi quả khác nhau), và động vật (gồm có côn trùng, chân khớp, chim, bò sát, ếch nhái, và một số loài khác). Các mẫu vật thu ở hồ Ba Bể (Cao Bằng) vào tháng 8 đang thay lông.
Nơi sống và sinh thái:
Niệc hung sống ở trong các loại rừng khác nhau, nơi có nhiều cây gỗ lớn và dây leo ở độ cao khác nhau khoảng 100 - 1500m. Kiếm ăn theo đàn ngoài mùa sinh sản với số lượng cá thể khác nhau tuỳ độ phong phú của thức ăn. Vùng hoạt động trong mùa sinh sản 3, 2km2 (Poionswad và những người khác, 1989) ở rừng Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế) và Kỳ Anh, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) thường gặp đàn 6 - 15 con.
Phân bố:
Việt Nam: Bắc bộ và Trung bộ (biên giới phía nam có thể đến đèo Hải Vân). Đã gặp ở Cao Bằng (hồ Ba Bể), Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Ninh Bình (Cúc Phương), Nghệ An (Phú Qùy), Hà Tĩnh (Kỳ Anh, Cẩm Xuyên) và Thừa Thiên - Huế (Bạch Mã).
Thế giới: Nam Trung Quốc, Thái Lan, Lào.
Giá trị: Nguồn gen quý. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.
Tình trạng:
Tuy có vùng phân bố khá rộng ở nước ta, nhưng vùng sống đã bị thu hẹp và số lượng bị giảm sút do mất rừng và bị săn bắt. Mức độ đe dọa: bậc T.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cần nghiêm cấm việc săn bắt, bảo vệ tốt các chủng quần còn lại, trước hết là ở các khu rừng cấm. Chú ý giáo dục nhân dân bảo vệ các loài chim đẹp và quý này cùng với việc bảo vệ rừng.
[COLOR="Red"][SIZE="4"]Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam trang 165.[/SIZE][/COLOR]
[IMG]
[/IMG]
[IMG]
[/IMG]
[IMG]
[/IMG]
[COLOR="Blue"][SIZE="5"]Distribution: NE India and S China to W, N & E Myanmar, N & C Thailand, Laos, W Cambodia and NW Vietnam.[/SIZE][/COLOR]
[COLOR="Blue"][SIZE="5"]Niệc mỏ vằn Aceros undulatus--Wreathed Hornbill (Rhyticeros undulatus)
[/SIZE][/COLOR]
Chim trưởng thành đuôi màu trắng. Da ở họng vàng cam tươi có vằn ngang đen ở chim đực và xanh thẫm ở chim cái. Mũ trên mỏ và gốc mỏ có gờ lượn sóng, mỏ trắng ngà, gốc mỏ có màu đỏ ở chim đực. Đỉnh đầu có mào nâu tím thẫm ở chim đực và đen ở chim cái. Hai bên đầu và cổ trắng. Phần còn lại của bộ lông màu đen. Chim đực có mắt vàng cam hay đỏ, da quanh mắt hồng hay vàng đỏ, có vằn ngang xanh hay lục. Chim cái mắt nâu vàng, da quanh mắt hồng thẫm. Chân đen. Chim non không có nếp gấp ở mỏ, mỏ nhỏ hơn.
Sinh học:
Tại vùng đông bắc Thái Lan mùa sinh sản vào tháng 2 - 5, kéo dài 120 ngày. Thời gian ấp 40 - 45 ngày và thường thấy 1 con. Thức ăn chủ yếu là quả cây, thức ăn động vật chỉ chiếm khoảng 5%.
Nơi sống và sinh thái:
Sống định cư ở rừng thường xanh trong các vùng đồi núi, thung lũng có độ cao từ 100 - 1500m và rừng ngập mặn ở Thái Lan thường kiếm ăn và làm tổ ở tầng cây cao 20 - 28m, vùng hoạt động trong mùa sinh sản rộng 12km2. Ngoài mùa sinh sản vùng kiếm ăn có bán kính 10 km2, có thể gặp đàn đến 100 con ở vườn quốc gia Nam Cát Tiên vào cuối tháng 12, đầu tháng 1 gặp đàn nhỏ 1 - 2 con.
Phân bố:
Việt Nam: Tây Bắc, Trung bộ và Nam bộ. Đã gặp ở Lào Cai, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Lâm Đồng, Đồng Nai.
Thế giới: Mianma, Thái Lan, Đông Dương, Malaixia.
Giá trị: Nguồn gen quý. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.
Tình trạng:
Vùng sống bị tác động và bị thu hẹp như đối với một số loài khác. Bị săn bắt. Mức độ đe dọa: bậc T.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Nghiên cấm việc săn bắt. Bảo vệ tốt các vùng còn lại, trước hết là quản lý tốt các quần thể đã gặp ở vườn quốc gia Nam Cát Tiên (Đồng Nai).
[COLOR="Red"][SIZE="4"]Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam trang 162.[/SIZE][/COLOR]
[IMG]
[/IMG]
Wreathed Hornbill (Rhyticeros undulatus)-An adult male
[IMG]
[/IMG]
Wreathed Hornbill (Rhyticeros undulatus)-A male showing its yellow inflatable throat with the characteristic blue-black band
[IMG]
[/IMG]
An adult
[IMG]
[/IMG]
Distribution: S Bhutan and NE India E to Vietnam (N Annam), and S to Sumatra, Borneo, Java and Bali, including several intervening offshore islands.
[SIZE="5"]Cao cát đen Anthracoceros malayanus[/SIZE]
[IMG]
[/IMG]Female bird on the left with the all black bill and Male bird on the right with the white bill Sukau, Sabah (Malaysia), Borneo
[IMG]
[/IMG]Black Hornbill (Anthracoceros malayanus) --A male. Jurong Bird Park, Singapore (Monotypic species)
[IMG]
[/IMG]Black Hornbill (Anthracoceros malayanus) --Distribution: S Thailand (S from Trang), Peninsular Malaysia, Lingga Archipelago (Singkep), Sumatra, including Bangka I and Belitung I, and Borneo.
[COLOR="Blue"][SIZE="5"]NIỆC NÂU --Austen's Brown Hornbill (Anorrhinus austeni)[/SIZE][/COLOR]
Chim trưởng thành có kích thước nhỏ hơn so với các loài khác cùng họ. Bộ lông nhìn chung có màu nâu đến hung nâu (phía trên cơ thể nâu xám tối phía trước màu hung). Lông đuôi và cánh sơ cấp, có đầu mút trắng. Cằm, họng, hai bên cổ, trước cổ và hai bên ngực trắng hơi phớt hung. Mắt nâu nhạt. Mỏ nâu vàng nhạt ở chim đực và nâu ở chim cái. Mũ sừng nhỏ. Chân xám nhạt.
Sinh học:
Các nghiên cứu ở Thái Lan (Poonswad và những người khác, 1989) cho thấy mùa sinh sản của niệc hung từ cuối tháng 2 hay đầu tháng 3 đến tháng 5, kéo dài khoảng 83 - 92 ngày. Tổ làm trong các hốc cây to ở rừng. Đẻ 3 - 4 trứng (thường là 3). Khi chim cái bắt đầu ấp miệng tổ được trát kín cho đến khi chim non rời tổ. Chim đực mớm thức ăn cho chim cái và chim con. Thành phần thức ăn gồm thực vật (60 loâi quả khác nhau), và động vật (gồm có côn trùng, chân khớp, chim, bò sát, ếch nhái, và một số loài khác). Các mẫu vật thu ở hồ Ba Bể (Cao Bằng) vào tháng 8 đang thay lông.
Nơi sống và sinh thái:
Niệc hung sống ở trong các loại rừng khác nhau, nơi có nhiều cây gỗ lớn và dây leo ở độ cao khác nhau khoảng 100 - 1500m. Kiếm ăn theo đàn ngoài mùa sinh sản với số lượng cá thể khác nhau tuỳ độ phong phú của thức ăn. Vùng hoạt động trong mùa sinh sản 3, 2km2 (Poionswad và những người khác, 1989) ở rừng Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế) và Kỳ Anh, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) thường gặp đàn 6 - 15 con.
Phân bố:
Việt Nam: Bắc bộ và Trung bộ (biên giới phía nam có thể đến đèo Hải Vân). Đã gặp ở Cao Bằng (hồ Ba Bể), Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Ninh Bình (Cúc Phương), Nghệ An (Phú Qùy), Hà Tĩnh (Kỳ Anh, Cẩm Xuyên) và Thừa Thiên - Huế (Bạch Mã).
Thế giới: Nam Trung Quốc, Thái Lan, Lào.
Giá trị: Nguồn gen quý. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.
Tình trạng:
Tuy có vùng phân bố khá rộng ở nước ta, nhưng vùng sống đã bị thu hẹp và số lượng bị giảm sút do mất rừng và bị săn bắt. Mức độ đe dọa: bậc T.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cần nghiêm cấm việc săn bắt, bảo vệ tốt các chủng quần còn lại, trước hết là ở các khu rừng cấm. Chú ý giáo dục nhân dân bảo vệ các loài chim đẹp và quý này cùng với việc bảo vệ rừng.
[COLOR="Red"][SIZE="4"]Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam trang 165.[/SIZE][/COLOR]
[IMG]
[/IMG][IMG]
[/IMG][IMG]
[/IMG][COLOR="Blue"][SIZE="5"]Distribution: NE India and S China to W, N & E Myanmar, N & C Thailand, Laos, W Cambodia and NW Vietnam.[/SIZE][/COLOR]
[COLOR="Blue"][SIZE="5"]Niệc mỏ vằn Aceros undulatus--Wreathed Hornbill (Rhyticeros undulatus)
[/SIZE][/COLOR]
Chim trưởng thành đuôi màu trắng. Da ở họng vàng cam tươi có vằn ngang đen ở chim đực và xanh thẫm ở chim cái. Mũ trên mỏ và gốc mỏ có gờ lượn sóng, mỏ trắng ngà, gốc mỏ có màu đỏ ở chim đực. Đỉnh đầu có mào nâu tím thẫm ở chim đực và đen ở chim cái. Hai bên đầu và cổ trắng. Phần còn lại của bộ lông màu đen. Chim đực có mắt vàng cam hay đỏ, da quanh mắt hồng hay vàng đỏ, có vằn ngang xanh hay lục. Chim cái mắt nâu vàng, da quanh mắt hồng thẫm. Chân đen. Chim non không có nếp gấp ở mỏ, mỏ nhỏ hơn.
Sinh học:
Tại vùng đông bắc Thái Lan mùa sinh sản vào tháng 2 - 5, kéo dài 120 ngày. Thời gian ấp 40 - 45 ngày và thường thấy 1 con. Thức ăn chủ yếu là quả cây, thức ăn động vật chỉ chiếm khoảng 5%.
Nơi sống và sinh thái:
Sống định cư ở rừng thường xanh trong các vùng đồi núi, thung lũng có độ cao từ 100 - 1500m và rừng ngập mặn ở Thái Lan thường kiếm ăn và làm tổ ở tầng cây cao 20 - 28m, vùng hoạt động trong mùa sinh sản rộng 12km2. Ngoài mùa sinh sản vùng kiếm ăn có bán kính 10 km2, có thể gặp đàn đến 100 con ở vườn quốc gia Nam Cát Tiên vào cuối tháng 12, đầu tháng 1 gặp đàn nhỏ 1 - 2 con.
Phân bố:
Việt Nam: Tây Bắc, Trung bộ và Nam bộ. Đã gặp ở Lào Cai, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Lâm Đồng, Đồng Nai.
Thế giới: Mianma, Thái Lan, Đông Dương, Malaixia.
Giá trị: Nguồn gen quý. Có giá trị khoa học và thẩm mỹ.
Tình trạng:
Vùng sống bị tác động và bị thu hẹp như đối với một số loài khác. Bị săn bắt. Mức độ đe dọa: bậc T.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Nghiên cấm việc săn bắt. Bảo vệ tốt các vùng còn lại, trước hết là quản lý tốt các quần thể đã gặp ở vườn quốc gia Nam Cát Tiên (Đồng Nai).
[COLOR="Red"][SIZE="4"]Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam trang 162.[/SIZE][/COLOR]
[IMG]
[/IMG]Wreathed Hornbill (Rhyticeros undulatus)-An adult male
[IMG]
[/IMG]Wreathed Hornbill (Rhyticeros undulatus)-A male showing its yellow inflatable throat with the characteristic blue-black band
[IMG]
[/IMG]An adult
[IMG]
[/IMG]Distribution: S Bhutan and NE India E to Vietnam (N Annam), and S to Sumatra, Borneo, Java and Bali, including several intervening offshore islands.

